BẠN NÊN DÙNG TRÌNH DUYỆT MOZLLA-FIREFOX LƯỢC SỬ GIA PHẢ DONG HỌ LÊ KINH TRIỀU QUẬN
Con cháu có mang Họ Lê có tinh thần Thân tộc nên tìm hiểu về cội nguồn dòng họ
-Thái hậu Dương Vân Nga truyền lệnh mời thập đạo tướng quân Lê Hoàn về triều , đem áo long bào của tiên đế trao cho Lê Hoàn vào năm 980 .
PHÁ TỐNG :
Lê Hoàn lên ngôi vua , lấy hiệu là Lê Đại Hành , tên nước vẫn là Đại Cồ Việt , đóng đô ở Hoa Lư .
Ông ban bố định chế triều nghi , ân xá mọi việc trong thiên hạ , chuẩn bị lực lượng phá Tống .năm 981 , quân Tống chia làm 2 đạo quân tiến vào nước ta , bộ quân đánh vào Lạng Sơn , thuỷ quân men theo sông Bạch Đằng mà tiến.
Ông bố trí cho đóng cọc vót nhọn trên sông Bạch Đằng và cử quân chặn bước chân của giặc tại đó .
Riêng ông đích thân chỉ huy quân chủ lực án binh trên rừng núi Chi Lăng ngăn đường bộ của địch .
Đoàn quân thiện chiến của giặc bị đánh tơi bời trên cửa sông Bạch Đằng .
Tại ải Chi Lăng , xác giặc chết ngổn ngang , tướng giặc phải tử trận , số khác bị bắt sống , số còn lại phải hốt hoảng tháo chạy về nước .
Nước ta hoàn toàn sạch bóng quân thù.
Nhờ tài thao lược và mưu trí ,
Lê Hoàn đã đánh bại kẻ thù trên cả 2 trận Bạch Đằng và Chi Lăng , giết được tướng giặc Hầu Nhân Bảo , bảo vệ nền độc lập .
BÌNH CHIÊM:
Ở phía Nam thường xuyên bị các bộ tộc Chăm xâm chiếm , năm 982 ,
Lê Hoàn thân chinh cầm quân đánh quân Chăm đến tận làng Nguyệt Biều ( Thừa Thiên - Huế) ,
khai mở đất từ nam Thanh Hoá đến Nghệ Tĩnh .
Đây là đợt mở cõi đầu tiên xuống phía nam trong lịch sử dựng nước của đất nước ta .
DẸP MAN :
Lê Hoàn thân chinh dẹp yên cuộc nổi dậy của 49 động Mường tại Hà Nam , vua sai đem 3 vạn quân khai mở đường bộ từ Châu Ái đến Châu Địa Lý , đó là đường bộ Bắc Nam đầu tiên của nước ta .
Vua ở ngôi được 26 năm , từ 980 –1005 , 3 lần đặt niên hiệu :
* Thiên Phúc: 980 – 988
* Hưng Thống: 989 – 993
* Ứng Thiên: 994 – 1005
Đền thờ vua tại xã Trường Yên ,huyện Gia Viễn , nay huyện Hoa Lư , Ninh Bình . Lễ hội hằng năm diễn ra từ ngàymồng 4 đến 11 tháng 3 âm lịch .
Vua sanh hạ các ngài :
LONG THÂU
LONG TÍCH
LONG VIỆT
LONG ĐINH
LONG ĐĨNH
LONG CÂN
LONG TUNG
LONG TƯỞNG
LONG KÍNH
LONG MANG
LONG ĐỂ.
MINH XƯỞNG
Từ năm 989 đến năm 995 , Lê Đại Hành hoàng đế đã lần lượt phong vương cho các hoàng tử gồm 13 tước vương ( trong đó có một người con nuôi tước Phù Đái Vương , đóng quân ở Phù Đái) , chia nhau ở các châu quận .
8 vị hoàng tử đều được phân công phía bắc Hoa Lư , ở 2 bên bờ bắc – nam sông Hồng hiện nay .
Một hoàng tử đóng quân ở Vũ Lung ( thuộc Thanh Hóa ngày nay ) phía nam Hoa Lư .
Qua các danh hiệu , tước vương của các hoàng tử đã gợi lên nhiệm vụ , sứ mạng mà vua cha đã đặt ra .
4.1 LÊ LONG THÂU :
Ông là con trưởng của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Kình Thiên Đại Vương năm 989 .
Ông mất sớm .
4.2 LÊ LONG TÍCH ( NGÂN TÍCH ):
Ông là con thứ 2 của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Đông Thành Vương năm 989 .
Nguyên con trưởng là Lê Long Thâu mất sớm , ông là con thứ 2 , đáng lẽ phải được lập làm thái tử , nhưng vua cha lại muốn lập Lê Long Đĩnh lảm thái tử .
Ông buồn phiền và triều thần cũng khuyên vua không nên bỏ trưởng lập thứ . Sau đó vua cha lập người em thứ 3 của ông là Long Việt làm thái tử vào năm 1004 , cùng lúc đó đồng gia phong tước cho ông .
Sau khi Long Đĩnh tự lập làm vua , ông chán nản bỏ trốn nhưng sau đó ông bị hại chết ở Thạch Hà .
4.3 LÊ LONG VIỆT ( HUYÊN ):
Sinh năm Quý Mùi 983 , mất năm Ất Tỵ 1005 , miếu hiệu Lê Trung Tông . Ngài là con thứ 3 của Lê Đại Hành hoàng đế .
Ông được phong Nam Phong vương năm 989 , đã được vua cha định ngôi thái tử thay cho Lê Long Đinh và Long Tích , nhưng khi vua cha mất , các anh em tranh nhau ngôi báu .
Tháng 10 năm 1005 , ông được gia phong , nhưng chỉ được 3 ngày thì bị em là Lê Long Đĩnh bức hại .
4.4 LÊ LONG ĐINH:
Thái tử con vua Lê Đại Hành , được phong tước Ngự Man Vương n ăm 991 , đóng quân ở Phong Châu .
Ông từng theo cha đi đánh giạc nhiều nơi , từng tham dự đánh Tống , phạt Chiêm , uy danh lừng lẫy .
Đến khi vua cha qua đời , nhìn thấy cảnh tranh ngôi bá đồ vương , cốt nhục tương tàn , ông chán ngán bỏ kinh sư về chốn ruộng vườn ẩn dật .
4.5 LÊ LONG ĐĨNH:
Sinh năm Ất Dậu ( 985 ) , mất năm Kỷ Dậu ( 1009 ) , được phong tước Khai Minh Vương năm 992 , đóng quân ở Đằng Châu Phần Kim Động .
Tháng 10 năm Ất Tỵ , ông lên ngôi vua . Ông mất lúc 24 tuổi , ở ngôi được gần 4 năm . Gồm 2 niên hiệu :
Ứng Thiên ( 1005 – 1007 )
Cảnh Thụy ( 1008 – 1009 )
4.6 LÊ LONG CÂN:
Ông là con thứ 6 của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Ngự Bắc Vương năm 991 , đóng quân tại Phù Lan , vùng Phù Vệ , Đường Hào .
4.7 LÊ LONG TUNG:
Ông là con của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Phiên Định Vương năm 993 , đóng quân tại Tư Doanh , Ngũ Huyện Giang .
4.8 LÊ LONG TƯƠNG:
Ông là con của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Phó Vương năm 993 , đóng quân tại Đỗ Động Giang .
4.9 LÊ LONG CẢNH ( LONG KÍNH ):
Ông là con của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Trung Quốc vương năm 993 , đóng quân tại Càn Đà , Mạt Liên .
Khi Lê Long Đĩnh hại anh để chiếm ngôi , ông không phục , bèn hợp với Ngự Bắc Vương Lê Long Cân chiếm giữ trại Phù Lan , thuộc xã Phù Vệ huyện Đường Hào , Hải Dương .
Lê Long Đĩnh sai tướng đi dẹp , nhưng ông vẫn dũng cảm chống cự .
Cuộc chiến tan rã khi sự nghiệp nhà Lê về tay nhà Lý .
4.10 LÊ LONG MANG :
Ông là con của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Nam Quốc Vương năm 994 , đóng quân tại Vũ Lung .
4.11 LÊ LONG ĐỂ:
Ông là con của Lê Đại Hành hoàng đế , được phong tước Hành Quân Vương năm 995 , đóng quân tại Bắc Ngạn , Cổ Lãm .
4.12 LÊ MINH XƯỞNG :
Ông là con thứ của Lê Đại Hành hoàng đế , em vua Lê Ngoạ Triều ( Long Đĩnh ) . Khi Lê Long Đĩnh lên ngôi , ông phục vụ dưới trướng .
Vua lê Ngoạ Triều là người rất sùng bái đạo phật , ông đã cho Lê Minh Xưởng cùng với quan trưởng thư ký Hoàng Thành Nhã sang nhà Tống ( TQ ) thỉnh kinh Kim Cương và kinh Điạ Tạng , mở đầu cho sự hưng thịnh của phật giáo dưới triều Lý sau này .
ĐỆ NGŨ TỔ
LÊ LONG ĐINH THÁI TỬ
TƯỚC NGỰ MAN VƯƠNG
黎 龍 丁 太 子
爵 禦 蠻 王
Thái tử con vua Lê Đại Hành , tước Ngự Man Vương .
Ông từng theo cha đi đánh giạc nhiều nơi , từng tham dự đánh Tống , phạt Chiêm , uy danh lừng lẫy . Đến khi vua cha qua đời , nhìn thấy cảnh tranh ngôi bá đồ vương , cốt nhục tương tàn , ông chán ngán bỏ kinh sư về chốn ruộng vườn ẩn dật .
ĐỆ LỤC TỔ
PHÒ MÃ ĐÔ UÝ - TRUNG THƯ LỆNH
LÊ TÔNG THUẬN
Ông là cháu nội của Lê Đại Hành hoàng đế , là Châu Mục châu Phong , được vua Lý Thái Tông gả công chúa Kim Thành vào tháng 3 năm 1036 .
Tháng 3 năm 1063 , phò mã Lê Tông Thuận dược vua Lý Thái Tông cử làm chánh sứ , đến Quế Châu ( Trung Quốc ) đòi lại các động đã mất vào tay Tống trước đây .
Vua Tống Anh Tông ra lệnh trả các đất ấy cho Đại Việt .
ĐỆ THẤT TỔ
LÊ ĐẠC
Ông là con của phò mã đô úy – trung thư lệnh Lê Tông Thuận thời Lý .
Ông làm quan đến chức Minh Tự . Sử sách có chép , ông có 2 người con :
LÊ KIẾM - Tam nguyên đô tuần kiểm .
LÊ THƯỚC - Thiền sư .
