Hương hỏa

Tư liệu dòng họ 1. Sơ lược lịch sử quê hương và dòng họ. Mảnh đất ấp Diêm Điền ngày xưa cách đây hơn 500 năm, nay là xã Tây Giang, huyện Tiền Hải trù phú xinh đẹp nằm ở phía Tây của huyện, Bắc giáp thị trấn, Đông giáp xã Tây Sơn, Nam giáp xã Tây Tiến và xã Tây Phong, Tây giáp xã Phương Công và xã An Ninh. Theo lịch sử đất Thái Bình và Tiền Hải là đất biển bồi, ở đâu có đất có thể khai phá trồng trọt sinh sống được là có người. Giồng đất từ Cồn trắng Quân bắc qua Công Bồi, Cổ Rồng, Trình Nhì, thôn Bắc, Tiểu Hoàng, Đại Hoàng đã có từ thế kỷ XII, XIII. Ngày ấy dân ở còn lác đác. Các địa danh này chưa có tên. Cuối thế kỷ XIII, quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta lần thứ II năm 1285, đạo quân của Trần Hưng Đạo do tướng Yết Kiêu chặn thuyền địch không cho ngược đường sông Hồng về Thăng Long. Nghĩa quân đi qua thấy vùng đất rộng, có cây quế lớn đã dừng lại nghỉ chân. Chỗ đó thuộc khu vực thôn Bắc hiện nay. Sau để ghi nhớ công lao to lớn của đức Trần Hưng Đạo, nhân dân Diêm Điền đã dựng ngôi đền thờ gọi là đền Bắc hay đền Quế (vì có cây quế lớn). Trong đền có tấm bia đá “Linh từ bi ký” (Bia ghi ở đền thiêng). Buổi ban đầu, dân ấp Diêm Điền cùng với dân ấp Tiểu Hoàng, Phương Trạch, Công Bồi đắp con đê ngăn nước mặn từ Ngoại đê ra cầu Các Già, ra cánh đồng Phương Trạch. Có đắp được đê, dân trong đê mới yên ổn làm ăn, cày cấy. Dân cư các dòng họ từ Thanh Hoá, Nghệ An, Nam Định, La Điền, Bổng Điền, … lại tiếp tục đổ về tìm nơi có đất để khai phá. Theo gia phả các dòng họ và tấm bia đá còn lại ở chùa Thư Điền hiện nay thì cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII ở Diêm Điền có 13 dòng họ là : họ Tạ, họ Lê, họ Phạm, họ Hà, họ Tô, họ Lương, họ Đỗ, họ Nguyễn, họ Trần, họ Chu, họ Vi, họ Cao, họ Bùi. Năm 1831, đời vua Minh Mạng đặt lại địa giới hành chính, đổi ấp Diêm Điền thành xã Diêm Điền thuộc tổng An Bồi, huyện Chân Định phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định. Thời Pháp thuộc, ngày 28/11/1894, Toàn quyền Đông Dương sắp xếp lại các đơn vị hành chính, tỉnh Thái Bình (được lập từ ngày 21/3/1890) có 12 phủ huyện, tên của xã Diêm Điền thuộc phủ Kiến Xương. Thời kỳ này, biển đã lùi xa và nhân dân không còn làm muối, mặt khác trùng tên với xã Diêm Điền của Thuỵ Anh, hơn nữa trong xã có nhiều người học hành giỏi đỗ cao được triều đình nhà Nguyễn phong Tước hầu, Tước bá có danh tiếng. Năm 1910, các cụ xin đổi tên xã Diêm Điền thành làng Thư Điền (nghĩa là sách và ruộng) gồm có 4 thôn : thôn Đông, thôn Nam, thôn Đoài, thôn Bắc thuộc tổng An Bồi, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Sau cách mạng tháng Tám 1945, làng Thư Điền thuộc xã Công Trứ huyện Tiền Hải (tháng 3/1949), rồi thuộc xã Tây Giang (năm 1956). Thư Điền cũng là đất “Địa linh nhân kiệt”, thời kỳ nào cũng có nhiều người có công với dân với nước và được Nhà nước phong tặng khen thưởng. Thư Điền có ba di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng, đó là : - Đình Làng (còn gọi là Đình Chính hay là Đình Tổ) thờ Thuỷ Đức Tôn thần hiệu Quảng Lợi Đại vương và Điện tiền đô chỉ huy sứ Tạ Quốc Công là di tích kiến trúc nghệ thuật xây dựng thời Nguyễn năm 1915. Trong Đình còn lưu giữ 11 sắc phong (Triều Lê có 5, Triều Nguyễn có 6), trong đó có 3 sắc tặng phong đức Tạ Quốc Công. - Nhà thờ họ Tạ thờ các vị có công với làng với nước, gắn với dòng họ Tạ. Họ Tạ là dòng họ sớm khai khẩn mở ấp ở làng Thư Điền, cụ Tạ Đình Ninh có công xây dựng lập ấp Diêm Điền. Họ Tạ qua các thời đại có nhiều người có công với nước, với dân được nhà vua phong sắc. Cụ Tạ Đình Chiêm (đời thứ 3 họ Tạ) có công dẹp giặc được phong chức Điện tiền đô chỉ huy xứ, tước Đông Khê hầu cùng 4 chữ “Dực Bảo Trung Hưng”, khi mất được suy tôn là “Thành Hoàng làng” và được thờ ở Đình Làng. Trong nhà thờ họ Tạ còn có các hoành phi, câu đối có nội dung giáo dục các thế hệ con cháu về tinh thần đạo đức làm người và học tập nâng cao kiến thức. Họ Tạ sớm có Gia phả và giữ được Gia phả qua nhiều đời. Hình 1. Nhà thờ họ Tạ được xây dựng lại từ năm 1936 được tôn tạo lại năm 2007. - Chùa Thư Điền : Cây đa ở chùa ngày 01/5/1930 treo cờ đỏ búa liềm kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động và tuyên truyền cho sự ra đời của Đảng. Chùa còn là nơi hội họp của cán bộ cách mạng thời kỳ bí mật. Từ những căn cứ trên, ngày 30/10/1990, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra quyết định số 1214/VHQĐ công nhận : “Đình Chính, Nhà thờ họ Tạ, chùa Thư Điền là cụm di tích lịch sử văn hoá”. Lại nói thêm về Nhà thờ họ Tạ. Nhà thờ họ Tạ được cụ Trưởng tộc đời thứ 7 cho xây dựng (khoảng cuối thế kỷ XVIII) trên đất cụ Sơ Hoàng khi mới về lập ấp. Đến giữa thế kỷ XIX, khoảng 80 năm sau đó, Nhà thờ họ được tôn tạo lại. Người bỏ tiền của trợ giúp là cụ Tạ Ngọc Rư (đời thứ 9). Từ năm 1934 đến năm 1936, cụ Tạ Xuân Mậu (đời thứ 11) là người đứng ra tổ chức quy lăng mộ Tổ và xây dựng lại Nhà thờ họ (mở rộng thành 3 cung như hiện nay), sắm sanh đồ thờ tự (khám thờ, các bài vị, long đình, bát bửu, v.v...). Từ năm 1985 đến năm 2010, các thế hệ con cháu họ Tạ đã tiến cúng, đóng góp tiền của, từng bước tu sửa lăng mộ Tổ, Nhà thờ họ, dựng đài tưởng niệm các liệt sĩ của dòng họ, phục chế lại các sắc phong. Trong nhà thờ họ Tạ Thư Điền còn lưu giữ được một số sắc phong chức tước cho các cụ họ Tạ, dưới đây chúng tôi giới thiệu nội dung bản dịch 4 trong số các sắc phong đó. Các bản dịch này do nhà Hán học Ngô Thế Long phiên âm và dịch nghĩa. 1- Sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 3 (1742) “Sắc cho ông Tạ Đình Trật, chức Tiến công thứ lang, làm Huyện thừa huyện Thần Khê, đã có công lãnh đạo các đinh phu đi theo quan phủ dụ để đánh bọn giặc, chém đầu giặc tại trận. Quan Phủ dụ đề nghị lên triều đình cho thăng chức. Đáng thăng chức Tiến Công thứ lang, Điền tiền tư (ty)… … … Nay ban sắc”. Ngày 10 tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 3 (1742). 2- Sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 16 (1755) “Sắc cho ông Tạ Đình Duyên, quán xã Diêm Điền, huyện Chân Định, là người đã lãnh đạo đội Tứ Nghĩa cùng với Cung Thọ bá theo Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc, theo chúa đi đánh giặc ở Tây đạo, có được dự ban thưởng nhiều lần làm đệ tử. Đã có chỉ chuẩn ban cho chức Huyện thừa. Đáng ban cho làm chức Huyện thừa huyện Kim Sơn, hàm Tiến công thứ lang. Hạ chế. Nay ban sắc”. Ngày 22 tháng 12 năm Cảnh Hưng thứ 16 (1755). 3- Sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) “Sắc cho ông Tạ Đình Thuần, chức Đội trưởng, quán xã Diêm Điền, huyện Chân Định, trong năm Nhâm Dần (1782) Triều đình có việc phong tước vương. Ông đã theo chư quân làm việc phò lập, trong đó đơn vị Trung Nhuệ quân doanh thuộc quân chủ lực làm việc bảo vệ kinh đô lập công giữ yên xã tắc. Đã có chỉ chuẩn y thăng cấp một bậc, nên thăng chức Bá hộ ... Đáng thăng chức làm Phấn lực tướng quân mệnh tư Tráng sĩ, Bá hộ. Hạ chế. Nay ban sắc”. Ngày 26 tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783). Hình 2. Một trong những sắc phong lưu giữ trong Nhà thờ họ Tạ 4- Sắc phong năm Cảnh Hưng thứ 46 (1785) “Sắc cho ông Tạ Đình Tước, Nho sinh, quê xã Diêm Điền, huyện Chân Định, là người đã được quan Thượng thư Bộ Lại, Phụ quốc công thần, gia Tá lý công thần, nhập thị Tham tụng, Quốc lão tham dự triều chính, Đại tư không viện, tước Quận công Hoàng Ngũ Phúc tiến cử lên triều đình làm quan, lại xin tặng cho chức. Đáng chuẩn cho chức Thiếu khanh. Vậy nên cho làm chức Thiếu khanh ở điện Kim Long, hàm Mậu lâm tá lang. Hạ chế. Nay ban sắc”. Ngày 27 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 46 (1785). Hình 3. Khu lăng mộ tổ họ Tạ được tôn tạo lại năm 2007. Khu lăng mộ Tổ được quy tập lại từ năm 1934 bao gồm các cụ từ đời thứ nhất đến đời thứ 6 tại nghĩa trang thôn Đoài do công lao của cụ Tạ Xuân Mậu đời thứ 11. 2. Diễn ca kỷ niệm Phần này do cụ Tạ Đức Bản (đời thứ 12) vâng mệnh tôn trưởng trong họ soạn ra. Khi chép lại, cụ Tạ Ngọc Lân (đời thứ 12 viết lại gia phả lần thứ Tư) có mạn phép sửa chữa, bớt bỏ một số chỗ để trọng vẻ tôn nghiêm và có phần thực tế hơn. Thời kỳ cụ Bản và cụ Lân biên soạn mới có bài ca ngợi công đức của các cụ từ đời thứ 11 về trước, đời thứ 12 mới có bài văn về cụ Tạ Quốc Thưởng. Nay nhân khi tu chỉnh, bổ sung gia phả, Tổ gia phả xin ghi lại các bài văn kỷ niệm đó. Để con cháu hiện nay và sau này dễ hiểu hơn, để hài hoà công đức của các cụ trước đây với hiện nay, chúng tôi chỉnh sửa, bổ sung một số câu, chữ trong một số bài cho phù hợp. Hương hồn các cụ ở cõi vĩnh hằng xin chứng giám và chắc các cụ cũng vui dạ vì con cháu kế tục các cụ về sự nghiệp tổ tiên để lại. * * * Văn kỷ niệm Cụ Sơ Hoàng Thuỷ Tổ Sách có câu : “Nhân bản hồ tổ” Công gây dựng muôn thuở còn truyền Thái bình hương hoả vạn niên Diễn bài kỷ niệm một thiên lưu đề Đức tổ xưa vốn quê Giang tả Tiếng “Ô Y” Vương, Tạ, Nguyễn, Đào Á Đông lừng lẫy xiết bao Hai nhà Vương, Tạ giá cao quý quyền (Họ Vương sau đổi là họ Lê) Cờ Đô hộ một phen thống trị Xứ An Nam phải lệ thuộc Tàu Hai ông thâm kết cùng nhau Phất cờ “Chiêu mộ” bắc cầu Lĩnh Nam Đường Thái, Lạng quan san chẳng ngại Chí tang bồng hồ hải xông pha Trúc mai sum họp một nhà Cửa Sung khẩn trị sơn hà tỉnh Thanh Làng Diêm Phố nổi danh từ đó Áng tử phần hoa có tốt tươi Nhà liền nóc, chợ đông người Nước non mới mẻ muôn đời thêm xuân Trải năm tháng sinh lan đẻ huệ Chen chúc nhau ai dễ đo lường Đất đai nguyên cũ ruộng nương có ngần Dân đông đúc có phần chật hẹp Cách sinh nhai nghề nghiệp quan hoài Ngư ông mượn thú cõi ngoài Tìm nơi phong cảnh ươm nòi văn minh Lê Lang với Tạ Ninh hai cụ Lại nối theo chí cũ ông cha Di dân lập ấp vùng xa Vì con, vì cháu mưu cơ lâu dài Miền Lân hải là nơi rộng rãi Cờ Chiêu mộ cứng cỏi ra tay Hai ông nào ngại chông gai Đào sông, lấn biển dùi mài tấm thân Trải mưa nắng bao phần mỏi mệt Cách vun trồng chẳng tiếc công phu Chăng dây cắm mốc trì khu Đắp đê giữ nước phá gò bồi sa Nhà nổi nóc hàng ba hàng bẩy Ruộng thành bờ từng dãy từng khu Bao la ruộng đất mịt mù Cỏ hoa đua nở, giang hồ thông lưu Đường thuỷ đạo đã tiêu chua chát Lúa hai mùa lại được phong niên Cồn ngoài bãi muối trắng tinh Có muối, có gạo dân tình đội ơn Diêm Điền xin được đặt tên Cõi hoang vu đã dựng lên xóm làng Cụ Lê dòng dõi “ấm lang” Cụ Tạ nông giới giỏi giang ruộng đồng Lòng hai cụ Tấn - Tần hợp một Nguyện muôn đời tầm cốt tương thân Ca dao bình phẩm mấy vần Ninh, Lang hai cụ lần lần gặp nhau (1) Đức tổ ta đứng