Chi tiết gia đình

Là con của: NGUYỄN PHÚC ĐẢM - Vua MINH MẠNG

Đời thứ: 13

Người trong gia đình

Tên
MIÊN ĐỊNH - THỌ XUÂN VƯƠNG (Nam)
Tên tự
Yến
Ngày sinh
5/8/1810 - Ngày 6 tháng năm
Ngày mất
5/11/1886 - Ngày 10 tháng 10 n&#

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

Ngài là con thứ 3 của Đức Minh Mạng

Sanh mẫu: Phạm Thị Tuyết

Lăng của Ngài tại ấp Cữ Sỹ, làng Dương Xuân, Huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên.

Sanh hạ 78 Công tử và 66 Công nữ.

Phòng Thọ Xuân Vương thuộc về bộ chữ Thuỷ.

 

Phủ Thọ Xuân Vương tại Phú Cát Thành Phố Huế với diện tích  rộng 20.000m2 là phủ rộng nhất trong các phủ

 

Thọ Xuân Vương Miên Định làm Kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ từ tháng Giêng năm 1840 đến 1865  và từ 1970 đến tháng 10 năm 1885 tổng cọng Khỏang 40 năm

 

Tiểu Sử     NGÀI THỌ XUÂN VƯƠNG

 

            TUỔI TRẺ VÀ TÀI NĂNG

 

Thọ Xuân Vương tự MINH TỈNH, Hiệu Đông Trì ban đầu được Thế Tổ Cao Hoàng Đế (Vua Gia Long) ban cho tên YẾN. Năm Minh Mạng thứ 4 có Ngự chế Kim sách về Đế Hệ Thi, nên được ban cho tên như hiện nay là MIÊN ĐỊNH.

 

Vương là con trai thứ ba của Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (Minh Mạng). Mẹ là gia phi họ Phạm (Đức từ Phạm Thị Tuyết), người huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định, là con gái của Truy Thự Quang Lộc, tự Thiếu Khanh Phạm Văn Chấn. Vương sinh ra vào tháng 7, mùa thu năm Gia Long thứ 9 (1810), gia phi mất, Vương vừa 3 tuổi. Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (Mẹ Vua Minh Mạng) đem vương vào nuôi trong cung.

 

Thuở bé Vương yếu đuối nhưng thông minh, được học ở chái tây Điện Cần Chánh. Thế Tổ Cao Hoàng Đế thường thấy Vương mang hòm sách đi nghe giảng, rất ngợi khen. Lúc lớn lên, Vương có dáng người to lớn, tư chất hơn người. Đầu triều Minh Mạng, Vương cùng Hoàng tử (Hiến Tổ Chương Hoàng Đế Thiệu Trị) được xuất các (1). Vương càng tinh thông mọi sách, nổi danh về thơ, càng giỏi về ứng chế(2). Khi phụng chiếu họa bài thơ “Cấm trung tử quí hoa” (Hoa quí trong cung cấm), Vương có câu:

           

“TỰ TÙNG DUỆ TẢOLƯU ĐỀ VỊNH

            QUAN CHIẾM QUẦN PHƯƠNG ĐỘC ĐÀN DANH”

Dịch:   TỪ KHI ĐƯỢC ĐẾ VƯƠNG ĐỀ VỊNH

            CHIẾM LẤY QUẦN HOA ĐỆ NHẤT DANH

 

Đế hết long khen ngợi, Tuy Thánh Quận Công Trương Đăng Quế suy tôn Vương là bậc ứng chế nổi danh đương thời. Vì thế Tùng Thiện Quận Vương Miên Thẩm, trong cung từ (3) có câu:

 

            TẤT CÁNH TRẦM TAM HOÀN ĐỆ NHẦT

            ĐƯƠNG GIA THIÊN THỦ THỌ XUÂN CÔNG

Dịch:   TUY Ở HẠNG BA NHƯNG THÀNH NHẤT

            NỔI TIẾNG ĐƯƠNG THỜI THỌ XUÂN CÔNG

 

 

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

 

1:/ DƯỚI TRIỀU VUA MINH MẠNG

 

Năm Minh Mạng thứ 4 (1823), Vương được lệnh lập phủ ở phía trái kinh thành để tiện việc phụng hầu.

