Chi tiết gia đình
Là con của: NGUYỄN PHÚC KHOÁT
Đời thứ: 10
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
Bà húy là Nguyễn Thị Hoàn, người làng Minh Linh tỉnh Thừa Thiên. Ngày tháng Năm sinh không rõ. Bà là con của Diễn Quốc công Nguyễn Phúc Trung, bà mẹ họ Phùng (không rõ tên).
Năm Kỷ hợi (1779), khi quân Trịnh tiến đánh Phú Xuân, bà ra ở ẩn tại làng An Du, nơi quê ngoại. Khi đức Thề Tổ khôi phục được đất Gia Định, được các tướng tôn làm Đại Nguyên Súy Nhiếp Quốc Chính, bà được rước vào Gia Định và được tôn làm Quốc mẫu. Khi quân Tây Sơn tấn công Sài Côn (Sài Gòn) bà và đức Thế Tổ phải chạy ra Phú Quốc. Địch lại tiến đánh Phú Quốc, đức Thế Tổ phải chạy ra Côn Lôn, thuyền trôi dạt trên biển mấy ngày, khổ cực đáng cay muôn vàn. May nhờ gặp được nguồn nước ngọt ở giữa biển, đức Thế Tổ mới thoát nạn. Khi đức Thế Tổ về lại Phú Quốc, thuật lại sự tình khốn đốn vừa qua, bà bảo rằng : "Giữa biển lại có nước ngọt, thế là trời giúp chúng ta, con chớ nên lấy sự khó nhọc làm nản chí." Đức Thế Tổ lạy tạ và nói rằng : "Con kính cẩn tuân lời mẹ dạy". Năm Ất tỵ (1785) bà phải lánh sang Xiêm. Năm Đinh mùi (1787), bà trở về Phú Quốc. Năm Mậu thân (1788), bà về lại Gia Định. Mùa đông tháng 10 năm Bính thìn (1796), đức Thế Tổ dẫn quần thần mang kim sách, kim bửu dân lên, tôn bà làm Quốc mẫu Vương thái phi. Năm Nhâm tuất (1802), bà được phụng nghinh về kinh thành. Năm Quí hợi (1803), đức Thế Tổ tôn bà làm Vương thái hậu và cho xây cung Trường Thọ để bà ở. Năm Bính dần (1806) đức Thế Tổ lên ngôi Hoàng Đế, tôn bà làm Hoàng thái hậu. Năm Đinh mão (1807), bà được 70 tuổi đức Thế Tổ làm lễ mừng thánh thọ.
Bà người ôn nhu, đoan trang và thương yêu mọi người, đối với anh chị bà là Từ phi lại càng thân thiết. Bà Từ phi lâm bệnh nặng gặp lúc bà đau, đức Thế Tổ không dám tâu lên. Đến khi bà Từ phi mất bà mới biết, bà giận không chịu ăn cơm. Khi đức Thế Tổ đến thăm, bà nói : "Thân già này chỉ có một bà chị, lúc đau ốm không được thấy mặt viè thế mà ăn không ngon, ngủ không yên". Đức Thế Tổ quì dưới thềm xin lỗi và an ủi mãi bà mới chịu dùng cơm.
Năm Tân mùi (1811) bà đau nặng. Trước đó có sao chổi mọc, người hầu tâu chuyện, bà không được vui. Có đêm ra xem rồi bảo người hầu : "Sao chổi hiện ra ứng vào thân già này."
Bà mất ngày 14 tháng 9 Tân mùi (30-10-1811), thọ 74 tuổi. Lăng táng tại làng Đình Môn, (Hương Trà, Thừa Thiên), tên lăng là Thụy Thánh. Đức Thế Tổ tôn thụy là : "Ý Tĩnh Huệ Cung An Trinh Từ Hiếu Khang Hoàng Hậu."
Bà sinh được ba người con trai là Hải Đông Quận vương Nguyễn Phúc Đồng, Thế Tổ Cao Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ánh, Thông Hóa Quận vương Nguyễn Phúc Điền và một người con gái là Long Thành Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú.
Năm Quí dậu (1813) thần chủ bà được rước về phối thờ với dức Hưng Tổ tại Hưng Miếu.
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
- NGUYỄN PHÚC CÔN (Nam)
- Nguyễn Thị (khuyết danh) (Nữ)
Các anh em, dâu rể
- NGUYỄN PHƯỚC CHƯƠNG (Nam)
- NGUYỄN PHÚC MÃO (Nam)
- NGUYỄN PHÚC CƯỜNG (Nam)
- NGUYỄN PHÚC DỰC (Nam)
- NGUYỄN PHÚC CHẤT (Nam)
- NGUYỄN PHÚC KÍNH (Nam)
- NGUYỄN PHÚC BAN (Nam)
- NGUYỄN PHÚC HẠO (Nam)
- NGUYỄN PHÚC AN (Nam)
- NGUYỄN PHƯỚC TUẤN (Nam)
- NGUYỄN PHÚC YẾN (Nam)
- NGUYỄN PHÚC ĐẠN (Nam)
- NGUYỄN PHÚC QUYỀN (Nam)
- NGUYỄN PHÚC DIỆU (Nam)
- NGUYỄN PHƯỚC THUẦN (Nam)
- NGUYỄN PHÚC XUÂN (Nam)
- NGUYỄN PHƯỚC THẮNG (Nam)