Chi tiết gia đình
Là con của: NGUYỄN PHÚC ĐẢM - Vua MINH MẠNG
Đời thứ: 13
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
| DI ANH DUC TUNG THIEN VUONG | |||||||||
| |||||||||
TIỂU SỬ TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẪM Ông có tên tự là Trọng Uyên và Thận Minh, hiệu Thương Sơn và Bạch Hào Tử , ban đầu có tên là Hiển, và sau ban Kim sách ngự chế về Ðế hệ thi nên đổi tên là Miên Thẫm . Ông là con thứ 10 của Ðức Thánh Tổ , mẹ là Thục Tần Nguyển Thị Bảo . Ông sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mảo (11-12-1819) .Lúc mới sinh ra có tướng lạ . Ðức Thế Tổ được tin rất mừng ban cho 10 lạng vàng . Thuỏ nhỏ Ông hay khóc và nhiều bệnh , Thục Tần ngày đêm lo chăm sóc nhưng không được như ý. Chưa đầy năm, càng khóc dử, mắt tối lại mà có đường máu . Thục Tần quá lo,tìm mọi cách chửa trị nhưng vô hiệu .Ðột nhiên có vị đao sĩ tên Vân đến xin gặp và bảo : "Ðây là tinh khí của Thái Bạch Kim Tinh giáng xuống,cũng tốt lành ." Quả nhiên đúng như lời nói đó . Năm 4 tuổi ông đỉnh ngộ lạ thường , theo học nữ sư ở trong cung . Lúc 7 tuổi được theo học ở Dưởng Chính Ðường . Ông thường chịu khó học tập , không ham chơi , một lần học thuộc lòng hơn cả trăm trang sách . Một hôm vào hầu Thục Tần thấy trên bàn có chiếc quạt ,trên đó có bài Ngủ Tuyệt đời nhà Ðường trong đó có nhiều chử Ông không hiểu được . Hôm sau Ông hỏi người giảng tập đó là thơ gì . Người nầy theo sự hiểu biết của mình mà giảng giải,rồi Ông hỏi nghĩa, lại xin dạy cho luật bằng trắc . Có thể thấy Ông thích hợp với thơ sớm như vậy . Năm Ðinh Hợi,(1827), Ông được 9 tuổi đi theo Vua trong lề tế Nam Giao, có làm bài Nam Giao thi . Sách gì Ông học cũng tường tận , hơi lớn đã học sữ và thư, lại thích phong cãnh núi sông, thích giao du với các văn sĩ nên kiến văn càng ngày càng rộng rãi và có thi tập từ đó . Lúc 16 tuổi Ông theo vua lên Ðàn Nam Giao có làm bài "Trai cung tùng thụ" (Thông ở trai Cung), rồi lại được theo Vua lên Ngự Bình để ứng chế thi phú, trong thơ có nhiều câu được mọi người tán thưởng . Năm Kỹ Hợi Ông được phong là Tùng Quốc Công, cho lập Phủ ở Phường Liêm Năng, gần Tĩnh Phổ của Tuy Quốc Công, tức là Tuy Lý Vương .Thường ngày hai Ông cùng nhau xướng họa thi văn . Năm Kỹ Dậu (1849), Ông thấy Mẹ tuổi già, nên xin xây riêng Tiểu Viện, rước Mẹ về phụng dưỡng . Năm Tân Hợi (1851), gặp lễ tế Nam Giao, Ông theo Vua đến Trai Cung .Lễ triều xong, Vua cho Ông ngồi, sai họa 8 bài xuân du (Ði chơi xuân) và một bài Hoa Thũy Tiên. Chiều đến phụng mệnh Vua phê bình các bài thơ "Vịnh thông" của các hoàng đệ .Ðến đêm Vua lại cho vào chầu, để hỏi về 2 cuốn thơ "Ngư Dương" và "Quy Ngu" hay dở ra sao . Ông cứ theo sở kiến của mình mà tâu lên .Vua bằng lòng và ban thưởng cho chiếc Ngự y . Tháng 8 năm đó Mẹ Ông mất . Nguyên trước kia Mẹ Ông được phong Thục Tần ,nhưng vì làm việc trái lẽ, nên bị tội thu lại sắc phong .