7.1 LÊ KIẾM :
7.2 LÊ THƯỚC :
Là thiền sư đời Lý Anh Tông , pháp danh Trí Thiện , đạo hiệu Tĩnh Lư . Quán Châu Phong ( Sơn Tây ) . Ông là cháu gọi vua Lê Đại Hành bằng tằng tổ ( cháu 5 đời ) , gọi Ngự Man Vương Lê Long Đinh bằng cố nội , gọi phò mã Trung thư lệnh Lê Tông Thuận bằng ông nội , gọi Minh Tự Lê Đạt bằng cha , Tam nguyên Đô Tuần Kiểm Lê Kiếm bằng anh .
Ông từng ứng thí , thi đỗ đến tiến sĩ được phong chức Cung hậu Thư gia . Năm 27 tuổi , một hôm nghe sư Giới Không giảng đạo , ông phát tâm tu ở chùa Từ Sơn xứ kinh bắc .
Trở thành người đứng đầu thế hệ thứ 16 dòng thiền Nam Phương .
Thái Uý Tô Hiến Thành và Thái Bảo Ngô Hoà Nghĩa rất mến chuộng ông và xem ông như bậc thầy . Hai triều Lý Anh Tông và Lý Cao Tông có mời ông ra làm quan nhưng ông đều từ chối .
ĐỆ BÁT TỔ
TAM NGUYÊN ĐÔ TUẦN KIỂM
LÊ KIẾM
HẬU LÊ
TỔ 1
TRIỆU TỔ CAO THƯỢNG TỔ HOÀNG ĐẾ
Lê Thứ ( Lê Mỗi )
PHỔ TỪ HOÀNG THÁI HẬU
Đinh Thị ( trưởng nữ quan phụ đạo Bái Đô Trang )
肇 祖 高 上 祖 皇帝
普 慈 皇 太 后 - 輔 道 長女
Tổ quê ở phủ Thanh Hoá , huyện Lương Giang , thôn Như Áng ( Như Ưởng ) xã Khả Lam , huyện Lương Giang , Ái Châu , nay xã Xuân Lam , huyện Thọ Xuân , Thanh Hoá . Sau đó theo về quê vợ ở huyện Lôi Dương .
Ngày 20 tháng giêng , ngài thăng hà, táng tại xã Bái Đô núi Trang Lãnh . Ngày 15 tháng 10 năm Mậu Thân ngài được tôn phong Hoàng Đế nghinh vào điện Tuyên Nhơn hương khói phụng sự.
TỔ 2
TẰNG TỔ CAO THƯỢNG TỔ MINH HOÀNG ĐẾ
LÊ HỐI
TẰNG TỔ TỶ CAO MINH HOÀNG THÁI HẬU
NGUYỄN THỊ NGỌC LỘC
曾 祖 高 上 祖 明 皇 帝
曾 祖 妣 高 明 皇 太 后
Quán xã Xuân Lam , Thọ Xuân , Thanh Hoá .
Tằng tổ là người hiền lành nhưng trí lo xa , một hôm dạo chơi trên núi Lam Sơn , huyện Lương Giang thấy đàn chim bay rất đông quanh quẩn dưới chân núi trông như đám người hội tụ . Tằng tổ cho rằng đây là chỗ đất lành chim đậu , bèn dời nhà đến đó để ở , tức là vùng đất Lam Sơn .
Ông tổ chức khai hoang , phục hoá trồng tỉa . Sau 3 năm đã kiến tạo một sản nghiệp lớn , con cháu ngày một đông , gia nhân ngày một nhiều , nối đời làm hào trưởng cả một vùng núi Lam Sơn .
Sau khi thăng hà táng tại huyện Lương Giang, hiệu lăng là Lai Viên , ngày 15 tháng 10 năm Mậu Thân , vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế phong cho tổ là Tằng Tổ Khảo hiệu Huyền Tổ Cao Hoàng Đế và xây dựng điện Tiên Du để hương khói phụng sự .
Đức Chơn Từ Hoàng Thái hậu , họ Nguyễn huý Lộc , quê quán tại Cổ Lôi Dương , nguyên sanh một người con là ngài LÊ THINH .
Sau khi thăng hà , đức bà táng tại bổn quán . Ngày 15 tháng 10 năm Mậu Thân , vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế phong cho bà là Chơn Từ Hoàng Thái Hậu và xây diện Tuyên Nhơn hương hoả phụng sự .
TỔ 3
TUYÊN TỔ PHƯỚC HOÀNG ĐẾ
LÊ THINH
TRINH TỪ HOÀNG THÁI HẬU
NGUYỄN THỊ LÀNG
宣 祖 福 皇 帝
貞 慈 皇 太 后
Tuyên Tổ Phúc Hoàng Đế , tánh Lê húy Thinh . Hoàng tổ nối nghiệp tiền nhân , gia cư ngày càng thêm củng cố , gia thuộc thân tín , tôi tớ có thêm hàng ngàn người , xa gần người người đều qui phục .
Ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mẹo , ngài thăng hà , táng tại Bình Lai , hiệu Lăng là Táng Sơn . Ngày 15 tháng 10 n ăm Mậu Thân , vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế tôn phong : Tuyên Tổ Phước Hoàng Đế và nghinh về điện Lam Kinh hương hoả phụng sự .
Đức bà họ Nguyễn tên húy là Làng ,quán ở thôn Chiêu Bố , nguyên sanh 2 người con :
1. LÊ TÒNG
2. LÊ KHOÁNG
Đến ngày 26 tháng 2 giờ Mùi , năm Kỵ Tỵ , ngài thăng hà , táng tại thôn Bình Diên , hiệu lăng là Thọ Mạng Nham . ngày 15 tháng 10 năm Mậu Thân , vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế tôn phong Hoàng Tổ Tỷ hiệu Trinh Từ Hoàng Thái Hậu và xây điện Tích Nhơn để hương hoả phụng sự .
TỔ 4
HIỂN TỔ CAO HOÀNG ĐẾ
LÊ KHOÁNG
HIỂN TỪ HOÀNG THÁI HẬU
TRỊNH THỊ NGỌC THƯƠNG
顯 祖 高 皇 帝
顯 慈 皇 太 后
Hiển Tổ Cao Trạch Hoàng Đế , tên húy là KHOÁNG , ngài là người giàu lòng nhân ái phúc hậu , hiền lành vui vẻ , và làm nhiều việc thiện .
Luôn lấy lẽ nghĩa nuôi dưỡng tân khách , thương yêu nhân dân, chu cấp cho người nghèo khổ , giúp đỡ người tật bệnh , nên nhân dân đều phụ cân đức của người .
Ngày 28 tháng 10 giờ Tỵ năm Canh Tý ngài thăng hà , táng tại Lương Giang , hiệu lăng là Chiêu Nghi Giản Phật Hoàng .Sau khi đánh dẹp quân Ngô , năm Mậu Thân , vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế lên ngôi hoàng đế vào ngày 15 tháng 10 , sau đó tôn phong Hoàng Khảo hiệu là Cao Trạch Hoàng Đế và nghinh vào điện Lam Kinh hương khói phụng sự .
Đức Hiển Từ Hoàng Thái Hậu họ Trịnh tên húy Thương , quê ở Cổ Lôi Dương , Thuỷ Trú . Bà sinh được 3 trai v à 3 gái :
1 .LÊ HỌC – Chiêu Hiếu Đại VươnG
2 .LÊ TRỪ – Hoằng Vũ ĐạiVương
3 .LÊ LỢI – Thái Tổ Cao Hoàng Đế
4 .LÊ THỊ NGỌC TÁ
5 .LÊ THỊ NGỌC VINH
6 .LÊ THỊ NGỌC TIÊN
Ngày 26 tháng 6 năm Tân Sửu , đức bà thăng hà và táng tại bổn quán , xứ Bình Lai , hiệu lăng là Thuỷ Trú , ngày 15 tháng 10 năm Mậu Thân , được tôn phong là Hiển Từ Hoàng Thái Hậu và xây Từ Đường Lăng để hương khói phụng sự .
LÊ HỌC – Tôn phong Chiêu Hiếu Vương
TRẦN THỊ NGỌC DUẪN - Thận Từ Thái Phi
昭 孝 王- 黎 學
慎 慈 太 妃 - 陳 氏 玉 筍
Ngài Chiêu Hiếu Vương họ Lê tên húy Học , cha là Hiển Tổ Cao Hoàng đế tên huý Khoáng , mẹ là Trịnh Thị Ngọc Thương .Ngài là con trưởng , thừa kế nghiệp cha .
Ngày mồng 4 tháng 4 giờ thìn năm Nhâm Tý ngài thăng hà , táng tại quê nhà gần mộ tổ , hiệu lăng là Lam Sơn Lăng .Ngày 10 tháng giêng năm Giáp Dần , vua Thái Tôn Văn Hoàng đế tôn phong cho hoàng bá hiệu là Chiêu Hiếu Vương , xây điện thờ tại Bái Đô Trang hiệu là Tuyên Hoàng Nhơn . Sau vua hạ chiếu rước vương vị của ngài về kinh để hương hoả phụng sự .
Đức Thận Từ Thái Phi họ Trần huý Ngọc Duẫn , người ở Bái Đô trang , Lôi Dương huyện , là con gái của ông Trần Gia Định Vương .
Sanh hạ các ngài :
1. LÊ THẠCH – Trung Vũ Đại Vương
2. LÊ PHÚC AN – Quận Công
3. LÊ THỊ NGỌC LỮ – Quận chúa
4. LÊ THỊ NGỌC NGHĨA – Quận chúa
Sau khi mất táng tại quê nhà gần lăng đức Phổ từ , đến ngày 10 tháng 1 năm Giáp Dần , vua Thái Tôn Văn Hoàng Đế tôn phong cho bác dâu hiệu là Thận Từ Thái Phi và rước vào điện Tuyên Nhơn hương khói phụng sự .
LÊ THẠCH –Trung Vũ Đại vương
Lê Thạch là cháu nội của ngài Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Thương , là con của Chiêu Hiếu Đại Vương LÊ HỌC , gọi ngài LÊ TRỪ và LÊ LỢI bằng chú ruột .
Ông là một trong những người đầu tiên hưởng ứng nhiệt liệt cuộc khởi nghĩa Lam Sơn . Lúc bấy giờ , ông đã là một thanh niên cường tráng và nổi danh có chí khí hơn người , ông có công lao đóng góp rất to lớn cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong những ngày gian khổ .
