Chi tiết gia đình
Là con của: NGUYỄN PHÚC ĐẢM - Vua MINH MẠNG
Đời thứ: 13
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
Chùa Diệu Ðế
ước chùa Diệu Ðế là nơi có nhiều tượng Phật nhất, do lúc Kinh đô thất thủ (1885) Chùa Giác hoàng- phủ của vua Minh Mạng lúc tiềm đế- bị lính Pháp chiếm đóng, nên các tượng Phật và đồ thờ đều được hình thỉnh ra chùa Diệu Ðế. Trong chùa thời kỳ đó, có một cái tháp Thiên Mụ bằng ngà lộng gương nhưng nay không còn nữa
Chùa Diệu Ðế ở ấp Xuân Lộc cũ, nay thuộc địa phận phường Phú Cát. Chùa được tạo lập giữa một khoảng đất rộng hình chữ nhật diện tích khoảng 5000m2. Khuôn viên chùa nằm gọn giữa 4 con đường. Phía trước là đường Bạch Ðằng chạy dọc theo hai nhánh sông Hương; phía sau là đường Tô Hiến Thành, gần chùa Diệu Hỉ do Hoằng Hóa Quận Vương- con thứ 66 của vua Minh Mạng-lập ra bên trái là đường mang tên chùa (đường Diệu Ðế), bên phải là đường Chùa Ông.
Vùng này là nơi vua Thiệu Trị ra đời năm 1807 và cũng là tiền để của vua, cho nên vừa mới lên ngôi được vài năm, nhà vua đã truyền xây dựng chùa Diệu Ðế với quy mô lớn vào khoảng những năm 1842-1844.
Bấy giờ có Thông quan Thị Vệ Ðại Thần Vũ Văn Giải dâng sớ tâu rằng:" Chỗ ở của Phúc Quốc Công ngày trước ngoài mặt đông Kinh thành là nơi phát tướng quý địa, xin dựng một ngôi chùa để cầu phúc cho dân". Vua giao cho bộ Lễ bộ Công xét dấu. Hai bộ ấy tâu xin lập một ngôi chùa kèm đồ án thiết kế. Vua chuẩn tâu và giáng chỉ đặt tên là chùa Diệu Ðế, đồng thời còn ghi rõ danh xưng riêng cho các điện, đường, gác, trong phạm vi chùa.
Kiến trúc ban đầu của chùa gồm: ở giữa là chính điện Ðại Giác, án trên thờ Tam thế, án dưới thờ thần vị của vua Thiệu Trị, hai án hai bên thờ Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát...Tả hữu chính điện là Thiền đường- bên tả Cát Tường từ thất, bên hữu Trí Tuệ tịnh xá. Phía trước điện dựng gác Ðạo Nguyên hai tầng, ba gian. Lùi về phía sau gác Ðạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên và chính giữa là lầu Hộ Pháp. Sân trong có la thành, sân trước có hai nhà lục giác, nhà bên tả đặt Hồng Chung, nhà bên hữu dựng bia lớn khắc bài văn do vua Thiệu Trị soạn cùng một số chi tiết về các thành phần kiến trúc chùa. Sau chính điện, có hai nhà Tăng, mỗi nhà ba gian. Hệ thống la thành ngoài cao ráo, xây bằng gạch vồ, trước có Phượng Môn ba cửa, hai bên có cổng nhỏ, ngoài bờ sông có xây bến thuyền khoảng 10 cấp lên xuống.
Chùa Diệu Ðế không đẹp bằng chùa Thiên Mụ nhưng lại có vẻ độc đáo riêng. Chùa có bốn lầu (hai lầu chuông, một lầu trống và một lầu bia), nằm ở vị trí giữa cầu Ðông Ba và cầu Gia Hội. Người dân Huế xưa một thời rạo rực với những câu thơ:
Ðông Ba Gia Hội hai cầu
Có chùa Diệu Ðế bốn lầu hai chuôngHay
Ðông Ba Gia Hội hai cầu
Ngó qua Diệu Ðế trống lầu, gác chuôngNgày tr
Cuối năm 1
885, Nam triều lấy Cát Tường từ thất làm sở đúc tiền, Trí Tuệ tịnh xá làm phủ đường Thừa Thiên, một tăng phòng làm nhà lao của lính, và một tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiêm giám. Năm 1887 phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ năm 1910, triệt hạ gác đạo nguyên và thay vào hai nhà nhỏ thờ Kim Cang. Về sau, ngoài cổng La Thành xây thêm bốn trụ biểu.Thời
kỳ Phật tử tranh đấu, chùa Diệu Ðế là một địa điểm tập trung lực lượng, nên hai nhà thờ Kim Cang chuyển vào hai bên chính điện, bốn trụ biểu cũng triệt hạ, sân trong san phẳng bằng sân trước để mở rộng thêm diễn đàn.Năm 1