Ðến lúc nầy, Ông dâng sớ cầu khẩn xin lại sắc phong, lời lẽ rất thống thiết . Vua Dục Tông động lòng đặc ân cấp lại . Ông lại dựng lều tranh cạnh mộ Mẹ, đau xót tiều tụy,lo lắng trọn lễ . Năm Giáp Dần (1854), Ông được phong là Tùng Thiện Công. Ông lại tâu xin mua 12 mẩu tư điền ở xã Dương Xuân, cất nhà ở, gọi là Phương Thôn Thảo Ðường, đào mương dẫn nước, tạo thành ao, gọi là Hoàng Tử Pha, trên ao có giường tre,là nơi uống rượu ngâm vịnh , và cũng là nơi đọc sách . Năm Mậu Thìn (1868), lúc Ông mừng thọ 50 tuổi , vua ban cho vàng bạc, gấm lụa rượu trà, văn phòng tứ phẫm và làm bài thơ "Hoài Công" (Nhớ đến công), ban cho, khiến họa lại . Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (10-04-1870) thọ 52 tuổi được ban thụy là Văn Nhã .Vua rất thương xót, tự làm bài văn tế, sai Tuy Lý Vương dâng cúng.Tẫm của Ông tại Dương Xuân (Hương Thũy, Thừa Thiên) . Nhà thờ ở Phường Vĩnh Ninh (Thừa Thiên) . Năm Mậu Dần (1878) Ông được truy tặng Tùng Thiện Quận Vương . Năm Giáp Tý (1924) Ông được truy tặng Tùng Thiện Vương . Ông là người thông minh,học rộng, được triều đình chiếu cố .Khi Ông bị bệnh,Vua cho ngự y chữa trị, ban sâm quế cùng thuốc quý, thường cho người đến thăm hỏi .Ông gắn gượng dâng biểu lên Vua, trong biểu có câu : "Sống chết đều do mệnh, chỉ có một điều hận là không được thấy nước nhà như xưa . Trộm nghĩ xây dựng cơ nghiệp là chuyện khó , nhưng gìn giử chẳng phải dễ .Tài lực là điều trọng , muốn an vui cần phòng bị , việc trị nước thì trên dưới phải một lòng, đó là điều phúc cho Tông Miếu , điều may cho thiên hạ " Ðến khi bệnh quá nặng, Ông dặn dò con cháu nên cần kiệm trong tang lễ và cúng tế ,xong lấy tay vạch bài tuyệt cú . ""Bán sinh học đạo thái hồ đồ, Thoát tỉ như kim nãi thực đồ, Tiến sáng đinh ba Thiên Mụ nguyệt, Thúy Hương lâm ánh hửu nhân vô ."" (Học đạo nữa đời thật viễn vông, Thoát tĩ nẻo đường mới được thông, Sóng chốn sáng đình trăng Thiên Mụ , Hương Giang bóng mát biết hay không .) Văn Ông lời lẽ trang nhã khuôn phép,rất xuất sắc về thơ . Vua Dực Tông từng sai Ông soạn tập "Liệt Ðại Thi Tuyển Duyệt Bình" (Ðọc và bình thơ tuyển chọn ở các đời) . Lào Sùng Quang, khâm sứ triều Thanh là Tiến sĩ đệ nhị giáp,khi đến kinh đô làm lễ tuyên phong vào đầu đời Vua Tự Ðức đã cùng Ông xướng họa Thi văn .Ông đem thơ đã làm cho Quang đọc và rất được ngợi khen . Trong bài Thương Sơn Thi Tập, Quang có viết : "Thương Sơn có lẽ trời sinh ra để cậy làm khuôn phép, há chẳng phải nước Nam lấy đó làm đích cho thi nhân noi theo sao ". Ông có 20 con trai và 12 con gái .Con thứ 8 của Ông là Nguyển Phúc Hồng Tích được tập phong Huyện hầu . (Trích "Nguyển Phước Tộc Thế phã" do Nhà Xuất Bản Thuận Hóa Huế 1995.) Xin vui lòng xem chi tiết tại: http://members.tripod.com/tungthienvuong_mtham/index.html