đầu dân tráng Việc binh lương giữ khoán đình, điền Hương thôn kính ái một niềm Quan trên cũng chuộng dân em cũng vì Giòng tử đệ nhiều bề tế mỹ Thềm chí lan lắm vẻ phi phương Cháu con tỏ mặt phi thường Chói chang Hầu Bá rỡ ràng non sông Cụ trăm tuổi đèn hồng rực rỡ Xứ Đông Lang long mã tàng hình Mới hay sơn thuỷ hữu tình Phần phong chính bắc rành rành chân long Huyệt Bến Sặt trùng trùng sơn thuỷ (2) Mộ tổ bà đất để Hậu Lang Hình ô hướng bắc rõ ràng Tạ, Lê hai mộ một hàng thanh thanh Câu ngạn ngữ : “An Ninh họp chợ Đất Diêm Điền họ Tạ có quan” (3) Mới hay sơn thuỷ bão hoàn Tạ, Lê hai họ sánh hàng cùng nhau (1) Tục truyền có câu : “Ông Nỉnh ông Ninh ra đến đầu đình thì gặp ông Lang, Ông Lảng ông Lang, ra đến đầu làng thì gặp ông Ninh”. (2) Nhà Tương Địa có câu : “Diêm Điền huyệt tại Bến Sặt” (3) Tục truyền câu : “An Ninh hữu thị, Tạ thị hữu quan. Đông Hướng hữu chung, Lê thị anh hùng”. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 2 Tạ Đình Đô Thừa phúc tổ cụ nhì nối nghiệp Gánh giang sơn giữ việc nhà nông Dấu son óng ánh điểm hồng Tước “Quan viên phụ”, sắc phong một hàng Ngoài viện sách thanh đan hai chữ Sắc phong Hầu con thứ bảnh bao Nền phúc hậu, bậc tài cao Thơm tho hoa nở, ngọt ngào hương đưa. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 3 Tạ Đình Đoan Nối gót cha móc mùa nhuần thấm Tổ ba đời phúc ấm hà sa Đèn trời sáng rực cỏ hoa Con hiền, cháu thảo một nhà cân đai Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 3 Tạ Đình Chiêm Nhờ tài đức quan giai nhẹ bước Nên phấn vua lộc nước dồi dào Đô chỉ huy xứ đương trào Đường đường chức cả quyền cao rõ ràng Phụng sứ mệnh đi sang Tây Vực Lại có công nên được phong Hầu Còn nhiều hưởng thụ về sau Móc mưa tưới rộng thấm sâu một nhà Đã gia tặng mẹ cha quan tước Lại hai con cũng được tập phong Một nhà mũ tía đai hồng Bóng linh rợp đất, tiếng đồng dậy sân Hoa kiều mộc hương lân thơm nức Phấn Hoàng ân trang sức mặn mà Nghìn năm danh tiết chẳng nhoà Cỏ cây tươi tốt sơn hà vẻ vang Hình mãnh hổ Đoài Lang tiếp phúc Đất chính long khô mộc nẩy chồi Chanh vanh sơn bão thuỷ hồi Án coi chính án, đường coi chính đường Bài ca “Đức Thánh cậu” Cơn sóng bạc Cần vương thống tiễn Lĩnh gươm vàng “Đức cậu Tạ Công” (1) Bụi trần quét sạch như không Chức phong Đại tướng sân rồng sắc ban Tài thao lược đảm đang mọi nhẽ Khí anh hùng sức khoẻ ai đang Ném trâu qua róng lạ thường Câu văn chầu hát một phương tụng truyền Sống, anh hùng dẹp yên lũ thỏ Thác, thần thiêng ủng hộ muôn dân Khí thiêng khi đã về thần Sắc phong bản xã phúc thần anh linh Vua Khải Định tứ tuần đại khánh Sắc bách thần đế mệnh ban ra Tặng phong Đức tổ họ nhà “Trung, Hưng, Dực, Bảo” quốc gia tôn thần Ngôi đình Chính đồng dân bái ngưỡng Người bốn thôn vui hưởng ngàn xuân Sinh vi Tướng, tử vi Thần Vậy trong tộc phả muôn phần kính tôn (1) Sau khi cụ Tạ Đình Chiêm mất được phong là Thành Hoàng làng và có bài ca về Đức Thánh Cậu, đó là cụ Đô Chỉ huy xứ Tạ Quốc Công. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 4 Tạ Đình Thiều Quyền thống lĩnh mầu son phê phó Hầu Thiều dương cụ tổ thứ tư Sơn hà rạng vẻ đế cư Đỉnh Hồng gió mát, sông Lô sóng bằng Cây ngọc thụ nẩy măng tươi tốt Giữ nghiệp nhà nối gót ông cha Cành vàng lá ngọc rườm rà Môn lư phiệt duyệt, sơn hà phong quang Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 4 Tạ Ngọc Quỳnh Cụ Ngọc Quỳnh cũng hàng tứ thế Tước phong hầu nghiệp kế gia thanh Lý, đào hai vẻ đua xanh Một nhà Hầu tước thanh danh trên đời Lăng phần cụ phong nơi cát địa Đất Thánh từ tỏ vẻ anh linh Lý, ngư hý thuỷ hữu tình Văn chương hoành phát tài đinh rành rành. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 4 Tạ Ngọc Lưu Nền thế đức theo anh dóng dả Hầu lưu long chức cả quyền long Vẻ vang con cháu tiên rồng Xôn xao ty trúc hội đồng quân quan Nhà Khanh tướng vinh quang mọi nhẽ Cội chi lan lắm vẻ phân phương Mầm hồng một đoá kinh hương Xênh xang ngọc bội, rỡ ràng kim môn. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 5 Tạ Đình Lượng Cung long mã bước dồn từng bước Sắc vua phong Hầu tước Lượng Hoàng Đường mây nhẹ bước thung thăng Toàn gia thực lộc đẩu thăng vững vàng Trên gác tía giang san rạng vẻ Dưới thềm lan thi lễ đêm ngày Ba cành đan quế xinh thay ! Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần Tôn lăng Cụ phong phần Đại hiếu Phương triều dương ấy kiểu hướng Nam Tằng phong điệp hiến kỳ quan Án tiền thuỷ nhiễu, sơn hoàn bao la. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 5 Tạ Chính Thống Theo gót anh, em đà có chí Sắc phong Hầu Thống lý bảnh bao Lầu hoa ty trúc xôn xao Anh em tán tía, võng đào nghênh ngang Đường sĩ hoạn quan sang phỉ chí Khí anh hào vó ký thẳng dong Phong lưu phú quý một dòng Hương bay mười dặm, nguyệt lồng ba cây. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 6 Tạ Đình Hân, Tạ Đình Trọng Hoa lan ngọc thơm lây dòng dõi Tổ sáu đời nghiệp nối ông cha Son vua, phấn nước mặn mà Cụ Hân, cụ Trọng ngọc ngà trâm anh Sắc khâm phụng rành rành Nam tước Phúc dồi dào lại được hai ông Hạt thông lại nở ra thông Bốn mùa tươi tốt trùng trùng quả hoa. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 6 Tạ Đình Trân Trường Cử sĩ phát khoa cụ Hiệu Bảng triều Lê quý hiệu Thanh Điền Sôi kinh nấu, sử một niềm Vang chuông bể học, rạng đèn làng văn Nền giáo dục khuyên răn tự Cụ Chốn trường văn dẫn dụ đàn con Một nhà khoa bảng luôn luôn Mầu lam tươi sắc, nét son đậm mùi Vườn Đan Quế theo đòi họ Đậu Dưới thềm lan năm cậu, năm cô Trước đèn nghĩa huấn nhỏ to Gương nhuần sắc nước, phấn tô vẻ trời. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 6 Tạ Ngọc Hoàn Quan Điển mục trong coi súc mục Sở An Hưng tiếng nức gần xa Chăn nuôi vui cảnh, vui nhà Vừa là ích nước, vừa là lợi dân. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 6 Tạ Trường Sách Ngoài mười dặm vỗ yên dân chúng Tổng An Bồi nhất thống quy mô Anh hào lẫm liệt quyền hô Oanh lăng líu lưỡi, yến co quẩn lời Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 6 Tạ Đình Tài Cụ Đình Tài hơn đời thao lược Tập tước Hầu theo được gót ông Kiếm cung thoả chí anh hùng Đường đường phó đội một vùng biên cương Trên điện quế hương bay ngũ phúc Dưới thềm lan rượu chúc tam đa Huệ, lan sực nức một nhà Đào vừa phai thắm, sen đà nẩy xanh. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 7 Tạ Ngọc Hồ Khoa văn học Hiệu sinh chiếm bảng Bẩy đời truyền khoa hoạn thơm danh Đuốc hồng rạng vẻ trâm anh Mày râu tỏ mặt thư sinh trên đời. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 7 Tạ Ngọc Du Đường hoan lộ thảnh thơi nhẹ bước Du đường Nam phong tước sĩ lang Lam bào đượm vẻ phi phương Nho y sở xứ tứ phương thỉnh cầu. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 7 Tạ Đình Trật Nhà khoa hoạn vẻ vang Cụ bẩy Chức Huyện thừa lừng lẫy Thuý Vân Cầm đường ngày lại thêm xuân Dưới đèn giãi tỏ trước sân tam hoè. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 7 Tạ Đình Thụy Quyền Bá hộ thêm bề phấn lực Sức Cửu trùng lĩnh chức Tướng quân Một đời dễ có mấy thân Cờ đào chỉ giáo ba quân trong ngoài. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 7 Tạ Ngọc Ruyến Phó thủ hợp - tổng tài - sự vụ Chữ Duyên Bình hiệu cụ Thanh Đan Bộ đường bút án thảnh thơi Trung thành một mực trong ngoài như in Lòng tử ái Hoàng thiên chẳng phụ Phúc hà sa thuỳ dụ hậu nhân Cỏ hoa tươi tốt muôn phần Vườn xuân đầm ấm bẩy cành nở nang. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 7 Tạ Đình Lộc Huyện Khang Lộc vẻ vang trọng nhiệm Chức Huyện thừa nức tiếng thanh liêm Lòng băng, dạ tuyết còn truyền Cũng là phúc trạch gia tiên dồi dào. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 8 Tạ Đình Kiêu Chánh Đội trưởng quyền trao Bá hộ Từng ghi công Trướng hổ bao lần Sắc phong Phấn dũng tướng quân Xứng danh dòng dõi Hầu quân tám đời. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 8 Tạ Đình Mạo Nhà quý hiển thảnh thơi ấm thụ Bậc hào hoa con cụ Thuý Vân Đường mây nhẹ bước thanh tân Huyện thừa nối gót nghiêm quân sẵn sàng Chuông bể hoạn khua vang thôn dã Trống làng văn gióng giả ba Hầu Quản huyền vang dậy trước sau Khoa danh nổi tiếng, Khanh Hầu vinh thân. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 8 Tạ Đình Xuân Triều Mẫn đế xuất thân Lang tướng Chí phò vua khí tượng hơn đời Gặp cơn sóng gió tơi bời Trèo non, vượt bể xa xôi quản gì Cụ Lân dương yêu vì sức khoẻ Hội cửa Trà phò đế xuất bôn Đường cù, dặm liễu nước non Trung trinh một dạ sắt son tấc lòng. Văn kỷ niệm các cụ tổ đời thứ 8 Hiệu sinh : Tạ Đình Hiệu, Tạ Đình Hạo, Tạ Đình Đức, Cai hợp : Tạ Đình Tuần, Huyện thừa : Tạ Đình Vĩnh, Tạ Đình Đoán (Các cụ con cụ Tạ Ngọc Ruyến) Nhà cụ Quế vốn dòng khoa hoạn Khoa Mậu tài chiếm bảng ba ông Văn chương thanh giá lạ lùng Đăng khoa ba cháu với ông một nhà Nhờ phúc ấm toàn gia vô bạch Lại Huyện thừa đặc cách ba ông Thênh thang võng tía ngựa hồng Hoa tươi giắt mũ sắc lồng màu lam Lầu hoa ngọc văn chương đàm tiếu Trật thăng quan chẳng thiếu trong ngoài Cụ Thừa, cụ Thiếu, cụ Cai Một nhà sáu cụ quan giai lần lần. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 8 Tạ Đình Khang Liền gốc quế nẩy mầm tuấn tú Cũng một dòng cháu cụ Phát Khoa Huyện thừa lựa khúc cầm ca Đèn trời giãi tỏ một nha dân tình. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 8 Tạ Đình Sen Triều Minh mạng ông Vành lấn cõi Cụ Tiền cai cứng cỏi ra tay Mai đình mười dặm hương bay Lòng dân uy phục gót mây nhẹ nhàng Cửa Ba Lạt âm vang sóng vỗ Bãi Cồn Tiền súng nổ âm vang Mưu sâu tài nghệ ai đang Ngoài thông cùng giặc, trong toan với Triều Chước trá hàng toan mưu cùng giặc Giặc tin lòng nên mắc mưu thần Triều đình khao thưởng ban ân Liễu hoa Nam tước thêm phần bảnh bao. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 9 Tạ Đình Duyên Tiến công lang Huyện thừa chức vụ Chức đời truyền cháu cụ Ngọc Du Kim Sơn huyện thự chu du Giãi đèn bút án, thuận thu dân tình. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 9 Tạ Đình Tước Kim long điện Thiếu Khanh bổ dụng Chức thượng thư danh vọng một thời Ân nhờ tiên tổ tài bồi Nêu gương con cháu đời đời vinh hoa. Văn kỷ niệm các cụ tổ đời thứ 9 Tạ Đình Thiệu, Tạ Đình Nham Vốn dòng dõi văn chương xuất thế Nghiệp thi thư kế thế khoa trường Vườn nho rạng vẻ phi phương Mậu tài đắc chiếm bảng vàng hai ông. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 9 Tạ Xưng Quyền Cai tổng san Khê nhất thống Hội Thái Bình dân tổng yên vui Sân mai vóc tuyết đượm mùi Hơi đồng chẳng nhuộm tanh hôi tấc lòng Tính cương trực được lòng dân chúng Với quan trên không chút vấn vương Công minh quyết đoán nhẽ thường Giữ sao trọn nghĩa mọi đường mới nên Cánh đồng Đò quan trên bắt nhượng Cụ khăng khăng giữ ruộng cho làng Lý rằng mốc cắm, giây chăng Đồng điền ranh giới ngàn năm vững bền. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 9 Tạ Ngọc Dư Đời cụ Hậu gây nền ấm phúc Giữ quyền dân gặp lúc thăng bình Hương bay ngào ngạt dặm phần Bốn mùa hoa quả một sân lý đào Ngoài hương lý công lao xiết kể Trong họ hàng tỏ vẻ tôn nghiêm Góp công sức, góp bạc tiền Từ đường kính phụng Tổ tiên một toà. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 10 Tạ Bằng Trường hương thí mở khoa cống tuyển Chốn rừng nho nổi tiếng văn chương Câu văn nét bút lạ thường Tình thâm một cửa bảng vàng chiếm khoa. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 10 Tạ Ngọc Suý Con cụ hậu tài hoa xuất thế Chốn khoa trường kế thế nghiệp ông Văn chương uyên bác lạ thường Đức, tài nổi tiếng giảng đường tổng ta Vua Tự Đức ban ra điều dụ Khuyên dân lành tập tục dân gian Đội ơn Thánh trạch chứa chan Văn phong đâu đấy mở mang dần dần Dòng nội tộc xa gần ai biết Sưu tầm ra ghi chép lại ngay Lập nên gia phả từ đây. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 11 Tạ Bồi Tài học hải xa gần nức tiếng Kế ba khoa liền chiếm tú tài Bộ Công bang biện đặc sai Đời truyền mười một anh tài có ông. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 11 Tạ Tất Đạt Chí cả ép trong vòng tài đức Đường công danh chen bước gian nan Âu đành Hương lý tiến thân Anh hùng tuỳ với giang sơn của mình Trên việc quan thừa hành đắc lực Việc trong làng cốt được dân ưa Bao lần tắm gội móc mưa Hàm Bát phẩm sánh vừa công lao Chức tiên chỉ ngồi chiếu cao Quê nhà đã có ai đâu sánh bằng. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 11 Tạ Xuân Mậu Được bổ dụng Thái Bình thơ lại Nhưng ít lâu nghĩ lại chán chường Công danh ngại bước đường trường Trở về vườn cũ tìm đường doanh sinh Giỏi tính toán quen nghề đồng ruộng Cấy lúa gặp thời, buôn bán gặp may Cơ đồ nổi dậy từ đây Dựng nên cơ nghiệp sân xây, nhà lầu Nhân cơ hội thóc nhiều, bạc lắm Lại sẵn lòng tôn kính tổ tiên Góp phần cùng với họ đường Xây từ đường họ cho đường hoàng hơn Sắm đồ thờ sơn son xếp bạc Xây nhà ngang, đĩa bát sắm sanh Lại xây nghĩa địa quy làng Khỏi phần thất lạc, trọn tình truy tư. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 11 Tạ Quang Ngoài dặm liễu dân cu vui vẻ Dưới Tụng đường lời lẽ công minh An Bồi một giải thênh thênh Móc mưa đầm ấm trước sân Mai đình. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 11 Tạ Ngọc Điến Tài Tú sĩ nổi danh học rộng Dương tôn sư cũng trọng vì tài Bao năm đèn sách miệt mài Mong chờ khoa cử mậu tài có tên Nào ngờ đâu tới phen thi cử Chốn trường văn lại lỡ thời cơ Vốn là dòng dõi ông cha Quay về Tổng lý ắt là thành công Xem chiều hướng văn chương phát triển Chốn đình chung luận điểm đề ra Sĩ nông nay đà hài hoà Diêm Điền xin được đổi ra Thư Điền Nhân cơ hội có chiều thư thả Lại tục biên gia phả họ nhà Cũng là nối chí chú, cha Cũng là công sức đậm đà tình quê. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 11 Tạ Xuân Đán Hiệu liêm chính cũng hàng vai cánh Giữ quyền dân sẵn tính thanh liêm Lòng phiếm ái, dạ trung kiên Dân thôn kính nể, quan trên cũng vì Nền tử lý gặp khi thuận lợi Cụ ra tay xây lại đình chung Ba cung đình Chính thong dong Lối vào ba cửa, tam quan hai tầng Cung trong là chốn thờ thần Cung ngoài các cháu học hành sớm trưa Công cụ Lý móc mưa nhuần thấm Cảnh đình làng nay vẫn còn duyên Còn tại thế hoa sen đang toả Tới cảnh tiên phúc quả lại dành Mấy lời ký chúc đinh ninh Xuất tiền nộp cả thuế đinh thôn Đoài. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 12 Tạ Quốc Thưởng Buổi niên thiếu ngoài hai mươi tuổi Sóng Vũ môn đua đuổi với đời Hai khoa thi đỗ tú tài Sắc phô cây ngọc, hương bay dặm phần Thấy danh lợi nhiều phần bó buộc Nên thờ ơ chen bước cửa quyền Bạc bài mượn thú giải phiền Cho khuây thế sự, cho quên tháng ngày Cũng lắm lúc cảm hoài, tức cảnh Nhiều văn thơ ngâm vịnh còn truyền Tiền đồ nghĩ đến thiếu niên Trường làng có một, trẻ em thì nhiều Khuyên dân xã mở thêm trường nữa Để con em có chỗ học hành Ao tù sen mọc tươi xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Lời cụ Tạ Đức Bản Nhớ ơn nghĩa tổ tôn sâu nặng Dựng cõi này đằng đằng ngàn thu Có cổ thụ, có sân hồ Có đền kỷ niệm, có chùa tụng kinh Dân bốn thôn văn minh rực rỡ Lúa hai mùa hoa nở tốt tươi Phong lưu phú quý đời đời Cành kia cội nọ xa vời biết bao Người cố lý xôn xao oanh yến Kẻ tha hương quyến luyến phụng hoàng Diêm Trì, Tân Lạc, Tiểu Hoàng Đông Thành, Hải Nhuận vẻ vang nhường nào Những nơi ấy phong trào liền cõi Cứ hàng năm dòng dõi tầm tông Khắp miền Nam, Bắc, Tây, Đông Chân trời mặt biển phái dòng xa khơi Làng tử lý là nơi đất tổ Gánh giang sơn đừng đổ cho ai Bể còn rộng, sông còn dài Soi gương để tạo kẻo hoài công phu Nhà hợp tự mới tu rộng rãi Lăng quy phần một dải thênh thênh Này khám hội, này long đình Này chuông phúc quả, này bình lư hương Đồ bát biểu, giá gương mới chế Cờ ngũ hành, khí tế bằng đồng Tả, chiêu, hữu mục ung dung Từ thời bát tiết hội đồng tế chung Công đức ấy, giống dòng tự đấy Non sông này lừng lẫy đã lâu Đời đời Khanh, Tướng, Công, Hầu Giang sơn tỏ mặt mày râu một nhà Chữ rằng : “Phúc trạch hà sa”. Ngày tháng trọng Xuân Năm thứ 11 triều Bảo Đại Cháu đời thứ 12 Tạ Đức Bản Chi Diêm Trì vâng mệnh Tôn trưởng trong họ Kính soạn ! Bốn bài văn kỷ niệm do ông Tạ Đình Ty biên soạn năm Canh Ngọ (1990) Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 10 Tạ Ngọc Tiệp Cùng dòng dõi con nhà tư thế Chốn trường văn kế nghiệp đàn anh Thông minh tài đức rành rành Văn chương tuyệt bút nổi danh thầy đồ Dạ trung chính vô tư khẳng khái Đức hiền hòa để lại đời sau Nhân khi thanh thản bấy lâu Viết tiếp gia phả phần sau chưa điền Cùng góp sức bút nghiên huynh đệ Cùng lưu truyền gia phả họ ta Chẳng mong áo gấm thẻ ngà Sao cho xứng đáng con nhà trâm anh. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 12 Tạ Đức Bản Làng Diêm Trì nổi danh cụ Khoá Áng văn chương dễ có mấy người Thơ văn nét bút tuyệt vời Tiếc thay tài đức không người kế ngôi Thanh danh cụ xa xôi còn nhớ Gia phả nay được rõ ngọn nguồn Tổ tiên công đức lưu truyền Diễn ca kỷ niệm một thiên lưu đề. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 12 Tạ Trường Quý Sống thanh bạch một đời cụ Khoá Đức hiền hoà con cháu noi gương Họ hàng trên kính dưới nhường Công cha nghĩa mẹ đôi đường kính tôn Đạo đức ấy lưu truyền con cháu Chữ Hán văn dẫn dụ môn sinh Nghĩa đời hai chữ “Hiếu, Trung” Giữ cho trọn vẹn ước mong của thày. Văn kỷ niệm cụ tổ đời thứ 12 Tạ Ngọc Lân Vốn dòng dõi nho gia kế thế Lại gặp khi thời thế phân tranh Ham chi một chút công danh Vui nghề giáo huấn thanh danh một nhà Cuốn gia phả ông, cha lưu giữ Nay tục biên quốc ngữ dịch ra Kế thừa sự nghiệp ông cha Lại kiêm thư ký họ nhà bao năm Cùng trưởng họ chăm, nom việc tổ Ba mươi năm trọn nghĩa vẹn tình.