Chi tiết gia đình

Là con của: NGUYỄN PHÚC ĐẢM - Vua MINH MẠNG

Đời thứ: 13

Người trong gia đình

Tên
HOÀNG THỊ NHẠN (Nữ)

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

Vương dâng biểu bái tạ, trong đó có viết: “Từ lâu đội ơn vua chiếu cố gây dựng cho. Nhưng đức kém tài chẳng đủ. Tuy suy nghĩ thật nhiều để giúp nước, nhưng cũng chỉ tuổi già vô dụng, mà được tiếng khen như Cơ Đán, e rằng để tiếng cười cho hậu thế. Vì vậy tuổi đến bảy mươi mà cảm thấy thẹn được ân sủng ban thưởng, Kính đọc Ngự chương (39) đã sang tỏ lời dạy bảo” . Đế ngợi khen.

 

            Mùa thu năm Tự Đức thứ 33, con kế tập của Vương là Quận công Hồng Cật qua đời. Vương buồn thành bệnh, dâng sớ xin thôi việc ở Tôn Nhơn Phủ. Đế bảo: “Việc tại phủ chẳng bận rộn gì nhiều. Vương lớn tuổi, thành thạo công việc điều khiển thì lấy gì làm khó mà từ chối. Nên giữ gìn mà hưởng tuổi trời. Con cái đông thì chọn đứa khác kế tập thì cũng là thường tình như mọi người, chớ thương tâm mà thành bệnh. Nên nghĩ  chuyện trọn đời giúp nước”.

 

NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI

 

            Mùa hạ năm Tự Đức 36, Dực Tông Hoàng Đế mất. di chiếu cho Cung Tông Huệ Hoàng Đế nối ngôi khiến Vương và Tuy Ly Quận Vương là hai người thân mà tuổi và đức hạnh hơn người, phàm thấy điều gì sai trái thì nên sửa cho đúng, để làm tốt.

 

            Mùa thu năm ấy, di chiếu tôn Trung Phi (là Lệ Thiên Hoàng Hậu) làm Hoàng Thái Hậu. Lúc đó quyền thần lập Lãng Quốc Công nối ngôi. Quần thần bàn bạc, lấy làm khó trong việc tôn xưng. Vương bèn xin theo lệ Hoàng Hậu đời nhà Tống (40). Vương liền họp Tôn Nhơn Phủ cùng đình thần dâng sớ, dùng chữ hay lời đẹp, tôn Trung phi làm Khiêm Hoàng Hậu. Nhờ thế nước mới được yên, mùa đông năm ấy, gặp lễ Ninh Lăng (41), Vương sung đề chủ.

 

            Mùa hạ Hàm Nghi nguyên niên, kinh thành có biến xuất đế (42) rời kinh , nước không có chủ, phụng chỉ lưỡng cung (43) Vương nhiếp chính, coi việc nước. Vương thấy nhân tâm hơi định, tâu xin cho các Vương như: Tuy Ly, Hải Ninh, Hoằng Hóa, trước kia bị lỗi, đưa đi an trí ở các tỉnh, được trở về Kinh. . Mùa Thu năm ấy Cảnh Tông Thuần Hoàng Đức tức vị, Vương xin thôi nhiếp chính, nhưng vẫn giữ việc ở Tôn Nhơn Phủ. Đế thấy Vương phẩm trật quá cao, không thể phong tước thêm nên đặt biệt ban cho 200 lượng bạc để giúp việc sinh sống.

 

            Mùa đông Đồng Khánh nguyên niên (1885), Vương mất thọ 77 tuổi. Đế nghe rất thương tiếc, cho nghỉ triều 3 ngày, lệnh cho các Hoàng thân đem rượu đến cấp, ban cho tên thụy là Đoan Kháp. Vào ngày táng, Đế sai quan đến cúng, lại phụng mệnh lưỡng cung ban cho một đàn cúng. Vương an táng tại vùng mộ thuộc Dương Xuân (nay thuộc xã Thủy Xuân, thành phố Huế); nhà thờ ở Đông Trì (nay thuộc khu vực 3, phường Phú Cát, Huế), do nhà cũ sửa sang lại.

 

            Tác phẩm của Vương có “Minh Mạng Cung Từ” và “Tỉnh Minh Ái Phương phi tập”.