 

Mùa hạ năm Minh Mạng thứ 6, Đế đi Quảng Nam, sai vương lưu giữ kinh đô, dụ rằng: “Phải phụng theo từ chỉ (4), định mọi việc trong cung, sắp xếp để tâu lại”. Mùa hạ năm thứ 7 Đế đi Quảng Bình, lại lệnh cho vương giữ Kinh đô. Mù thu năm thứ 9, Đế se mình, Vương cùng Hòang trưởng tử thay phiên túc trực nơi đế nghỉ. Lúc thái y dâng thuốc, Đế không uống vì thấy không hiệu quả. Vương và hòang tử trưởng dâng sớ nhẹ nhàng can ngăn, Đế mới ra lệnh dâng thuốc uống, mấy ngày thì lành. Khi Đế ra Điện Cần Chánh nhận lời chúc mừng, cho triệu Vương lên Điện, ban trả rồi cho lui.

 

Mùa xuân năm Minh Mạng thứ 11, sách phong làm THỌ XUÂN CÔNG. Mùa xuân năm thứ 16, Vương và Hòang trưởng tử vào hầu ở Điện Đông Các, Đế ban cho mỗi người một lư hương và một cây đàn quí mà dụ rằng: “Lư là để truyền hương thơm, đàn là để vang tiếng. Đây là lúc cáccon cần có hương danh truyền khắp nơi, phải gắng sức lên”. Nùa hạ năm đó, Đế đi Quảng Trị, lệnh cho Vương lưu giữ Kinh đô và dụ rằng: “Kinh đô là nơi căn bản, lệnh cho con lưu giữ. Mỗi ngày phải đến Điện Cần Chánh để cùng các quan bàn bạc”. Lại cấp cho một Nha đồ ky để nghe những chuyện gì nghe được trong cung mà tâu lên.

 

Mùa thu cùng năm, bắt đầu đặt các quan chức tại Tôn Nhơn Phủ. Đế lệnh cho Vương kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ Hữu Tôn Chính, ghi tên tất cả bà con xa gần để cai quản. Vương liền xin lập điều lệ và dâng sớ cử Tôn Thất Lương, là quan thanh bạch, làm tư vụ, đồng thời xin cấp tinh biểu (5) để tỏ sự vui mừng. Đế chấp nhận. Năm Minh Mạng thứ 19. Đế lệnh cho Vương cùng các quan  bộ Lễ tiếp tục bàn bạc chương trìnhđể thi hành ở Tôn Nhơn Phủ.

 

            Mùa đông năm thứ 21, gặp lúc Đế không được khỏe, khi xét các án tử hình, Đế lệnh cho Vương, Hòang tử trưởng đọc lại. Thấy việc trọng đại, Vương nhường cho Hòang tử trưởng quyết đoán. Đế ngợi khen rồi ban cho Diễm Lộc Viên để nghỉ ngơi và đọc sách, đồng thời dạy: nên lưu tâm đến việc bút mực và hàng ngày cần để sửa mình.

 

           

            2:/ DƯỚI TRIỀU VUA THIỆU TRỊ

 

Thiệu Trị nguyên niên (1841), khi làm lễ Ninh Lăng (6) Vương theo hầu, tất cả việc lễ lược cho đến việc đề chủ (7), Vương đều được sung vào giúp đỡ. Mùa xuân năm Thiệu Trị thứ 2, Đế ra Bắc  làm lễ bang giao, Vương được phong làm Ngự tiền Thân thần. Ngày tuyên phong, sứ nhà Thanh là Bửu Thanh cưỡi kiệu vào thẳng cửa Chu tước (8), quan đón tiếp không thể can ngăn. Vương nghiêm nét mặt quát mắng. Sứ Thanh liền xuống ngựa, thong thả mà đi. Khi xong lễ Đế ngợi khen. Lúc trở về, Đế thưởng cho một viên ngọc trắng để đeo, có khắc 4 chữ “Đặc nghị quyền hưu” (nghĩa là đặt biệt mãi yêu thương).

 

            Mùa hạ năm thứ 3, sau khi làm lễ thăng phối (9). Đế ngự triều làm lễ chúc mừng, Vương dâng lễ thượng thọ. Đế tự rót Ngự tửu ban cho Vương với Ngự tứ thi rằng:

           

BẬT DỊ ĐƯƠNG NIÊN CỌNG ĐIỂN BÍ

THÀNH KHAM LƯU LÃM HẢO TƯ VĂN

ÍCH ĐÔNG THÂN ÁI, LONG PHAN BÍNH

VẬT NGẠI QUÂN THẦN, PHẬN SỰ PHÂN

Dịch:   CHẲNG KHÁC LÚC CÒN HỌC VỚI NHAU,

            VĂN CHƯƠNG CHẤP NHẬN ĐỨNG HÀNG ĐỀU,

CÀNG THÊM THÂN ÁI TÌNH PHÊN DẬU,

CHỚ NGẠI VÌ THAN PHẬN QUÂN THẦN.