Các anh em, dâu rể
- NGUYỄN PHƯỚC MIÊN TÔNG VUA THIỆU TRỊ (Nam)
- MIÊN CHÁNH (Nam)
- MIÊN ĐỊNH - THỌ XUÂN VƯƠNG (Nam)
- MIÊN CHI Ninh Thuân Quận Vương (Nam)
- MIEN HOÀNG Vĩnh Tường Quận Vương (Nam)
- MIÊN ẢO Phú Bình Công (Nam)
- MIÊN THẦN Nghi Hòa Quận Công (Nam)
- MIÊN PHÚ Phú Mỹ Quận Công (Nam)
- MIÊN THỦ Hàm Thuận Quận Công (Nam)
- MIÊN TRINH Tuy Lý Vương (Nam)
- MIÊN BỬU Tường An Vương (Nam)
- MIÊN TRÙ Tuân Quốc Công (Nam)
- NGUYỄN PHƯỚC MIÊN KHAN (Nam)
- MIÊN VŨ Lạc Hòa Quận Công (Nam)
- MIÊN TÒNG Hà Thành Quận Công (Nam)
- NGUYỄN PHƯỚC MIÊN THÀNH (Nam)
- MIÊN TỀ Tư Nghĩa Quốc Công (Nam)
- MIÊN TỊCH Trấn Nam Quận Công (Nam)
- MIÊN CHI Ninh Thuận Quận Vương (Nam)
- MIÊN LUNG Sơn Định Quận Công (Nam)
- MIÊN PHONG Tân Bình Quận Công (Nam)
- MIÊN TRẠCH (Nam)
- MIÊN BIÊN Quí Châu Quận Công (Nam)
- MIÊN BỈ Quảng Ninh Quận Công (Nam)
- MIÊN LƯƠNG Sơn Tịnh Quận Công (Nam)
- MIÊN GIA Quảng Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN KHOAN Lạc Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN THẦN (Nam)
- MIÊN TÚC Ba Xuyên Quận Công (Nam)
- MIÊN QUANG Kiến Tường Công (Nam)
- MIÊN TUẤN Hòa Thanh Vương (Nam)
- MIÊN QUÂN Hòa Quốc Công (Nam)
- MIÊN HIỆP Tuy An Quận Công (Nam)
- MIÊN TĂNG Hải Quốc Công (Nam)
- MIÊN TỊNH (Nam)
- MIÊN MỄ Tây Ninh Quận Công (Nam)
- MIÊN TRÌ Trấn Tịnh Quận Công (Nam)
- MIÊN CƯ Quảng Trạch Quận Công (Nam)
- MIÊN NGÔN An Quận Công (Nam)
- MIÊN TẤT Trịnh Gia Công (Nam)
- MIÊN THẠNH Trấn Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN TĨNH Điền Quận Công (Nam)
- MIÊN SỮNG Tuy Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN NGÔ Quế Sơn Quận Công (Nam)
- MIÊN KIỀN Phong Quốc Công (Nam)
- MIÊN NIẾT Trấn Định Quận Công (Nam)
- MIÊN LÂM Hoài Đức Quận Công (Nam)
- MIÊN THỦY Duy Xuyên Quận Công (Nam)
- MIÊN MIỄN Cẩm Giang Quận Công (Nam)
- MIÊN LUYỄN Quản Hóa Quận Công (Nam)
- MIÊN ÔN Nam Sách Quận Công (Nam)
- MIÊN TÍN (Nam)
- MIÊN KHẾ (Nam)
- MIÊN NGU (Nam)
- MIÊN TỠ Trần Quận Công (Nam)
- MIÊN TRIỆU Hoằng Hóa Quận Vương (Nam)
- MIÊN CHI (Nam)
- MIÊN DU Tân An Quận Công (Nam)
- MIÊN KHÁCH Bảo An Quận Công (Nam)
- MIÊN ĐỖ Hậu Lộc Quận Công (Nam)
- MIÊN ĐIỀN Kiến Hòa Quận Công (Nam)
- MIÊN HOAN Kiến Phong Quận Công (Nam)
- MIÊN TRÍ Vĩnh Lộc Quận Công (Nam)
- MIÊN THÂN Phù Cát Quận Công (Nam)
- MIÊN KÝ Cẩm Xuyên Quận Công (Nam)
- MIÊN BẰNG An Xuyên Vương (Nam)
- MIÊN SÁCH (Nam)
- MIÊN LỊCH An Thành Vương (Nam)
Con cái
- HỒNG NHỊ
- HỒNG PHÌ
- HỒNG CƠ
- HƯỜNG QUAN
- HƯỜNG TIẾU
- HƯỜNG NĂNG
- HƯỜNG TÍCH
- HƯỜNG KIÊN
- HƯỜNG CHUÂN
- HƯỜNG THÀNH
- HƯỜNG KHẲNG
- HƯỜNG NGẬT
- HƯỜNG VỊ
- HƯỜNG DẪN
- HƯỜNG BẢO
- HƯỜNG CAO
- HƯỜNG TỶ
- TÔN NỮ THỂ CÚC
- TN THỨC HUẤN
- TN THỂ TẢO
- TN GIẠ THỨC
- TN CHẤP KHÔN
- TÔN NỮ KHIÊM UYÊN
- TN NHỤY KHUYÊN
- TN NHĨ TY
- TN NHĨ KIÊN
- TN HỮU QUÂN
- TÔN NỮ NHỊ NHẪN