Năm 1418 , khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa , ông là một trong những tướng tâm phúc của nghĩa quân . Tuổi trẻ lại tài cao lại giàu lòng nhân ái vì thế Lê Thạch được binh sỹ dưới quyền rất kính phục. Sinh thời , Lê Thạch được Bình Định vương Lê Lợi phong tới chức Thiết Kỵ Vệ Thứ Thủ , tước Lương Nghĩa Hầu - tước thuộc hàng cao cấp nhất của các tướng lúc bấy giờ .
Từ năm 1418 đến năm 1421 , ông đã tham gia nhiều trận đánh khác nhau , trong đó có 4 trận lớn , cả trong 4 trận ấy, ông đều được coi là người lập công đầu .
Tháng 12 năm 1421 , vua đem quân về đóng tại Sách Thuỷ . Khi ấy tù trưởng của Ai Lao là Mãn Sát đã lâm vào thế đường cùng nên muốn tìm kế hoà hoãn để đợi viện binh .
Chỉ có tướng mang hàm Bình Chương là Lê Thạch nói rằng không thể cho giặc giải hoà , liền tự mình hăng hái cầm quân tiến bước diệt giặc .
Chẳng may ông bị trúng tên của giặc mà hy sinh anh dũng .
Năm 1428 , ngay khi lên ngôi hoàng đế , Lê Lợi đã truy phong Lê Thạch là Nhập Nội Kiểm Hiệu Thái úy Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự , tước Trung Vũ Đại vương , được thờ tại Tẩm miếu .
Thân Phụ của ông cũng được tôn phong Lê Học Chiêu Hiếu Đại Vương .
Đồng thời ông được ban thưởng công thần khai quốc .
Đời vua Lê Thái Tông truy tặng ông Lương quận Trung Vũ vương .
Đời vua Lê Nhân Tông , tặng ông Quận công Trung dũng Anh nghị Chân híến đại vương .
Đời vua Lê Thánh Tông tặng ông Lương Quốc Công ,gia thuỵ Chân Hiến Túc vương .
LÊ LỢI
THÁI TỔ CAO HOÀNG ĐẾ
PHẠM NGỌC TRẦN
CUNG TỪ HOÀNG THÁI HẬU
TRỊNH THỊ NGỌC LỮ
THẦN PHI
太 祖 高 皇 帝 黎 利
Họ Lê húy Lợi , Vua sanh giờ tý ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu ( 1385 ) , niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần , tại làng Chủ Sơn ( Thủy Chú ) , huyện Lôi Dương .
Lê Lợi là con trai thứ ba của ông Lê Khoáng và bà Trịnh Thị Ngọc Thương, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa. Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, tiếng nói như chuông, bậc thức giả biết ngay là người phi thường.
Lớn lên, ông làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, ông chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trừ loạn lớn.
Mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú, v.v… chính thức phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước.
Suốt 10 năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi.
Sau Hội thề Đông Quan, ngày 29-12-1427, bại binh của giặc bắt đầu được phép rút quân về nước an toàn, đến ngày 3-1-1428, bóng dáng quân Minh cuối cùng đã bị quét sạch khỏi bờ cõi.
Ngày 15-4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi Vua tại địa Kính Thiên, xưng là “Thuận Thiên thừa vận, Duệ Văn Anh vũ đại Vương” đặt tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) đại xá thiên hạ, ban bố Bình Ngô đại cáo, đây chính là “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ hai của Tổ quốc ta. Bình Ngô đại cáo mở đầu ghi:
“… Việc nhân nghĩa cót ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Xét như nước Đại Việt ta,
Thực là một nước văn hiến
Cõi bờ sông núi đã riêng
Phong tục Bắc Nam cũng khác…”
Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi thảo là một thiên anh hùng ca tuyệt vời, bất hủ, nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc ta.
Trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lời bàn: “Lê Thái Tổ từ khi lên ngôi đến khi mất, thi hành chính sự, thực rất khả quan, như ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học… cũng có thể gọi là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp…”
Quân Minh chiếm được nước ta, chúng chia thành quận huyện để cai trị, chúng bắt nhân dân ta làm tôi tớ, thuế má lao dịch nặng nề, làm cho nhân dân ta vô cùng cực khổ.
Ngày Mậu Thân, tháng Giêng năm Mậu Tuất (7-2-1418), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa, có quân sư Nguyễn Trãi dâng sách Bình Ngô nhằm thu phục lòng người; Trần Nguyên Hãn (cháu nội của quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán) và nhiều nhân tài, hào kiệt các nơi tham gia.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là một cuộc kháng chiến trường kỳ, kéo dài suốt 10 năm. Có lúc nghĩa quân bị bao vây, quân tướng chỉ còn mấy trăm người, không có gì ăn phải đào củ chuối và giết ngựa cho quân sĩ ăn. Lê Lai đã cải trang giống Lê Lợi “Liều mình cứu chúa” để Lê Lợi thoát khỏi vòng vây tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Cuộc kháng chiến trường kỳ đó ban đầu là một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng chiến thuật du kích để tiêu hao sinh lực địch, nghĩa quân mạnh dần lên, đã dùng kế sách “vây thành diệt viện” kết hợp thuyết phục giặc đầu hàng.
Quân ta bao vây thành Đông Quan (Hà Nội), Nhà Minh sai tướng An Viễn Hầu Liễu Thăng dẫn 10 vạn quân sang cứu viện, nghĩa quân đã tổ chức phục ở binh ải Chi Lăng (Lạng Sơn).
Tướng Trần Lựu đã chém đầu tướng Liễu Thăng. Quân ta đưa ấn tín cờ tiết của Liễu Thăng vào thành Đông Quan cho giặc Minh biết, tướng giặc Vương Thông hết hy vọng vào viện binh đã xin đầu hàng.
Ngày 16-12-1427, Lê Lợi - Nguyễn Trãi cho tướng Minh Vương Thông đến “Hội thề Đông Quan”, chúng nguyện xin hứa không bao giờ xâm phạm Đại Việt nữa.
Lê Lợi - Nguyễn Trãi lấy đức hiếu sinh, cấp lương thực cho 10 vạn quân Minh được an toàn rút quân về nước.
Ngày 3-1-1428, nghĩa quân hoàn toàn thắng lợi, lập nên triều đại Nhà hậu Lê.
Lê Thái Tổ mất ngày 22-8 năm Quý Sửu (1433) hưởng thọ 49 tuổi, táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn, Thanh Hóa, trị vì được 6 năm.
Đức Bà họ Phạm, húy là Ngọc Trần, người xã Quần Lại, huyện Lôi Dương, Thanh Hoá. Bà là một trong số các bà vợ của Lê Lợi. Khi Lê Lợi mới khởi nghĩa đánh giặc Minh phải di chuyển luôn, không ở yên một chỗ nào, bà lặn lội theo hầu, trải nhiều gian khổ. Bà sinh ra Nguyên Long (vua Thái Tông sau này) vào mùa đông năm Quí Mão (1423), tức là vào năm thứ 6 của cuộc khởi nghĩa.
Năm Ất Tỵ (1425), Bình Định Vương Lê Lợi vây thành Nghệ An, khi đến thành Trảo Khẩu ở Hưng Nguyên, nơi có đền thờ thần Phổ Hộ.
Ban đêm nhà vua nằm mộng thấy có vị thần đến bảo rằng: "Tướng quân cho tôi một người thiếp, tôi sẽ xin phù hộ tướng quân diệt giặc Ngô, làm nên nghiệp đế". Hôm sau Bình Định Vương gọi các bà vợ đến, hỏi: "Có ai chịu đi làm vợ vị thần không? Sau này khi ta lấy được nước sẽ lập con của người ấy làm thiên tử". Các bà không ai nói gì, chỉ có bà Phạm khảng khái quỳ thưa: "Nếu minh công giữ lời hứa, thì thiếp nguyện xả thân. Ngày sau làm nên cơ nghiệp lớn chớ phụ con thiếp". Nhà vua khen ngợi và thương cảm, bèn nhận theo lời hẹn đó. Khi ấy Nguyên Long mới lên 3 tuổi, bà liền cho người hầu bế ẵm nuôi nấng. Nhà vua sai làm lễ tế thần, dùng bà làm vật tế. Đó là vào ngày 24 tháng 3 năm Ất Tỵ (1425). Khi Lê Lợi đã bình định được thiên hạ, lên ngôi vua, bảo với quần thần rằng: "Bà ấy đáng làm chúa cả trăm vị thần nước ta, không ai dám trái".
Bèn sai người rước quan tài về an táng ở Thanh Hoá.
Đi đến xã Thịnh Mỹ thì trời tối, chưa kịp qua sông phải ngủ trọ ở chợ. Đến đêm mối đùn lên quanh quan tài một đống đất cao, biến thành nấm mồ. Sứ giả thấy làm lạ, trở về tâu vua.
Vua chợt hiểu ra, nói: "Đó là vị thần đã làm theo lời hẹn", bèn bảo cứ để quan tài ở đó, dựng điện Hiếu nhân để thờ, đồng thời dựng miếu, đặt thần chủ ở Lam Kinh để cúng tế.
Đến năm Kỷ Dậu (1429) nhà vua cử quân vương Tư Tề là con trưởng đã lớn làm quốc vương, tạm coi việc nước. Tư Tề là người đã từng lăn lộn từ những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa, đã từng cùng với Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan làm con tin để thực hiện hoà ước với Vương Thông. Năm Nhâm Tý (1432) Quốc Vương Tư Tề đã đem quân đi đánh Châu Phục Lễ, bức hàng tù trưởng là Đèo Cát Hãn và con y là Đèo Mạnh Vượng. Cuối đời, vua Lê Thái Tổ nhiều bệnh, chính sự của nhà nước đều giao cho Vương quyết định. Nhưng vì Vương mắc chứng cuồng, giết bừa các tỳ thiếp, dần dần không hợp ý vua. Vua rất lo nghĩ đến trách nhiệm của người thừa kế.
Một hôm giữa trưa nằm ngủ, chợt mộng thấy bà Hoàng hậu Phạm Ngọc Trần than trách rằng: "Nhà vua phụ công của thiếp, từ hồi mới khởi nghĩa đã đem thiếp cho vị thần.
Nay được thiên hạ rồi, mà ơn thánh chẳng được hưởng". Vua tỉnh dậy, bồi hồi xúc cảm, bèn cho lập Nguyên Long làm con đích (Hoàng thái tử). Khi Lê Thái Tổ mất, Nguyên Long được nối ngôi niên hiệu là Thái Tông. Tháng 6 năm Giáp Dần (1434) truy tôn mẹ là Phạm Ngọc Trần làm Cung từ quốc thái mẫu, thờ phụ ở Thái miếu.
Tháng 2 năm Đinh Tỵ (1437) truy tôn làm Cung từ Quang Mục quốc thái mẫu.
Tháng 12 năm Đinh Tỵ (1437) truy tôn làm Hoàng thái hậu.
Thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ nguyên sanh thái tử Lê Tư Tề , được vua cha phong làm thái tử lúc 10 tuổi , do ông không hiền nên bị vua cha giáng phong xuống chức Quận Ai Vương . ngày 20 tháng 10 năm Giáp dần , đức bà thăng hà , táng tại bổn quán , lăng hiệu Bái Cai Đề hương hỏa phụng sự .
Vua Lê Lợi sinh ra các vị :
1. LÊ HỮU LANG - Quốc vương Tư Tề
2. LÊ NGUYÊN LONG – Vua Lê Thái Tông
3. LÊ THỊ ĐÀO NỮ - Liễu Hạnh công chúa
4. LÊ THỊ NGỌC CHÂU – Trang Tử công chúa
TỔ 5
ĐỨC LAM QUỐC CÔNG HOẰNG DŨ VƯƠNG
LÊ TRỪ
藍 國 公 贈 弘 裕 王
Nguyên phối :
ĐỨC BÀ TRINH CẨN THÁI PHI
LÊ THỊ LĂNG
貞 謹 太 妃
Họ Lê tên húy là Trừ , con thứ 2 của vua Hiển Tổ . Mẹ vua là đức bà Trịnh Thị Ngọc Thương , vua dời nhà về quê vợ ở châu Thái Nghiệp , đến năm Nhâm Tý ngày 29 tháng 11 , giờ ngọ vua băng hà , táng tại xứ Bình Phong , huyện Lương Giang , miếu hiệu là Mỵ Lăng . Ngày 10 tháng giêng năm Giáp Dần , vua Thái Tôn Văn Hoàng Đế tôn phong vương cho bác hiệu là Hoằng Dũ Vương .
Ngày 12 tháng 2 năm Giáp Dần , vua Thánh Tôn Thuần Hoàng Đế rước ngài về Giáp Thất ở làng Lam Sơn hương khói phụng sự .
Đức bà họ Lê tên húy là Lăng , người châu Thái Nghiệp . Nguyên sinh 4 người con trai :
- Con trưởng : LÊ KHÔI
- Con thứ : LÊ KHANG
- Con quý : LÊ KHIÊM
- Con út : LÊ ĐẠO
Qua giờ Thân , ngày 27 tháng 7 năm Tân Sửu , đức bà thăng hà , táng tại quê nhà . Ngày 10 tháng giêng năm Giáp Dần , được tôn phong hiệu là Trinh Cẩn Thái Phi .
Đến đời vua Thánh Tông Thuần Hoàng đế , lại được tôn phong , miếu hiệu là Hoằng Khánh hương khói phụng sự .
TỔ 6
LÊ KHIÊM – XƯƠNG QUỐC CÔNG
昌 國 公 黎 謙
Nguyên phối:
ĐỨC BÀ LÊ THỊ NGỌC LOAN
黎 氏 玉 鸞
Trọng thần Triều LÊ SƠ , quê xã Xuân Lam , Thọ Xuân Thanh Hoá . Ông là cháu nội của Hoàng Khảo LÊ KHOÁNG , là con thứ 3 của Hoằng Dũ Vương LÊ TRỪ , cháu gọi Lê Thái Tổ bằng chú ruột .
Ông là em của của Chiêu Huy Đại Vương LÊ KHÔI và Hiển Công Vương LÊ KHANG , là anh của Thiếu Uý LÊ ĐẠO .
Ngay ngày đầu của Bình Định Vương LÊ LỢI dấy binh bình Ngô , ông đã tham gia và được phong đại tướng .
Do có nhiều công lao trong quá trình chống Minh , ông được phong đến chức tước Bình Xuân Hầu và được Triều Lê ban thưởng công thần khai quốc .
Năm Thiệu Bình thứ 1 ( 1434 ) , năm Giáp Dần , ngày mồng 5 tháng 2 đời vua LÊ THÁI TÔNG , phong ông làm ĐÔ ÁP NHA TRI tả ban sự , Năm Ất Mẹo 1435 , ông làm NHẬP NỘI THỊ SẢNH ĐÔ ÁP NHA tham dự triều chính .
Tháng 7 năm 1436 , ông làm THƯỢNG THƯ LỆNH TRI HẢI TÂY đạo quân dân bạ tịch , được đặc ân thưởng 100 mẫu quan điền và tăng chức 1 bậc ( 21 tháng giêng 1454 ) .
Sau khi ông mất , được gia phong Thái Uý Xương Quốc Công .
Các con của Tổ là Tả tướng Khắc Vũ hầu LÊ THẬP , hay LÊ CÔNG QUẬN , trấn thủ lộ Thăng Hoa , thừa tuyên Quảng Nam.LÊ VĂN CẢNH , LÊ THÔI , LÊ QUÝ THIÊNG đều là tiền hiền khai khẩn vùng đất mới Chiêm Động thuộc thừa tuyên Quảng Nam.
Đức bà Lê Thị Ngọc Loan quán tại xã Phân Dương , huyện Đường .Sinh hạ các vị::
1. LÊ THẬP ( LÊ CÔNG QUẬN )
Tả tướng Khắc Vũ hầu
2. LÊ CẢNH ( LÊ VĂN CẢNH )
Bình Chiêm Triệu Quận công
3. LÊ THÔI ( LÊ THÔI )
Bình Chiêm Triệu Quận công
4. LÊ THIÊNG ( LÊ QUÝ THIÊNG)
Bình Chiêm Triệu Quận công
TỔ 7
LÊ Á PHỤ QUỐC CÔNG TÔN THẦN
THỈ TỔ TRIỆU CƠ LÊ ĐẠI TÔN LANG
HUÝ HIỆU
LÊ THÔI
黎 亞 父 國 公 尊 神
始 祖 肇 基 黎 大 尊 郎
黎
福
催
Còn có tên là LÊ THIÊNG , được tôn xưng là Lê QUÝ THIÊNG, quán hương Lam Sơn – Thanh Hóa Tổ là con thứ 4 của Xương Quốc Công Lê Khiêm ( Lê Khắc Khiêm ) , cháu nội của Hoằng Dũ Đại Vương LÊ TRỪ , gọi hoàng đế LÊ LỢI bằng ông nội chú ( Hoàng tổ thúc khảo ) . Tổ với LÊ THÁNH TÔNG là huynh đệ thúc bá ( anh em chú bác )
Hội Đồng gia tộc họp ngày 18-11-năm 1994 (âm lịch)
Sau khi ông Lê vẫn Kiên tự tận; Theo truyền thống Phụ hệ con cái mang họ người cha;
Việc kế thừa cúng chạp hằng năm giao cho ông Lê văn Kinh cùng các con của ông
Từ năm 1996 Tổ tiên dời về nhà ông Lê văn Kinh 387 trần cao vân Đà nẵng
Từ năm 2005 dời về nhà ông Lê văn An 6 đường tuyên sơn 6 quận Hải châu.
Từ năm 2011 dời về 122 Kỳ Đồng Đà nẵng Nay thông báo cho Thân Tông tiện việc liên lạc chạp giổ Tổ tiên Chi Tộc mình.
Kể từ nay 2012 Hội Kỵ ngày 16/4/ Âm lịch . Bên Ông Lê v ân Trớ tổ chức cúng cơm Hội kỵ.
Địa danh nơi có nhà thờ T ộc L ê
Tuỳ gia đình có điều kiện giầu, có hiếu cha mẹ ông bà cũng nên gìn giữ nền văn hoá củ Dân Tộc,mà trên 1000 năm đô hộ của Dân Bắc phưong (gọi là Tầu)cũng không thể đồng hoá Đạo Khổng giáo,Lảo giáo lên đất nước chúng ta được,chứ theo các Đạo khác ngoài Đạo chính thống thời Pháp thuộc các vua quan nhà Nguyễn rướt về như Bà la môn giáo,Tinh lành,Cao đài...không( là Thờ cúng ông bà cha mẹ)chúng tôi không dám bàn.
-1- Chiêu hổ:(bỏ)
-2- Thiết hồn bạch:(bỏ)
-3-Lập tang chủ(do gia tộc chọn người có khả năng trong gia đình,đứng là chủ tang lể)
-4-Lâp người hộ lể (ban lể tang,có địa phương Hội bảo thọ lo liệu)
-5-Tắm gội.(ban tẩm liệm lo liệu,gia đình đứng hầu phía ngoài hai bên,trai phía tay trái ,gái phía tay mặt,găng màng che kín cho người qúa vãng)
-6- Phạn hàm(chủ tang lể thực hiện theo sự chỉ dẩn của ban tẩm liệm)
-7- Nhập quan.(Sau khi nhập quan phải có lể cáo Thành Hoàng,do ban nghi lể xóm,tổ hoặc khối thôn lo liệu,tang chủ nhờ người đến nhà ông chủ bái của xóm đấy xin đứng lể cáo.Có thanh la trống lịnh,Chiên trống khai nhịp để bái lể đúng trình tự)
-8- Thiết linh sàng(ngày nay thay lể đặt bàn vong,bàn vong được chuẩn bị trước đó ,sát phía trước quan tài,phía sau bàn phật nếu có,trên treo liển công bố 2 tờ,một tờ triệu,Viết liẻn thờ vong linh,ảnh thờ (thay cho bài vị khi xưa chưa có máy chụp ảnh thờ,ngày nay bài vị chỉ dùng cho các vị tổ,con sút sảo không có hình ảnh mà thôi)
Văn thiết bàn linh cho vong:
năm gì,ngày mấy tháng mấy,cô tử (ai tử)tên gi,vì nay đặt linh sàng,kính dâng cơi trầu mâm rượu cáo vu cố phụ(mẫu)Họ gì phủ quân.Vị tiền viết:
Tham ôi! Thân Mẫu đi đâu,bỏ nơi tỷ lý cây lặng gió lay;đau đớn nhẽ một phút hơi tàn,tên còn người mất;xót xa thay (kẻ còn người mất) đôi đường chia rẻ.Thế mới biết thay đổi cơ trời,mênh mông trần thế,chút tình con thơ dại, chỉ thấy chưng phảng phất hồn mây,đền công bể ái nguồn ân,gọi là thiết bàn linh một lễ,tế cho phải phép;tuân theo thói tục đặt bày,cha/mẹ ra đi,đau đớn tất lòng lũ trẻ.
-9- Minh tinh (bài triệu)
-10- THÀNH PHỤC:
Văn tế tang:Than ôi cha(mẹ) bỏ cỏi trần.tiếng tăm còn lại sự nhà ai bi vắng bóng cha mẹ già,tầm sửa lể nghi tang phục;xin chứng lấy lòng thành ,một chút chia xa,cầu hồn phách được yên xin lấy khăn sô áo sô tầng quần vải bạch thay vào,không ngại về sau báo hiếu đền ân thân mẫu chín tháng cưu mang ba năm bú mớm.