 

Mùa hạ năm Thiệu Trị thứ 5, Ngự chế ban bộ chữ chia cho các phòng của các Hoàng tử để định rõ sự kế tục, Vương được ban bộ THỦY. lại được ban một bài Ngự chế theo chính hệ (dòng chính) để rõ sự hay truyền thế, đó là một đặc ân. Rồi Đế lệnh cho Vương làm Tổng ly coi sóc sửa chữa Đại Nam hội điển (10), Năm Thiệu Trị thứ 7 , Vương dâng sớ xin theo lệ, thôi việc ở Tôn Nhơn Phủ để nhuờng chức vụ cho các Hoàng tử khác, Đế ưu ái không chấp nhận.

 

3:/ DƯỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC.

 

            Năm TỰ ĐỨC thứ 2 cử hành lễ bang giao, Vương được sung làm Ngự Tiền Thân thần. Năm thứ 11 có biến ở Nam kỳ, Vương được trù liệu việc biên giới, thấy hao phí việc quân quá nhiều, Vương dâng sớ xin bớt lương bổng để giúp quân, Đế không chấp nhận. Qua đầu năm sau, Vương được 50 tuổi, Đế ban cho phẩm vật cùng câu đối:

 

            DỮ QUỐC ĐỒNG HƯU, TÌNH ÂN BÁO QUỐC

            HÀ THIÊN TÍCH HỰU, THỌ KHẮP TRI THIÊN.

Dịch:               GIÚP NƯỚC AN LÀNH, ĐEM ÂN TÌNH MÀ BÁO QUÔC

                        NHỜ TRỜI BAN PHÚC HƯỞNG NIÊN THỌ ĐÊN TRI THIÊN (11)

 

            Vương bái nhận, dâng biểu cảm tạ, biểu viết rằng:

 

            TRUNG VỚI NƯỚC, ĐEM SỨC CHƯA CÓ TÀI CƠ ĐÁN (12)

            THIỆN TẠI NHÀ, LÀM VUI CHẲNG ĐÁNG ĐƯỢC CHÍ ĐÔNG BÌNH (13)

            VƯƠNG TRIỀU THĂM HỎI PHỦ ĐỆ AN NHÀN,

            ĐƯỢC BẢO BỌC CUỘC SỐNG VÀO NƠI NHÂN THỌ.

            NHUẦN ƠN TRẠCH, CÕI ĐỜI MỚI GIỮ ĐƯỢC AN KHANG,

            HIỆN BIÊN THÙY CÓ BIẾN, NAY XÍCH THỐI (14) KHÔNG CÔNG.

            NIÊN LÃO ĐÃ SUY, THẸN NĂM MƯƠI TRIỀU CHÍNH,

            THÙ ÂN (15) QUÁ THẤM NHỤC, BA TIRỀU ĐẠI CÁO HƯU.

 

            Mùa xuân năm Tự Đức 13, nhân lễ Nam Giao, Vương được sung làm Nhiếp hiến (16). Mùa xuân năm thứ 18, Đế cho rằng Vương tuổi cao, đức trọng, gặp triều yến đều được ban cấp, hỏi han, cho ngồi tại chỗ hoặc dúng chấp tay ở trán, để tỏ chí tình. Rồi phụng thư sắc cho phép khi đến triều, Vương được dung nhuyễn dự (17) đến thẳng cửa Nhật Tinh. Để tỏ lòng ưu ái của Đế đối với Vương, năm đó Vương được cải làm Tả Tôn Chính ở Tôn Nhơn Phủ , Vương bái mạng. Đế ban: “Người lớn tuổi chân thật chẳng có mấy, chiến khanh gắng sức để giữ gìn khuôn phép thay mệnh của Trẫm”. Vương bèn mời trong phiên hệ những người thận trọng, trung hậu để sung làm Tư giáo trông coi mọi việc.

