Chi tiết gia đình
Là con của: BỬU LÂN Vua THÀNH THÁI
Đời thứ: 17
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
VUA DUY TÂN
Huý danh: Ngài Nguyễn Phúc Vĩnh San (14/8/1899 - 25/12/1945)
Thọ 46 tuổi. Trị vì 9 năm (1907 - 1916)
Vua Duy Tân là con Đức Thành Thái. Ngài kế vị lên ngôi ngày 5/9/1907, đặt niên hiệu Duy Tân. Ngài ở ngôi vào tuổi thiếu niên (9 tuổi), nhưng được nung đúc lòng yeu nước, nên sớm có tinh thần chống thực dân Pháp giành độc lập. Tuy ở trên ngai vàng, sang lòng Ngài luôn thao thức với vận nước, muốn đem hoài bão ra tay cứu nước cứu dân. Vì vậy Ngài đã tạo cơ hội tiếp xúc với các nhân sĩ, cũng như Hội Việt Nam Quang Phục. Sau đó đi đến cuộc tiếp kiến 2 lãnh tụ Quang Phục là ông Thái Phiên và ông Trần Cao Vân vạch kế hoạch khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa dự định tiến hành vào đêm ngày 3 rạng ngày 4/5/1916, khi Đức Duy Tân đã rời Hoàng Cung cùng các yếu nhân khởi nghĩa xuống thuyền tại bến Thương Bạc, ngược lên sông Lợi Nông (cầu ga Huế), xuôi về đầm Hà Trung, sẽ phát lệnh khai chiến bởi một tiếng súng thần công. Nhưng sự việc đã bị bại lộ, nên cuộc khởi nghĩa thất bại, Ngài bị Pháp bắt, đày qua an trí tại đảo Réunion, thuộc địa Pháp ở Châu Phi.
Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Ngài bị tử nạn máy bay tại Châu Phi ngày 26/12/1945. Năm 1987, con trai trưởng của Ngài là Georges Vĩnh San và gia đình đã đưa hài cốt về nước, làm lễ tại điện Long Ân (lăng Đức Dục Đức) ngày 6/4/1987 và cải táng tại khuông viên An Lăng, xã An Cựu, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.
Hoàng Phi của Đức Duy Tân:
- Hoàng Phi huý là Mai Thị Vàng.
- Bà kế kết hôn với Ngài năm 1927 là Bà Fernande Antier (quốc tịch Pháp) sanh hạ 4 người con:
1 Rita Suzy Georgette Vĩnh San (1929) 2 Guy Georges Vĩnh San (1933)
3 Yves Claude Vĩnh San (1934) 4 Joseph Roger Vĩnh San (1938)
Việc thờ phụng ba Hoàng Đế yêu nước bị thực dân Pháp phế truất:
Trước Cánh mạng Tháng 8: tại Thế Miếu trong Đại Nội, thờ 7 Vua là Đức Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh và Khải Định.
Từ năm 1954 trở lại đây: bài vị của Đức Vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phước Tộc rước vào Thế Miếu tôn thờ với các Đức Vua nêu trên.
Huý danh: Ngài Nguyễn Phúc Vĩnh San (14/8/1899 - 25/12/1945)
Thọ 46 tuổi. Trị vì 9 năm (1907 - 1916)
Vua Duy Tân là con Đức Thành Thái. Ngài kế vị lên ngôi ngày 5/9/1907, đặt niên hiệu Duy Tân. Ngài ở ngôi vào tuổi thiếu niên (9 tuổi), nhưng được nung đúc lòng yeu nước, nên sớm có tinh thần chống thực dân Pháp giành độc lập. Tuy ở trên ngai vàng, sang lòng Ngài luôn thao thức với vận nước, muốn đem hoài bão ra tay cứu nước cứu dân. Vì vậy Ngài đã tạo cơ hội tiếp xúc với các nhân sĩ, cũng như Hội Việt Nam Quang Phục. Sau đó đi đến cuộc tiếp kiến 2 lãnh tụ Quang Phục là ông Thái Phiên và ông Trần Cao Vân vạch kế hoạch khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa dự định tiến hành vào đêm ngày 3 rạng ngày 4/5/1916, khi Đức Duy Tân đã rời Hoàng Cung cùng các yếu nhân khởi nghĩa xuống thuyền tại bến Thương Bạc, ngược lên sông Lợi Nông (cầu ga Huế), xuôi về đầm Hà Trung, sẽ phát lệnh khai chiến bởi một tiếng súng thần công. Nhưng sự việc đã bị bại lộ, nên cuộc khởi nghĩa thất bại, Ngài bị Pháp bắt, đày qua an trí tại đảo Réunion, thuộc địa Pháp ở Châu Phi.
Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Ngài bị tử nạn máy bay tại Châu Phi ngày 26/12/1945. Năm 1987, con trai trưởng của Ngài là Georges Vĩnh San và gia đình đã đưa hài cốt về nước, làm lễ tại điện Long Ân (lăng Đức Dục Đức) ngày 6/4/1987 và cải táng tại khuông viên An Lăng, xã An Cựu, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.
Hoàng Phi của Đức Duy Tân:
- Hoàng Phi huý là Mai Thị Vàng.
- Bà kế kết hôn với Ngài năm 1927 là Bà Fernande Antier (quốc tịch Pháp) sanh hạ 4 người con:
1 Rita Suzy Georgette Vĩnh San (1929) 2 Guy Georges Vĩnh San (1933)
3 Yves Claude Vĩnh San (1934) 4 Joseph Roger Vĩnh San (1938)
Việc thờ phụng ba Hoàng Đế yêu nước bị thực dân Pháp phế truất:
Trước Cánh mạng Tháng 8: tại Thế Miếu trong Đại Nội, thờ 7 Vua là Đức Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh và Khải Định.
Từ năm 1954 trở lại đây: bài vị của Đức Vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phước Tộc rước vào Thế Miếu tôn thờ với các Đức Vua nêu trên.
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
- MAI THỊ VÀNG (Nữ)
- FERNANDE ANTIER (Nữ)
Các anh em, dâu rể
- VĨnh Diệm (Nam)
- Vĩnh Linh (Nam)
- Vĩnh Trân (Nam)
- Vĩnh Uyển (Nam)
- VĨNH NGOẠN (Nam)
- VĨNH KỲ (Nam)
- VĨNH CHƯƠNG (Nam)
- VĨNH THÂM (Nam)
- VĨNH QUÊ (Nam)
- VĨNH GIÁC (Nam)
- VĨNH KHA (Nam)
- VĨNH VŨ (Nam)
- VĨNH NGỌC (Nam)
- VĨNH TIẾN (Nam)
- VĨNH CẦU (Nam)
- LƯƠNG TRINH (Nữ)
- LƯƠNG LINH (Nữ)
- LƯƠNG CẨM (Nữ)
- LƯƠNG THÂM (Nữ)
- VĨNH GIU (Nam)