-11-Tang phục :có 5 hạng theon đó mà chịu tang:
-a-1- Ba năm Quần áo sổ gấu Tang cha mẹ(cha mẹ chồng còn sống,cha mẹ còn một thời không sổ gấu)
-a-Cơ phục là để tang một năm.
-b-Cửu công là để tang chín tháng.
-c-Tiểu công là để tang năm tháng.
-d-Ty ma là để tang ba tháng.
1-Tang Cao,Tằng tổ: Để tang cao tổ phụ mẫu 3 tháng.(khăn Vàng
2-Tang tằng tổ phụ mẩu:Để tang tằng tổ phụ mẫu 3 tháng.(khăn điều)
.Nếu cha,ông mình chết rồi thời để tang 3 năm.
3-Tang tằng tổ bá thúc phụ mẫu thời để tang điều 3 tháng.
4-Tang tằng tổ cô 3 tháng,đi lấy chồng thời thôi.
5- Tổ phụ mẫu để tang một năm,nếu cha chết rồi là đích tôn thừa trọng phải 3năm(thay cho bố)
6- tổ bá thúc phụ mẫu: để tang 3 tháng.
7- bá thúc phụ mẫu họ cùng cô họ chỉ đẻ tang 3 tháng
8- bá thúc phụ mẫu cùng cô chỉ đẻ tang 9 tháng
9- đường bá thúc phụ mẫu cùng đường cô:là 5 tháng 10- Tộc bá thúc phụ mẫu cùng cô để tang 3 tháng.cô đi lấy chồng thời thôi)
TANG PHỤC BẢY VAI:
1-VỢ Tang để 1 năm.
2-Vợ lẻ nàng hầu để tang 3 tháng.
3-Anh chị em ruột để tang 1 năm.chị dâu em dâu 9 tháng
4- Anh chị em con bác con chú để tang 9 tháng,còn đi lấy chồng 5
tháng,vợ anh em ấy 5 tháng.
5- Anh chị em họ 4 đời 5 tháng,chị dâu ấy 3 tháng,chị em đi lấy chồng 3 tháng.
6-Anh chị em họ 5 đời 3 tháng,vợ anh em ấy cùng chị em đi lấy chồng thời thôi.
&-anh chị em cùng mẹ khác cha tđể tang 5 tháng,ângnh em ấy không tang,,đến đời sau cũng không tang.
TANG VỀ HÀNG CON
1- CON CHẾT TRƯỚC CHA MẸ:
ĐỂ TANG 1 NĂM dâu cả cũng 1 năm.dâu thứ 9 tháng.
2- Con gái đã xuất giá 9 tháng
3- con rể để tang 3 tháng.
4-Cháu trai họ:con của anh em cũng một năm vợ cháu trai ấy thời 9 tháng,cháu gái một năm,xuất giá 9 tháng.
5- Cháu trai gái nhà chú bác,thì đều 5 tháng vợ nó thời 3 tháng vợ chắt ấy cùng cháu gái có chồng thời đều thôi.
Tang về hàng cháu
1- Cháu đích tôn thì một năm,vợ cháu ấy 5 tháng.
2-Các cháu trai gái thứ đều chín tháng,vợ các cháu ấy 3 tháng ,cháu gái có chồng 5 tháng.
TANG CHÁU TẰNG
Đứa chắt trai trực hệ 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái thời thôi. Tang cháu huyền:
Đứa chút trai tứ đại trực hệ mà chắt sinh ra đời là 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái thời thôi.
tang con chồng và dâu cả đều một năm,dâu thứ chín tháng.Anh chị em của kế mẫu 5 tháng
Giá mẫu xuất mẫu tang con mình đẻ một năm con gái mình đẻ 9 tháng.Còn cha sau của họ không tang.
Thứ mẫu tang con mình cùng con chồng đều một năm. TANG HỌ NGOẠI (Tức họ nhà mẹ)
1-Tang ông bà sinh ra mẹ,cùng anh chị em ruột với mẹ,tục gọi cậu hay dì ,già,thì tang 5 tháng. vợ Cậu chồng dì không tang. ông bà sinh ra đích mẫu,cùng anh chị em ruột với đích mẫu,thì 5 tháng
.3-Anh chị em con cô con cậu ruột:cùng con dì ruột thì tang 3 tháng
4-0Cậu tang cháu gái con nhà chị em ruột,đều tang 5 thang,không cứ đã láy chồng,mà tang vợ cháu trai 3 tháng.
5-con của con gái mình và vợ cháu mình đều 3 tháng không cứ đã có chồng.
VỢ ĐỂ TANG HỌ NHÀ CHỒNG:
1-cụ kỵ ông,cụ kỵ bà đều 3 tháng,còn chú bác cô dì của kỵ không tang. 2-Ông bà chồng để tang 9 tháng
3-Anh chị em ruột với chồng thời để tang 3 tháng,bà cô có chồng thời thôi.
4- Ông bà sinh ra mẹ chồng thì 3 tháng.
5-Cha mẹ chồng áo quần sổ gấu 3 năm.
6-Bác trai bác gái chú thiếm cùng anh em ruột với cha chồng thì 9 tháng,cô là chị em ruột với cha chồng thì 5 tháng.
7-ông chú bà thiếm,ông bác bà bác họ cùng cô họ thì tang 3 tháng.cô ấy có chồng thời thôi.
8-Vợ chét chồng vẫn quần áo 3 năm
9-Anh chị em ruột với chồng cùng vợ của anh ấy đều 5 tháng.
10-Vợ chồng cùng chị em của con nhà chú bác thì 3 tháng.Nếu chị em đã xuất giá thời thôi.
11-Thứ mẫu để tang vợ lẽ cha chồng,cùng nàng hầu cha chồng đều một năm.
12-Con để cùng các con chồng con dâu cả của chồng đều 1 nămcòn các con dâu thứ cùng con gái đã có chồng 9 tháng.
13-Anh em trai gái nhà anh em ruột của chồng thì 1 năm vợ nó hay cháu gái có chồng 9 tháng.
14-Cháu chú bác thì 5 tháng,vợ nó cùng cháu gái có chồng 3 tháng
15- Cháu trai gái của con nhà chú bác thì 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái xuất giá thì không tang.
16-Cháu trai cháu gái thì 9 tháng,vợ nó thì 3 tháng cháu gái có chồmg 5 tháng.
Chắu chút gái trai đều 3 tháng,vợ nó cùng chắt gái có chồng thì thôi.
18-Cậu chồng dì chồng đều 3 tháng(trên đây là tang họ nhà chồng,nếu chồng bỏ thì ơn nghĩa ấy cắt đứt,chẳng phải tang chi nữa)
Chồng để tang nhà vợ:
Chồng để tang cha mẹ vợ 1 năm,vợ chết lấy vợ khác cũng vậy,còn đều không chịu tang ai bên vợ nữa hết.
GÁI CÓ CHỒNG CHỤI TANG HỌ MÌNH:
1-ky cụ ông cụ bà đẻ tang theo anh em trai.
2-Anh chị em ruột với ông thì 3tháng
3-cha mẹ sinh ra mình 1 năm
Xem thêm mục trên (vợ để tang họ mình.)
TRƯỜNG PHỤC CÓ BA:
1-Trưởng trường: từ 16 đến 19 tuổi
2-trung trừơng 12 - 15-
hạ trường 8 - 10-
(đều lấy thứ tự giáng một bậc)
Ví dụ Trai có vợ ,gái có chồng dẫu còn trẻ cũng không thể gọi là trường được,như vốn chịu tang 1 năm Trưởng trường giáng xuống 1 bậc là 9 tháng,trung trường giáng xuống 7 tháng,hạ trường giáng xuống 5 tháng.
ANH EM BẠN:
Anh em bạn trong ngũ luân cũng là một,đã bầu bạn cùng nhau tang 3 tháng (khi có yêu cầu của người chịu để tang)
THẦY DẠY KHÔNG TANG
TRỌNG TANG GẶP TRỌNG TANG:
ĐANG CÓ TANG CHA CHƯA XONG,KHÔNG MAY LẠI BỊ ĐẾN MẸ,THÌ NGAY LÚC TRỪ TANG CHA,MẶC ĐỒ TRỪ TANG LÀM LỂ ĐẠI TRƯỜNG;LÀM XONG,THỜI MẶC ĐỒ ĐỂ TANG MẠ.
bằng mẹ chết chưa chôn,lại bị vào nhị tường của cha, thì không được mặc đồ từơng phục mặc đò trừ phục mà sau gặp tang,đó là tang trước có trọn.khỏi may đồ tang nữa.(nếu thời gian hai tang cách nhau qua 3 thang cũng may để dó hết tang trước rồi mặc đồ tang sau)
TRỌNG TANG GẶP KHINH TANG:
1-đang có tang cha mẹ mà gặp tang anh em,dẫu 3 tháng là khinh;CŨNG NÊN ĐẾN MÀ KHÓC,xong mặt đồ tang cha mẹ,nếu trừ trọng tang mà khinh tang chưa trừ phải mặc đồ khinh tang kia.
2-Còn người đi xứ khác,biết tin thì khóc ngay ở đó Đến hôm sau mặc ngay đồ tang người mới chết,chưa thành phục thì ngày sau lập bàn thờ nhà khác mà khóc,khóc xong phải mặc đồ trọng tang,nếu đồ trọng tang có;đồ tang nầy ta tự may lấy tại chổ ở(NGÀY NAY TA LƯỢT BỎ LỂ NẦY)
HÀNH khiển vương hiệu:
12 quan đương niên,mỗi năm một ông cai ai,có việc lể quan đương niên cứ xem năm gì ta khấn lể quan ấy:
1-năm Tý :Chu vương hành khiển,thiên ôn hành binhchi thần Lý tào phán quan.
2-năm Sửu:Triệu vương hành khiển,tam thập lục thương hành binh chi thần,khúc tào phán quan.
3-năm Dần:Nguỵ vương hành khiển,mộc tinh chi thần,Tiêu tào phán quan.
4-Mão:Trịnh vương hành khiển,thạch tinh chi thần,Liểu tào phán quan.
5-Thìn:Sở vương hành khiển,hoả hao chi thàn Biểu tào phán quan
6-Tỵ:Ngô vương hành khiển, thiên hao chi,thần ,Hứa tào phán quan
7-Ngọ:Tần vương hành khiển,thiên hao chi thần ,Nhân tào phán quan.
8-Mùi:Tống vương hành khiển,ngũ đạo chi thần,Lâm tào phán quan
9-Thân:Tề vương hành khiẻn,ngũ miếu chi thần,Tống tào phán quan.