 

            Mùa thu năm Tự Đức 18, Vương tiến triều, Đế bảo: “Từ xưa đến nay có nhiều người trong Tôn Nhơn Phủ đức hạnh cao, địa vị lớn, đáng nêu danh. Nay ta muốn con cháu họ mài dũa thành tài để có lúc dùng đến, đó là mong ước của Trẫm. Nhưng gần đây sao thấy việc học tập chẳng kết quả gì”. Vưong thưa rằng: “Những người trợ giúp phẩm trật thấp kém, không thể hoàn thành trọn vẹn chức năng của bậc thầy. Nay xin lập trường học, đặt một người chưởng giáo trong hạng khoa giáp là kẻ sỹ, biết dạy dỗ thì mới thành tựu được”. Đế khen ngợi ra lệnh lập trường, dung Đặng Văn Kiều là kẻ sỹ thanh nhã sung làm Chưởng giáo. Vương lại cho mời các Công tử, Công tôn theo các Nha, Bộ để học tập chính sự. Đế bảo: “Ngành gốc của dòng họ trăm đời, cần có chủ trương sớm mới có thể thành hữu dụng. Nếu không thì tuổi lớn mà càng ngày con cháu càng đông, thì chẳng ra thể thống gì”. Bèn khiến Vương cùng các Hoàng tử châm chước, chọn phép tắc hay, thích hợp, xét kỹ mà thi hành. Vì thế Vương tâu lên: “Tất cả những Công tử, Công tôn, ngoại trừ người có văn học được xét bổ dụng, còn ra bất kỳ hệ nào học hành không tiến bộ mà có sức vóc thì cho bổ vào võ học. Các Công nữ không có vốn liếng, sung vào phụng trực ở các Tôn Lăng, Tôn Điện, khiến có nơi nương tựa”. Đế chuẩn theo lời tâu cho thi hành.

 

            Mùa thu năm Tự Đức 22 (1860), Vương mừng thọ 60 tuổi, Đế ban cho áo bào, trượng, các phẩm vật cùng bài thơ:

 

                        GIỚI ĐỆ TÍCH VƯU CHÍ

TÔN PHAN KIM THỊ BỈ

                        VÔ TRƯƠNG NĂNG TỰ ỨC

                        NAM LÃO KHỞI DUY KỲ

                        DĨ TRỰC TRIỀU KIẾN TƯỚC

                        NINH VỌNG TỰ TỤC QUI

                        TẤT NHÂN PHƯƠNG ĐẮC THỌ

                        LƯƠNG HỮU NHẤT KINH DI.

Dịch:  

                        TRƯỚC ĐÂY LÀ EM QUÍ

                        MÀ NAY CHÍNH TÔI HIỀN

                        KHÓ KHĂN LÒNG TỰ GẮN

                        TUỔI ĐÃ SÁU MƯƠI LIỀN

                        TRIỀU ĐÌNH CHỨC TƯỚC LỚN

                        PHÉP TẮC GIỮ TRƯỚC TIÊN

                        NHỜ NHÂN MÀ ĐƯỢC THỌ

                        ĐẠO HAY LẠI ĐƯỢC TRUYỀN.

 

            Mùa hạ năm thứ 27, Vương được tấn phong Quận Vương. Đế dụ: “ Vương với Ninh Thuận Quận Công MIÊN NGHI đều là chú của Trẫm, nay tuổi gần thất tuần, giỏi giang, trung hậu, càng lớn tuổi càng gắng sức, là Trọng thần của Trẫm, Trẫm rất thương mến, rất kính trọng. Mỗi khi muốn đặc cách gia ân để tỏ lòng thành của Trẫm, nhưng vật thì chẳng quí, chỉ có danh mới quí, chẳng có gì xứng với tình của Trẫm, truy khen lúc quá vãng sao bằng lúc còn sống, vì thế mới thực. Chuẩn phong làm Quận Vương để tỏ rõ tình thân, tuổi lớn đức cao chẳng có gì trái lẽ mà lại an ủi được tình thương của Tiên đế dành cho Vương, lại bày tỏ của Trẫm hết lòng với người thân. nhờ đức lớn của Vương mà tạo được phong thái tốt đẹp, khiến Trẫm càng thêm tin tưởng”.