964, phía bên phải chùa được xây một dãy phòng học của trường tiểu học bồ đề do các nhà giáo và sinh viên Phật tử tổ chức vận động thành lập. Năm 1966, bên trái chùa cũng được dựng một ngôi trường khác- Trường Bồ đề Lâm Tỳ Ni- do các nữ tu chùa Diệu Viên lập ra, từ đó phong quang chùa càng đổi thay, tấp nập.Hiện nay, ch
ùa chỉ còn chính điện, hai bên chính điện đặt Bát bộ Kim Cang, phía sau có một nhà khách và một nhà bếp, sân trong có bốn bức tường nhỏ và nhà bia, nhà chuông, ngoài cùng là cổng tam quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ pháp.Diệu Ðế là n
gôi Quốc tự thứ ba ở Huế được vua Thiệu Trị liệt hạng một trong hai mươi thắng cảnh của đất Thần Kinh. Do sắc thái và cảnh quan đặc biệt, chùa sớm đi vào ca dao nên được rất nhiều người ở Huế như khắp mọi miền đất nước biết đến.(Theo Internet)Các anh em, dâu rể
- NGUYỄN PHƯỚC MIÊN TÔNG VUA THIỆU TRỊ (Nam)
- MIÊN CHÁNH (Nam)
- MIÊN ĐỊNH - THỌ XUÂN VƯƠNG (Nam)
- MIÊN CHI Ninh Thuân Quận Vương (Nam)
- MIEN HOÀNG Vĩnh Tường Quận Vương (Nam)
- MIÊN ẢO Phú Bình Công (Nam)
- MIÊN THẦN Nghi Hòa Quận Công (Nam)
- MIÊN PHÚ Phú Mỹ Quận Công (Nam)
- MIÊN THỦ Hàm Thuận Quận Công (Nam)
- MIÊN THẨM Tùng Thiện Vương (Nam)
- MIÊN TRINH Tuy Lý Vương (Nam)
- MIÊN BỬU Tường An Vương (Nam)
- MIÊN TRÙ Tuân Quốc Công (Nam)
- NGUYỄN PHƯỚC MIÊN KHAN (Nam)
- MIÊN VŨ Lạc Hòa Quận Công (Nam)
- MIÊN TÒNG Hà Thành Quận Công (Nam)
- NGUYỄN PHƯỚC MIÊN THÀNH (Nam)
- MIÊN TỀ Tư Nghĩa Quốc Công (Nam)
- MIÊN TỊCH Trấn Nam Quận Công (Nam)
- MIÊN CHI Ninh Thuận Quận Vương (Nam)
- MIÊN LUNG Sơn Định Quận Công (Nam)
- MIÊN PHONG Tân Bình Quận Công (Nam)
- MIÊN TRẠCH (Nam)
- MIÊN BIÊN Quí Châu Quận Công (Nam)
- MIÊN BỈ Quảng Ninh Quận Công (Nam)
- MIÊN LƯƠNG Sơn Tịnh Quận Công (Nam)
- MIÊN GIA Quảng Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN KHOAN Lạc Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN THẦN (Nam)
- MIÊN TÚC Ba Xuyên Quận Công (Nam)
- MIÊN QUANG Kiến Tường Công (Nam)
- MIÊN TUẤN Hòa Thanh Vương (Nam)
- MIÊN QUÂN Hòa Quốc Công (Nam)
- MIÊN HIỆP Tuy An Quận Công (Nam)
- MIÊN TĂNG Hải Quốc Công (Nam)
- MIÊN TỊNH (Nam)
- MIÊN MỄ Tây Ninh Quận Công (Nam)
- MIÊN TRÌ Trấn Tịnh Quận Công (Nam)
- MIÊN CƯ Quảng Trạch Quận Công (Nam)
- MIÊN NGÔN An Quận Công (Nam)
- MIÊN TẤT Trịnh Gia Công (Nam)
- MIÊN THẠNH Trấn Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN TĨNH Điền Quận Công (Nam)
- MIÊN SỮNG Tuy Biên Quận Công (Nam)
- MIÊN NGÔ Quế Sơn Quận Công (Nam)
- MIÊN KIỀN Phong Quốc Công (Nam)
- MIÊN NIẾT Trấn Định Quận Công (Nam)
- MIÊN LÂM Hoài Đức Quận Công (Nam)
- MIÊN THỦY Duy Xuyên Quận Công (Nam)
- MIÊN MIỄN Cẩm Giang Quận Công (Nam)
- MIÊN LUYỄN Quản Hóa Quận Công (Nam)
- MIÊN ÔN Nam Sách Quận Công (Nam)
- MIÊN TÍN (Nam)
- MIÊN KHẾ (Nam)
- MIÊN NGU (Nam)
- MIÊN TỠ Trần Quận Công (Nam)
- MIÊN CHI (Nam)
- MIÊN DU Tân An Quận Công (Nam)
- MIÊN KHÁCH Bảo An Quận Công (Nam)
- MIÊN ĐỖ Hậu Lộc Quận Công (Nam)
- MIÊN ĐIỀN Kiến Hòa Quận Công (Nam)
- MIÊN HOAN Kiến Phong Quận Công (Nam)
- MIÊN TRÍ Vĩnh Lộc Quận Công (Nam)
- MIÊN THÂN Phù Cát Quận Công (Nam)
- MIÊN KÝ Cẩm Xuyên Quận Công (Nam)
- MIÊN BẰNG An Xuyên Vương (Nam)
- MIÊN SÁCH (Nam)
- MIÊN LỊCH An Thành Vương (Nam)
Con cái
Không rõ