10-Dậu:Lỗ vương hành khiển,ngũ nhạc chi thần,Cự tào phán quan.
11-Tuất Việt vương hành khiển, thien bá chư thần,Thành tào phán quan
12-Hợi:Lưu vương hành khiển,ngũ ôn chi thần,Nguyễn tào phán quan.
Tế tổ nghi tiết:
Tựu vị cúc cung bái (2 lể)
hưng bình thân,nghệ hương án tiền,quỳ châm tử hiến tửu,độc chúc,phủ phục,hưng bình thân,phục vị,cúc cung bái(4lể)
hưng bình thân,phần chúc,lễ tất.
Tế Tổ:(Sau khi chôn cất xong về nhà báo tổ tại nhà thờ tổ,ngày nay khi di quan phải ghé về nhà thờ tổ báo cáo)
Năm ngày tháng ...tự tôn là ... vì có ngu tế phụ thân kính mang lể bạc củ xoạn mọi vât dâng cùng hiẻn tổ khảo mỗ... hiển tổ tỷ ...tằng tổ khảo .... tằng tổ tỷ .... cao tổ khảo ...cao tổ tỷ ...) Chư hương linh,giám cách lòng thành,hộ con cháu hưởng thêm phúc tổ,kính cập.Cô di chú bác anh chị em,ở gần ở xa;xin cùng chiéu cố
Tại
Việt Nam, gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm
an táng của ông cha. Theo các nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã xuất
hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn tức là từ
thời Lý Nam Đế (khoảng nǎm 476-545). Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà
Trần mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông
tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).
Mới
đầu gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc cùng giới quan lại, nhà Lý có
Hoàng Triều Ngọc Điệp - năm 1026; nhà Trần có Hoàng Tông Ngọc Điệp, nhà
Lê có Hoàng Lê Ngọc Phả... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng
tộc là gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến
ghi chép gia phả trong nhân dân.
Trước đây, gia phả chủ yếu được
ghi chép bằng chữ Hán-Nôm, nhưng số người giỏi không nhiều, qua nhiều
năm chiến tranh, nhiều bộ, cuốn gia phả của nhiều dòng họ cũng mất
dần...
Tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và Trung,
miền Nam rất ít gia đình làm gia phả ở đấy còn được gọi là "gia phổ" và
biến thái thành "tông chi" tức tờ "tông chi tông đồ".
Trong gia
phả, người đứng đầu ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi
hết những chi tiết về thân thích và dòng dõi; những người con khác sao
lại bản gia phả chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời
cha tới đời con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ
phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình,
một họ. Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong
xã hội, xác định cá thể trong một toàn thể. Gia phả được coi là hoàn
chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa
chân phương, có nội dung cơ bản như sau:
Thông tin rõ ràng về người sao lục (biên soạn). Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc, là phả ký hay là gia sử. Ghi Thuỷ Tổ của dòng họ.
Ghi từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các đời con cháu sau này.
Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là từng nhánh, từ
gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có các mục sau
đây: Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai? Ngày tháng năm sinh (mất), giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Thời gian nào? Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất.
Vợ: chánh thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con thứ mấy của ai? Quê ở
đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ,
đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị,
được ban thưởng riêng thì ghi thêm. Con: Ghi theo thứ tự năm sinh,
nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: con gái thứ
mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê
quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có
cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời
sau). Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc
những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo
con cháu đời sau (di huấn), những lời di chúc... Ngoài những mục ghi
trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt của các vị
tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc gia
truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa
biết khai thác. Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy định-quy
ước trong tộc họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội
phạt, tất nhiên là phải phù hợp với luật pháp chung. Với một tộc họ
lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái. Phần này sẽ ghi những thông
tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở đâu, nhà thờ chi...
Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân v.v.
Trong
Gia tộc khi lập gia thất phải tôn trọng pháp luật; không nên tảo hôn và
vi phạm thuần phong mỹ tục với bà con gần nhau phạm vi 4 đời bàng hệ
hoặc trực hệ.
Chọn tuổi cho con để được phúc phận, có nhiều may mắn hơn người : -Muốn
có Con Trai giao phối vào ngày trứng rụng ; khoảng ngày thứ 15 của chu
kỳ kinh nguyệt ; ngày đó thân nhiệt của người vợ cao hơn ngày thường.
Xác xuất cao đến 99% là trai( vì tinh trùng mạnh kiên cử và giữ sức khỏe
trong vòng tuần lể mới giao hợp.) - Tuổi Tý sinh mùa Hạ; Thu; Đông.
-Tuổi Ngọ sinh mùa Xuân; Hạ.
-Tuổi Tỵ sinh mùa Đông
-Tuổi Thân sinh mùa Thu.
-Tuổi Hợi sinh mùa Thu.
Còn các tuổi khác còn tùy thuộc vào môi trường sinh sống và thói quen xã hội đương thời. vì Lẻ dân Chiêm KHÔNG có họ người Chiêm cuối cùng tự diệt vong trong vòng 300 năm vô chính phủ kể từ cuối đời nhà HỒ 1407 giặc Minh chiếm nước ta, ĐẾN 1789 cuối ĐỜI Quang Trung .Sự giao thoa nầy đủ để Việt Nam ảnh hưởng thay họ và buộc dân Chiêm phải có họ tên ghi chép hộ tịch bằng chử: Hán,nôm,quốc ngữ ...sau nầy.
Theo phong tục, một người từ sinh ra đế khi chết mang rất nhiều tên gọi: Mới lọt lòng thì thằng Cu, thằng Cò, con Hĩm, thằng Mực, con Cún, thằng Chắt em, con Chắt ả... thường là đặt tên xấu cho dễ nuôi, đến khi lớn lên thì anh Hai, anh Ba, chị Bảy... lấy vợ lấy chồng thì anh Nhiêu, anh Đồ, chị Xã...Có con gọi theo tên con, có cháu đích tôn gọi theo tên cháu, đến khi chết thì đặt tên hèm gọi là hiệu để cúng, người có học thì tự đặt tên tự, người có chức tước thì đặt tên thuỵ, người có chức tước học vị cao sang thường được xưng tôn theo họ, hay tên địa phương: Cụ án Mai, Cụ Tam Nguyên Yên Đổ, ông Trạng Trình, ông Tú Vĩ Xuyên, Quan Thám Nam Sơn... Đó là theo phong tục xưng hô của Trung Quốc. Trong nhiều tên gọi nhưng chỉ có tên huý là chính: Tên huý là tên đặt khi vào sổ họ, khi vào làng ghi trong sổ hộ, khi đi học đặt khi vào sổ họ, khi vào làng ghi trong sổ hộ, khi đi học.
Tại sao mới đẻ chưa đặt tên chính (tên huý)?
Ngày nay đẻ ra la khai sinh, có thủ tục quản lý hộ tịch chặt chẽ. Ngày trước mỗi làng xã cúng có hương hộ lo sổ sách sinh tử, giá thú nhưng không quản lý chặt chẽ, Nhà nước chỉ quan tâm đến sổ đinh (từ 18 tuổi), sổ điền để thu thuế và bắt lính, bắt phu, vì vậy vào sổ làng càng muộn càng hay, lớn lên đỡ được vài năm thuế thân, phu phen tạp dịch. Trong xã hội cũ, tình trạng hữu sinh vô dưỡng khá phổ biến, ít có gia đình sinh năm đẻ bảy được vuông tròn, vì vậy qua các tuần cữ mới tạm yên tâm, khi đó mới đặt tên huý.
Các họ mỗi năm tế tổ một lần. Trong dịp tế tổ, các gia đình có con cháu mới sinh sắm sửa cơi trầu, chai rượu, hương hoa, lễ vật đến nhà thờ họ yết cáo tiên tổ và vào sổ họ cho các con trai trước lễ yết cáo, ngày đó mới có tên huý chính thức, được họ hàng công nhận. Trong khi vào sổ họ phải đối chiếu gia phả để xem có trùng tên các vị tiên tổ hoặc ông bà chú bác trong nội thân hay không.
Nếu có tức là phạm huý thì phải đổi tên. Không những phải tránh phạm huý tổ tiên bên nội mà còn phải tránh phạm huý các cụ ông bà ngoại mặc dầu khác họ, tránh phạm huý hiệu của thành hoàng, thánh mẫu, linh thần từng địa phương. Ở nông thôn, các vị có uy vọng trong làng, trong họ thường được dân chúng biếu trầu rượu và nhờ đặt tên cho con. Người đặt tên được gia đình đó nhớ ơn suốt đời."
Như
trên đã trình bày khi làm Gia phả không ghi được tên các bà người
Chiêm cho nên phần lớn Phổ hệ đều không có ghi được tên Bà trong
phổ hệ là vậy; con cháu sau nầy không biết Bà Họ tên gì .
THAN ÔI ! nghe tin dữ lòng đau như cắt Xé tâm can,giọt lệ cầm Ngày lại ngày vắng bóng cô đâu? Hôm nay chúng cháu không cầm giọt lệ, Năm tháng trôi qua thời gian không đợi; Hai lăm tuổi cô mang trọng bệnh Ung thư xương ở tại khớp đùi Trong da thịt xương lồi ra từng cây tăm nhỏ, Máu mũ tươm ra ướt cả áo quần, Các cháu bưng bô suốt mấy năm trường, Rồi tàn tật Cô mang vỉnh viển. Vì sinh kế nuôi thân lặm lội, Đã bao lần đổi thay nơi ở, Chiếc chòi tranh vách đất đơn sơ, Rồi cơn bệnh củ tưởng lành tái phát, Cả gia đình bán tháo, trị bệnh cho Cô, Hết cửa nhà cô đành nương cha mẹ, Nhưng chẵng bao lâu cha mẹ mất, Mồ côi từ đó đến nay; Nuôi đứa cháu tưởng ngày sau đền đáp, Nhưng sinh kế phải xa phương cầu thưc Để cuối đời nương tựa Địa phương Ngày Cô lâm bệnh cả nhà chăm sóc, Y Bác sỉ tận tình cứu chửa, Nhưng tuổi cao sức yếu, Cô đã cởi hạc quy tiên, Lúc sáu giờ ngày mồng sáu, tháng mười một năm Nhâm thìn Hưởng thọ tám mươi mốt tuổi./.
Chỉ biết rằng mổi cụm dân cư có một "Miếu thờ Bà" hằng năm lể tế./. "Cao Cả kinh bút"
buổi lể Thành hôn của LÊ HOÀNG CƯỜNG& VŨ DƯƠNG NHƯ THỦYĐƯỢC GHI ÂM LẠI
Chúng tôi chép lại bài viết này dể dàng tự rang cho mình tách cà fe được nguyên chất đúng nghĩa Trước đây bạn Đặng hùng Dũng ở Pleiku có cho 5 kg Cà phê Pleiku. Còn gì thú vị hơn khi một người đam mê cà phê tự tay rang những hạt cà phê do bạn mình trồng để cho ra một ly cà phê “cây nhà lá vườn”.