 

            Vương và Ninh Thuận Quận Công dâng sớ khẩn khoản từ chối, lấy cớ: “Bản triều từ xưa đến nay, những người thân thuộc chưa hề được phong Vương, huống gì vùng biên cương rối ren, tâm Đế chẳng an, đội ân được dự vào việc nước nhưng chẳng giúp ích đựợc chút nào, cảm thấy không công lao mà hưởng được lộc lớn, thật chẳng an tâm, chứ chẳng phải nói bậy mà từ chối”. Đế phán: “Bản triều vốn định không phong tước Vương là vì không có người xứng đáng, chưa có lúc thích hợp, nên còn chờ đó thôi. Nay hai chú chớ có từ chối để an ủi lòng tôn thân, kính lão của Trẫm”. Vương mới nhận phong.

 

            Mùa đông năm thứ 29, Đế ban dụ rằng: “Vương tuổi quá nhĩ thuận (18), triều đình cậy nhờ, vả lại trung thành chăm lo việc không hề giảm, chuẩn cho khi điện kiến, yến tiệc hoặc bình thường, lúc ban thưởng, thăm hỏi, chỉ xá ba xá là đủ tỏ long cung kính, miễn quì lạy”.

 

            Mùa xuân năm thứ 30, Đế thấy vương đức lớn va rất trung thành, chăm lo công việc không sút giảm, nên lệnh cho quan ở phủ Thừa Thiên chọn 15 mẫu quan điền màu mỡ ban cho trọn đời để cúng cho Tiên Phi (19) cùng dùng việc hương hoả cho vương sau này.

 

            Mùa xuân năm thứ 31, gặp Ngũ tuần Vạn Thọ đại khánh tiết, được tân phong THỌ XUÂN VƯƠNG. Dụ viết: “Có lẽ mừng ban ân huệ, tất từ người gần, đó là sự khởi đầu của nghĩa làm thân với người thân. Thọ Xuân Vương tuổi gần 70, kiêm đủ phúc, thọ, phú, qúi, mà biết lo lắng trung thành, hết lòng với triều đình đã lâu, Đức tốt đó, chẳng phải do riêng Trẫm kính yêu, mà đủ để mọi người ngưỡng vọng. Tấn phong làm THỌ XUÂN VƯƠNG để tỏ sự quan tâm đến những điều ưu việt”.

 

            Mùa thu năm Tự Đức thứ 32, Vương mừng thọ 70 tuổi, Đế xuất kho ban các phẩm vật, cùng làm bài tự bài ca để ban cho. Bài tự về thọ ghi sơ lược rằng:

 

“Việc ở đời khó được là Phúc với Thọ. Có người thọ mà không phúc, Được phúc thì trăm ngàn người chỉ có một, hai người; được thọ thì chỉ được một hai trong vạn ức người. Huống hồ gì được cả hai điều, mà lại đầy đủ, chẳng thiếu sót chút nào, thì trong trăm ngàn vạn ức tuyệt không có. Ít như vậy mà ta lại có, ta có được một người.

            “Vương là con của Văn Vương (20), em của Vũ Vương, chú của Thành Vương, luôn giữ phận bề tôi. Đến nay nhiều lần đuợc phong địa vị dưới Thiên tử một bậc, thật là phú quí, mà quí thêm nữa. Làm việc trải qua bốn triều, bổng lộc ngàn chung, phẩm vật được ban không kể xiết, phú lại càng phú thêm. Nhưng đạt được những điều nói trên chưa đủ là khó. Chỉ nghe rằng Vương thuở nhỏ rất yếu, lại nhiều bệnh, mà lúc ln lên cường tráng sung mãn, con cái quá một trăm người, tức là hơn con số một trăm, trong Kinh thi còn kém (21). Những điều tốt đẹp, chẳng có gì đáng nghi ngờ. Huống gì gần đây, tinh thần minh mẫn, tuổi càng lớn càng bệ vệ. Nay tuổi đã bảy mươi, râu tóc trắng xoá, mà ăn uống, nhìn ngắm, suy nghĩ nói năng chẳng suy, khiến mọi người càng kính yêu, mong muốn giống như thế mà chẳng được.