 

            Vương có 78 con trai, 66 con gái. Con trưởng là HỒng Tuấn, được ân phong Mộng Ấn Đinh Hầu. Con thứ 7 là Hồng Cát, tập phong Đình Hầu. Năm Tự Đức thứ 21, tập phong Thọ Xuân Huyện Công và năm Tự Đức thứ 31 tập phong Quận Công. Con thứ 20 là Hồng Triêm, ân phong Trợ Quốc Khanh. Con thứ 15 là Hồng Hàm, ân phong Phụng Quốc Công. Con thứ 31 Hồng Cấn, ân phong Trợ Quốc Uy. Đích tôn Ưng Hào tập phong Thọ Xuân Hương Công, rồi nhờ tước mà kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ, Hữu Tôn Khanh. Năm Thành Thái thứ 14 được cải thành Quang Lộc Tự Khanh.

 

KẾT LUẬN

 

            Vương tính có hiếu, ăn ở thuận với anh em, cung kính thận trọng, tuổi cao , đức lớn, triều đình trông cậy đã lâu, nắm trọng trách trong Công tộc. Hơn 50 năm đứng đắn dẫn dắt kẻ dưới, ôn hòa sửa trị mọi người, thiết lập điều lệ khen thưởng, chọn người hiền tài, hoàn thành được phần lớn Khánh Phả. Năm Ất Dậu, khi có biến khẩn cấp, Vương đã lấy vai trò Thân Vương Nhiếp Chính quyết đoán việc lớn, làm hết hiềm nghi, mọi việc đều trình tâu khiến lòng người có nơi nương tựa, chuyển nguy thành an. Nếu chẳng là người có Đức độ cao và lòng Trung than thì khó đạt được. Cho nên Vương được Phú quí, sống thọ nhiều con trai, các điều phúc đều đầy đủ, và từ trước đến nay trong các Vưong tước, chỉ có mình THỌ XUÂN VƯƠNG được như vậy.

 

LƯỢC GIẢI:

(1) Xuất các: ra ở riêng. TỪ xuất các được dung cho các Hoàng tử, Thái Tử hoặc các Quan ngày xưa

(2) Ứng chế: thể văn vua đề ra

(3) Cung từ: thơ văn ghi chép chuyện trong Cung cấm

(4) Từ chỉ: lờ chỉ dạy của Hoàng Hậu, hoặc Hoàng thái Hậu. Ở đây chỉ lời day bảo của Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu.

(5) Tinh Biểu: nhà riêng Vua cho lập đối với người trung hiếu, tiết nghĩa để bày tỏ ưu đãi đặt biệt.

(6) Lễ Linh Lăng: lễ an tang vua. Năm 1841 an tang vua Minh Mạng.

(7) Đề chủ: là người viết tên vào thần chủ trong lễ tế trước khi rước Thần chủ vào miếu.

98) Chu Tước: là tên chung của 7 vì sao ở phương nam thuộc Nhị thập bát tú CỬa Chu Tước là cửa hướng về Nam, tức cửa chính.

(9) Thăng phối: lễ rước Tá THiên Nhân Hoàng Hậu thờ chung với Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế tại Thế Miếu.

(10) Đại Nam Hội Điển: là bộ sách về luật lệ phép tắc nhà Vua qui định về xây dựng Cung điện, dinh phủ, đền đài…. (và đủ mọi vấn đề) . Đúng tên bộ sách là: Đại Nam Hội Điển Sử

(11) Tri thiên: Từ dùng để chỉ tuổi 50. Theo sách Luận ngữ: “ Ngũ Thập tri Thiên mệnh”, nghĩa là 50 tuổi biết mệnh trời.

(12) Cơ Đán: là Chu Công, con thứ của Văn Vương nhà Chu, em của Vũ Vương, có công xây dựng sự nghiệp nhà Chu.

(13) Đông Bình: tức Đông Bình Vương, em thứ 8 của Quang Vũ nhà Hán, có công sửa sang lễ nhạc, đã có câu nói “ Thiện Tối Lạc” Nghĩa là làm việc thiện là vui hơn  cả.

(14) Xích thối: là thước tất , nói chút ít,

(15) Thù ân: ân đặt biệt.

(16) Nhiếp hiến: công việc dâng cúng.

(17) Nhuyễn dư: là loại xe, lấy cỏ bọc bánh xe đi cho êm.

(18) Nhĩ thuận: chỉ tuổi 60, Theo sách Luận ngữ: Lục thập nhị Nhĩ thậun” nghĩa là tuổi 60 nghe gì là hiểu ngay.