Với quan điểm những gì do bạn mình cho đều quí , nhưng cái quý
nhất là tấm lòng xúc tác sự thành công trong việc tự rang cho mình ly cà
phê nguyên chất.
Nguyên liệu gồm:
Một cái chảo (chảo gì cũng được, tốt nhất nên lấy những cái chảo mà mẹ/vợ đã bỏ đi để tránh phiền phức, vì sau khi rang một lớp tinh dầu cà phê đen thui bám vào đáy chảo trông không được thẩm mỹ lắm)
Một ít nước mắm
Một ít bơ (nhằm mục đích tạo sự thẩm thấu cho cà phê, chống “ngẹt phin”, giữ mùi và không bị “lên dầu”-oxy hóa… và tăng thêm phần sóng sánh)
Công việc thật tuyệt từ khâu cho lên bếp đảo đều, đến khâu cho vào máy xay sinh tố hiệu Philip xay nát để cho ra thành phẩm. Sẽ gần như hoàn hảo nếu sau khi pha chế thành quả của mình để có một ly Mocha nguyên chất chính hiệu Cầu Đất để thưởng thức và phán một câu “Dở ẹt“.
Rút kinh nghiệm nên quyết định chép bài “Rang cà phê” để lỡ ai đó có làm thì cũng theo đúng quy chuẩn kỹ thuật, bởi rang cà phê là một khâu vô cùng quan trọng trong công nghệ chế biến cà phê.
Rang cà phê ở nhiệt độ từ 190-230OC và thời gian là khoảng 18-25 phút. (hiện nay, có những máy rang hiện đại thời gian rang chỉ cỏn 8 phút!).
Sau khi rang hạt cà phê mất từ 14-23% trọng lượng (lượng hơi nước bị bốc hơi) nhưng lại có thể tích hạt nở ra khoảng 40-60% so với hạt còn xanh. Trong khi rang thì một loạt các phản ứng sinh hoá được xảy ra và quá trình này được gọi là Pyroiysis hay gọi tắt là Pyro.
Và kết quả là một loạt các chất được hình thành như dầu cà phê, mạch olysaccharides phức hợp đường, chất béo không no, hương cà phê…Cho nên vào cuối quá trình rang bạn sẽ thấy hạt cà phê trở nên no tròn mủm mỉm hơn và rất bóng hơn. Trong quá trình này thì một vài loại tinh bột được biến đổi thành đường và thành caramel để tạo thành màu của cà phê.
Khi quá trình rang kết thúc thì cà phê phải được làm nguội thật nhanh để không làm mất mùi hương… Thường người ta sẽ đổ cà phê sau khi rang ra một cái máng lớn bằng nhôm và bật quạt máy công xuất cà phê sẽ nguội nhanh hơn.
Rang cà phê thực sự là một nghệ thuật, công nghệ rang và người kỹ thuật phải lấy được nhiều nhất những đặc tính tự nhiên của các loại cà phê.
Mỗi loại cà phê bản thân nó có một hương vị riêng được hình thành từ các loại giống khác nhau và môi trường đất đai hình thành nên. Kỹ thuật viên rang phải biết nghe hạt cà phê nổ, ngửi được mùi cà phê được hình thành và phải xác định được đúng màu cần thiết khi rang. Nếu cà phê sau rang chưa có màu đậm cần thiết thì khi pha chế sẽ không có được một ly cà phê như ý, nhưng rang quá tay dẫn đến cháy thì bạn sẽ phải hối hận bởi phải thưởng thức một ly cà phê đen thui và đắng ngắt. Do vậy Kỹ thuật viên rang cần phải biết điều chỉnh thời gian rang, nhiệt lượng cung cấp vừa đủ trong quá trình rang cho phù hợp.
Bài viết được thực hiện dưới sự cảm nhận và thực hành thực tế công việc rang xay của một con người đam mê cà phê. Và tất nhiên là nó sẽ có rất nhiều điểm rất khác lạ so với những kỹ thuật của những người rang cà phê chuyên nghiệp và đúng khoa học.
Thịnh còi rất mong sẽ nhận được thêm nhiều ý kiến đóng góp của quý bà con anh chị đã có kinh nghiệm trong ngành rang xay. Và sẽ rất thích thú khi nhận được những chia sẽ của bà con khi tự tay rang cho mình những mẻ cà phê để thưởng thức.
Rang cà phê là cả một tuyệt kỹ công phu, là 1 nghề gia truyền, người chuyên nghiệp không chỉ cho các bạn đâu…vì đó là những bí kíp tuyệt mật giống như cho bạn cần câu thay vì con cá.
Sau đây là một phương pháp cơ bản nhất để các bạn có thể rang cà phê theo kinh điển mà chúng tôi muốn chia sẻ:
Rang cà phê là một nghệ thuật
1. Hạt cà phê
Hạt cà phê Moka lúc chưa rang thường có màu xanh ngọc rất đẹp – Nhiệt độ bình thường, khoảng 22-25 độ C.
Lúc còn sống, gọi là cà phê nhân, bản thân hạt cà phê đã có một mùi thơm đặc trưng. Nhất là hạt cà phê Moka sống có một mùi thơm dễ chịu, tương tự như mùi thảo dược, mùi của thuốc nam, mùi của hoa cỏ khô …
2. Bắt đầu rang đến nhiệt độ trên 100 độ C
Khoảng thời gian đầu của quá trình rang là để truyền nhiệt cho hạt cà phê. Hạt cà phê từ từ nóng lên dần và bắt đầu bốc hơi nước chứa bên trong, hạt cà phê hơi teo lại và hầu như có rất ít sự thay đổi. Trong giai đoạn nầy, bí quyết rang cà phê ngon là tránh cho hạt cà phê chai cứng bằng cách rang thế nào để tạo ra dòng không khí nóng đối lưu tối đa trong trống rang và việc chuyển giao nhiệt diễn ra hiệu quả nhất và lan nhiệt đồng đều đến mỗi hạt cà phê …
3. Giai đoạn hạt cà phê chuyển sang ngã màu vàng nhạt-Nhiệt độ trên 150 độ C
Lúc này, hạt cà phê vẫn tiếp tục hấp thu nhiệt, bốc hơi nước và bắt đầu có sự thay đổi chút ít về thể tích. Trong giai đoạn nầy từ lò rang lan tỏa ra một mùi thơm nồng của cỏ tươi và rơm khô hòa quyện rất đặc trưng. Từ hạt cà phê nóng tỏa ra mùi hương của cây cỏ, của cánh đồng , vườn cây râm mát, làm ta nhớ đến quê nhà xa xôi, và thanh tịnh. Hạt cà phê đang trong giai đoạn thu nhiệt rất nhanh và thay đổi kích thước để chuẩn bị cho giai đoạn nổ đầu tiên
4. Giai đoạn vàng đậm. Nhiệt độ khoảng 180 độ C
Hạt cà phê ngã sang màu vàng đậm, hình dáng bắt đầu thay đổi, thể tích gia tăng từ 20-30%, bề mặt hạt bắt đầu có các gân nổi lên. Lúc nầy mùi hương tỏa ra giống như là mùi của bánh mì cháy, mùi gỗ cháy, mùi của đất mới sau cơn mưa đầu mùa, có cả mùi của củ khoai lang nướng từng làm ta hồi bé có lần thèm thuồng …
5. Giai đoạn chuyển sang màu nâu nhạt-Nhiệt độ khoảng 200 độ C
Chuẩn bị cho giai đoạn phát tiếng nổ đầu tiên của hạt cà phê . Hạt cà phê càng nở lớn nhanh chóng , mùi thơm đã chuyển qua mùi ngọt ngào giống như mùi quả chin, như mùi của mật ong , lại thoang thoảng mùi của mạch nha. Tuy nhiên, lúc nầy các phản ứng hóa học vẫn chưa xảy ra hoàn tất, các phân tử hương vẫn chưa đước giải phóng và cấu trúc sợi của hạt cà phê vẫn rất bền chặc. Nếu lúc này lấy hạt ra xay bột và pha uống thì vị của cà phê lúc nầy khá là chua và mùi cà phê vẫn chưa tinh tế, và có mùi còn ngai ngái, nồng nồng .
6. Giai đoạn chuyển sang màu nâu. Nhiệt độ trên 200 độ C-Nhiệt độ khoảng 210 độ C
Các tiếng nổ bắt đầu vang lên trong thùng quay của lò rang. Các phản ứng hóa học qua tác dụng nhiệt xảy ra bắt đầu đốt cháy các tinh thể đường trong hạt cà phê tạo ra màu nâu caramen, mùi của đường mạch nha càng lúc càng rõ, việc này xảy ra là do một phản ứng hóa nâu thực phẩm dưới tác dụng nhiệt được gọi là phản ứng Maillard. Qua phản ứng Maillard nầy thực phẩm trở nên thơm ngon hơn và bắt đầu biến đổi mầu sắc sậm hơn.
7. Giai đoạn nổ lần thứ nhất – Nhiệt độ khoảng 210 độ C
Tại thời điểm này, các tiếng nổ rộn rã của hạt cả phê đã vang lên nghe rất vui tai trong thùng quay. Người rang cà phê , với sự nhạy cảm, luôn mong chờ nghe tiếng nổ thân thương nầy. Nhiệt độ tăng lên nhanh. Hạt cà phê có nhiều biến đổi về hình thức, phẩm chất lẫn hương vị. Khói bắt đầu tỏa ra nhiều hơn , mùi thơm ngào ngạt tỏa ra, hấp dẫn.
Từ thời điển nầy trở đi, quá trình rang trở nên sinh động, hạt cà phê bắt đầu bước vào giai đoạn chín để cho ra sản phẩm theo ý định của người thợ rang, còn người thợ rang thì vận dụng tất cả các giác quan lẫn tâm hồn say mê của mình để chăm sóc, nâng niu cho mẽ rang như nâng niu 1 công trình nghệ thuật của riêng mình…
8. Giai đoạn ngưng tiếng nổ – Nhiệt độ khoảng 215 độ C
Giai đoạn nổ đầu tiên là một phản ứng tỏa nhiệt. Sau 1 thời gian hấp thu nhiệt thì qua việc nở lớn đột ngột về thể tích, tăng lên đến khoảng 150%, trọng lượng giảm từ 10- 17 % và tạo ra hàng loạt tiếng nổ giòn tan rộn rã, nhiệt lượng bên trong hạt thoát ra nhanh chóng.