            “Lại bảo Lương Hiếu (22) giàu to nhưng không nói giàu và thọ, và nhiều con trai. Trung Sơn (23) có nhiều con trai, nhưng không nghe nói giàu và thọ. An Bình (24) thì tuổi thọ cao, nhiều con trai, nhưng không nghe nói giàu. Vương, thanh danh không bằng Tùng, Tuy (25), hào hùng không như Ninh Thuận, giàu chẳng bằng Định Viễn (27), nhưng các bậc Vương từ xưa đến nay đều có chỗ bất túc, chỉ có một mình Vương là đầy đủ cả, thật làm sang tỏ Đức hạnh của Triều đình ta; trong sách vở chưa có nơi nào, chuyện nào như vậy. Ta nghe Mục Thúc nói bất hủ có ba điều mà không nói đến bổng lộc ở đời”.

 

            Bây giờ hãy nói chuyện tuổi thọ của Vương, mà làm bài ca tỏ tình cảm, Ca rằng:

 

THẦN CHÂN TAM ĐẢO CÓ TIÊN (28)

CHẲNG HỀ ĐƯỢC THẤY, CHỈ RIÊNG NGHE NHIỀU.

CHỐN YÊN HÀ NGƯỜI HIỀN Ở ẨN

NẾU GẶP TIÊN CHƯA HẲN LÀ HAY,

ĐÂU BẰNG TIÊN CHỐN ĐẤT NÀY

ĐÔNG TRÌ LÀ HIỆU , TRÚ NGAY ĐÔNG TRÌ (29)

VỐN GẦN CHỢ THIẾU GÌ SƠN THUỶ,

TUY CHỈ NGHE TA NGHĨ LÀ XINH.

TỪ LÂU TIÊN VỐN ẨN MÌNH

CẢNH SẮC TUYỆT ĐẸP HỮU TÌNH NƠI NƠI

Ở TRÊN CAO CÂY TO THÚ LỚN,

DƯỚI HỒ SEN CÁ LỘI THUNG THĂNG

LƯƠNG ĐÌNH, ÚC QUÁN (30) XUNG QUANH,

HƯỚNG VỀ GIÓ MÁT TRĂNG THANH MƠ MÀNG.

BƯỚC THEO CHÂN, CON CÙNG ĐÀN CHÁU,

RỒI ANH EM VUI ĐẤU CUỘC CỜ.

CHỦ NHÂN LÒNG SẴN SAY THƠ

VÌ LÒNG QUÍ KHÁCH TÙY THỜI NHẤP CHƠI.

XƯỚNG HỌA NGAY KHI ĐÀN SÁO NỔI

THỨC ĂN NGON THAY ĐỔI MANG LÊN

VUI CHƠI CHO TRỌN HẾT ĐÊM

CHỦ NHÂN NÀO MỆT, KHÁCH QUÊN CẢ VỀ.

NAY TIỆC THỌ LẠI CÀNG VUI VẺ,

LẬU (31) CHẬM HOÀI ĐỂ MÃI THÂM CANH,

CHỚ NÊN ĐỂ NGUYỆT XẾ TÀN,

TRƯỚC SÂN CHUẨN BỊ KHÊU ĐÈN THƯỞNG TRĂNG.

VƯỢT NGÂN HÀ SONG TINH (32)LẤP LÁNH,

THỌ PHÚC CẦU XỨNG ĐÁP DÀI LÂU.

MỌI NGƯỜI GIỜ QUÁ SAY SƯA,

BỒNG LAI TIÊN CẢNH CÒN THUA RẤT NHIỀU

NHƯ ĐẠO UẨN, TRẦN TƯ (33) NÀO THIẾU,

PHÚ THƠ HAY CỨ THẾ ĐUA TRANH,

MUỐN MONG ĐƯỢC TRỌN Ý LÀNH,

GIÚP TẠO NHÂN ÁI, ĐỂ DANH MUÔN ĐỜI

BIẾT NƯỚC CHẢY MÂY TRÔI KHÓ LIỆU,

ĐÀN ƯNG MÔN (34) ÂM ĐIỆU CHỢT NGHE,

TỬ KINH ĐIỀN THỊ (35) NÊN DÈ

VƯỜN THỎ AO NHẠN (36) CŨNG E HOANG TÀN.

CỐ HỔ ĐẦU CÙNG CHÀNG MA CẬT (37)

NHẮP CHÉN SAY, VẺ ĐẸP THẦN KỲ.

CHÂN DUNG TIÊN THỌ ĐÔNG TRÌ,

CHU CÔNG, CỬU LÃO (38) CÓ GÌ KÉM ĐÂU”

 

            Vương dâng biểu bái tạ, (xin xem tiếp phần dưới)

Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình

Các anh em, dâu rể

Con cái