(19) Tiên phi: là Đức phi, mẹ ngài Thọ Xuân Vương.

(20) Văn Vương là em của Vũ Vương, Chú của Thành Vương, so sánh với Thọ Xuân Vương là con của Thánh Tổ, em của Hiến Tổ và chú của Dực Tông.

(21) Trong kinh thi còn kém: y nói con của Văn Vương là 100 người.

(22) Lương hiếu: tứ Lương Hiếu Vương con của Hán Văn Đế, có lập diện Hoa Cung để chiêu tập hào kiệt bốn phương.

(23) Trung sơn, tức Trung Sơn Tĩnh Vương, con thứ 7 của Hiếu Cảnh nhà Hán.

(24) An Bình, tức An Bình Công, đời Chiến quốc, tên là Điền Hán, có công đánh đuổi quân Yên, khôi phục lại nước Tề.

(25) TÙng Tuy, tức Tùng THiện Vương Miên Thẩm và Tuy Ly Vương Miên Trinh rất giỏi văn thơ.

(26) Ninh Thuận: (Quận Vương) là con thứ 4 của Thánh Tổ, em của Thọ Xuân Vương.

(27) Đinh Viễn (Quận Vương) là con thứ 6 của Thế Tổ

(28) Thần Châu tam đảo: đết Trung Hoa có 3 đảo có tiên là: Bồng Lai , Phương Trượng  và Doanh Châu.

(29) Đông Trì thuộc phường Phú Cát, Huế ngày nay trên bờ song Hương, gần bến đò Cồn.

(30) Lưong Đình: đìnmh hóng gió mát, Úc quán: quán tránh gió lạnh.

(31) Lậu là đồng hồ nước thời xưa.

(32) Song tinh là 2 ngôi sao Khiêu Ngưu và Chức Nữ trong Nhị thập bát tú.

(33) Đạo Uẩn: tức Tạ Đạo Uẩn đời Tống học rộn giỏi thơ. Trần Tư là Tào THực, con của Tào Tháo, đời Tam Quốc, được phong Trần Tự Vương, có tài đi bảy bước làm xong một bài thơ.

(34) Ung môn, tức Ung Môn Chu, người nước Tề đờ Chiến Quốc, ở Ung MÔn, lấy Ung Môn làm hiệu, giỏi đàn, đã đàn làm cho Mạnh Thường Quân khóc.

(35) Tử kinh: một loài cây có hoa thường trồng trước sân. Anh em họ Đê chia gia tài, định chặt cây Tử kinh mà chia, cây khô héo mà chết.

(36) Vườn thỏ ao nhạn dịch chữ “Thố viên nhạn trì” trong cung điện vĩ đại của Lương Hiếu Vương.

(37) Cố Đổ Hầu, người nước Tấn, giỏi về họa, nổi danh ba tuyệt: tài tuyệt, họa tuyệt và sĩ tuyệt. Ma Cật tứ Vương DUy đời Đường, tiến sĩ, làm quan đến th7ợng Thư giỏi thơ và hoạ.

(38) Cửu lão: 9 cụ lão vẽ chung vào một hình “Cửu Lão Đồ” gồm có: Bạch Cư Dị đời Dường. Cùng với Hồ Cảo, Cát Vân, Trịnh Cứ, Lưu Chân,Lư Chân, Lư Tring, Trương Hồn và Địch Kim Nộ là những người sống lâu nhất thời ây.

(39) Ngự chương: là văn của nhà vua viết.

(40) Lúc này Tôn Thất Thuyết nắm quyền, đưa Lãng Quốc Công Hồng Dật lên ngôi (Vua Hiệp Hòa). Hiệp Hòa là em Tự Đức, gọi Lệ Thiên Anh Hoàng Anh Hoàng hậu là chị dâu. Nếu tôn Thái Hậu sẽ khó xưng hô. Vương lấy trường hợp đời nhà Tống, khi Thái Tổ mất, em là Triệu Quang Nghĩa nối ngôi không thể tôn chị dâu làm Thái Hậu. Do đó chỉ tôn Trung phi Lê Thiên Anh Hoàng Hậu làm Hoàng hậu.

(41) Lưỡng Cung, tức hai bà Nghi Thiên Chung Hoàng hậu và Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (vợ Vua Thiệu Trị và vợ Vua Tự Đức).

 

           

 

Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình

Các anh em, dâu rể

Con cái