Kế đó, ngay lập tức hạt cà phê lại bắt đầu giai đoạn thu nhiệt. Do đó trong quá trình rang, sau lần nổ thứ nhất, sẽ cần có thêm 1 giai đoạn ngắn để hạt cà phê thu thêm nhiệt lượng nhằm tiếp tục được nung nóng và được biến đổi.
Vì thế, trong quá trình rang, tiếng nổ reo vui lần thứ nhất bỗng nhiên giảm xuống rồi ngưng lại. Lúc nầy phản ứng caramen xảy ra nhanh chóng. các phản ứng hóa học làm phát sinh mùi vị thơm ngon của cà phê cũng xảy ra, khói bốc lên khá nhiều. Về hình thức hạt cà phê sau khi nở rộng kích thước thì hơi thu lại và xuất hiện các vết nhăn, nứt phía bên mặt dưới của hạt.
9. Giai đoạn sau khi ngưng tiếng nổ lần một – Nhiệt độ khoảng 220 độ C
Vào lúc này, hạt cà phê bắt đầu thoát ra một lượng khí carbon dioxide nên khói bốc nhiều hơn. không gian lan tỏa mùi bánh nướng, mùi hạt rang đặc trưng…Trọng lượng hạt cà phê tiếp tục giảm xuống.
10. Giai đoạn chuẩn bị nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 225 độ C
Hạt cà phê tiếp tục thu nhiệt và thể tích càng nở lớn hơn, nhất là hạt cà phê Moka, thể tích có thể tăng trên 150% . Các phản ứng hóa học vẫn liên tục xảy ra trong hạt cà phê. Hạt cà phê có nhiều thay đổi và chuẩn bị bước vào giai đoạn nổ lần hai.
11. Giai đoạn bắt đầu nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 225 độ C
Lúc này từ trong hạt cà phê tiết ra nhiều chất dầu, bao phủ cả hạt cà phê, làm cho hạt cà phê trở nên sáng bóng, và nhìn có vẻ ẩm ướt. Mùi thơm càng lúc càng tinh tế, hấp dẫn lan tỏa cả không gian của vùng lò rang, làm ngây ngất những ai ở xung quanh…
12. Giai đoạn nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 235 độ C
Tiếng nổ lần thứ hai phát sinh từ sự là bẻ gãy vật lý của các cấu trúc celllose trong hạt cà phê. Mỗi một chủng loại hạt cà phê của các giống cà phê có các cấu trúc khác nhau, cho nên tiếng nổ lần thứ hai nầy, tùy theo giống cà phê mà chúng ta lắng nghe có có âm thanh, tần suất, cường độ âm, và âm vực khác nhau.
Tiếng nổ lần nầy không rộn rã như lần trước nhưng khô khốc, giòn và xảy ra nhanh chóng như tiếng bẻ gảy của các cành cây khô. Theo phương pháp rang thủ công tại việt nam với truyền thống rang lò than, rang củi… Việc quan sát, lắng nghe, phân biệt, nhận định được âm thanh của tiếng hai lần nổ từ hạt cà phê, mùi hương tỏa ra qua từng giai đoạn rang, màu sắc của khói, của hạt cà phê và cả cảm nhận tinh tế qua kinh nghiệm sẽ quyết định cho chất lượng của mẻ rang.
Hiện nay có nhiều loại máy rang cà phê bán tự động hay hoàn toàn tự động rất hiện đại, rang theo các chương trình được đã lập trình hay theo chương trình tuyển chọn tối ưu của người thợ. Theo một số người qua việc thưởng thức, trãi nghiệm cà phê được rang bằng các máy móc tự động và so sánh với cà phê rang theo cách truyền thống của người thợ, cho rằng, tuy mỗi phương án đều có 1 kết quả tốt nhất định nào đó về phẩm chất của hạt cà phê .
Thế nhưng, họ cảm thấy hạt cà phê rang thủ công ngon hơn rang bằng máy. Khá là thú vị. Có phải chăng vì nó thấm cả hồn đam mê của con người? Tuy nhiên, vì môi trường, vẫn nên chọn cách rang bằng máyvới nhiên liệu ga hay điện. Có lẽ , rồi đây, công việc rang cà phê bằng lò than và củi nầy sẽ chỉ còn là kỷ niệm ngọt ngào với những ai mỗi lần đứng bên lò rang, nhìn từng mẻ cà phê đổ ra mà như nhìn thấy thêm một đứa con của mình ra đời. Thật vậy, đối với người đam mê, rang cà phê như thực hiện 1 tác phẩm nghệ thuật..
13. Giai đoạn sau khi ngưng tiếng nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 240 độ C
Lúc nầy hạt cà phê rang có màu nâu đậm, thể tích tăng tối đa, hạt cà phê nở lớn, nhất là hạt cà phê Moka có thể tăng kích thước gần gấp đôi, và trọng lượng có thể giảm từ 20-30%, hương thơm ngào ngạt theo khói bốc lên, lan tỏa khắp khu vực. Nhất là rang Cà phê Chồn, có thể nói mùi thơm của nó có cả mùi của động vật Cầy Hương.
Theo kinh nghiệm, lúc nầy cà phê rang là ngon nhất, tất cả các phản ứng hóa học tạo nên hương vị thơm ngon trong hạt cà phê đã diễn ra xong. Hạt cà phê đã trãi xong quá trình biến đổi bởi tác động của nhiệt để cho ra một sản phẩm tuyệt vời, phục vụ cho niềm đam mê muôn đời của nhân loại.
Canh thời đểm chính xác và tốt nhất để ngưng quá trình rang tùy theo chất lượng hạt cà phê sống của mỗi mẽ rang là cả bí quyết và kinh nghiệm của người thợ rang.. .Có thể nói vào lúc nầy, mỗi giây phút trôi qua hay mỗi vòng quay của trống (thùng) rang cà phê sẽ tạo ra hương vị và phẩm chất của hạt cà phê khác nhau. Cà phê rang càng đậm màu thì chất cafeine càng giảm, vị chua càng giảm, vị đắng đậm đà và mùi carbon càng tăng….
Cà phê được đổ ra khỏi thùng quay, được làm nguội mau chóng, tránh việc làm bay mất hương thơm quyến rũ và mất vị đậm đà làm đắm say con người. Người thợ Việt sẽ còn biết cách pha chế, phối trộn các loại rượu thơm ngon khác nhau để tẩm vào hạt cà phê còn nóng vào lúc nầy, vì hiểu rằng dưới tác dụng nhiệt, các phân tử rượu sẽ nhanh chóng len lỏi vào cấu trúc phân tử của cà phê tạo thêm 1 phản ứng phụ sau rang, vừa làm giảm nhiệt nhanh chóng, và cung cấp thêm độ ẩm cho hạt cà phê (độ ẩm bảo quản (< 13 %) vì khi rang độ ẩm chỉ còn 0,5 %), vừa tạo ra phản ứng ester hóa có mùi thơm. cho ra sản phẩm độc đáo.
Tuy nhiên phải ướp rượu (đôi khi có bơ hay caramen) làm sao để cà phê thêm phần hấp dẫn, ngất ngây mà không đánh mất hương vị nguyên thủy tuyệt vời của chính hạt cà phê rang là cả một bí quyết tinh tế. Ai ơi, uống cà phê, nhớ hãy uống với cả tâm hồn nhé! Lúc ấy, sẽ bạn có 1 cảm nhận khác hơn về cuộc sống.
Trước hết cà phê có hai giống chính khác nhau là Robusta và Arabica. Robusta, như cái tên nó thể hiện, rất là robust, tức là mạnh, là nhiều cafeine, là mất ngủ nhiều. Arabica thì trái lại, ít độc hại hơn, nhưng có nhiều hương thơm (aroma).
Nghệ thuật sản xuất cà phê bắt đầu từ việc lựa chọn hạt cà phê, và pha một tỷ lệ thích hợp giữa hai giống cà phê này.
Thứ hai , hạt đã được chọn phải được rang như thế nào? Người Ý khi đi sang Trung Quốc, Việt Nam, nhìn thấy các ông “chiên da” tập tọng uống cà phê rang cà phê thì giơ hai tay lên trời mà kêu trời, kêu đất. Rang cà phê trên chảo “quân dụng” nóng có rắc thêm ít bơ cho khỏi cháy thì aroma nó bay lên trời hết rồi, còn đâu cái vị ngon làm điên đảo nhân loại hàng bao nhiêu thế kỷ. Ở phương Tây, cà phê được rang trong nhà máy, bằng hệ thống toàn bộ kín khí cho đến khi hạt cà phê được rang xong và đóng vào túi cũng hút chân không, nên hương vị nó còn giữ được.
Hạt rang xong, trộn xong vẫn chưa phải là hết. Cà phê phải được xay cho đúng, không phải cho vào máy xay công nghiệp xay cho mịn là xong. Máy xay cà phê xịn, riêng lưỡi dao cũng phải đầu tư vài trăm USD, và cứ 3 tháng lại phải thay một lần, lại phải vi chỉnh bằng cách xay, pha, uống thử dăm lần bảy lượt nữa. Tại sao vậy? Vì bột cà phê nếu xay quá thô, thì vị cà phê sẽ nhạt, nhưng nếu xay quá mịn thì vị cà phê sẽ đắng, vì bị “cháy” trong khi pha.
Pha cà phê bằng phin kiểu mà người Việt Nam gọi là kiểu “Pháp” chỉ là cách pha cà phê hạng 3 thôi, nó du nhập được sang Việt nam đơn giản vì nó dễ, không cần kỹ thuật gì cao, mà ai cũng “nhái” theo làm phin pha cà phê cả bằng nhôm, bằng nhựa đều dùng được hết.
Cà phê hạng nhất phải pha chén nào, xay cà phê ngay chén đó. Máy nó pha bằng cách xả hơi nước qua bột cà phê nén chặt. Xì. Vài mươi giây là xong, không đắng, không chua, không quá độc hại. Mà hương vị nó ngon vô cùng.
Hạt cà phê Arabica sau khi rang
Cà phê Arabica: là loại café hạt hơi dài, được trồng ở độ cao trên 600m, khí hậu mát mẻ, chỉ được trồng chủ yếu ở Braxin, và chiếm tới 2/3 lượng café hiện nay trên thế giới.
Cách chế biến mới là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Arabica va Robusta. Quả Arabica được thu hoạch, rồi lên men (ngâm nước cho nở…) rồi rửa sạch rồi sấy. Chính vì thế, vị của Arabica hơi chua, và đây cũng được coi là 1 đặc điểm cảm quan của loại café này. Vì thế, nói đến “hậu vị” của café là có thật, nhưng không phải là vị chua, mà phải chuyển từ chua sang đắng (kiểu socola ý, sau khi nuốt mới là café ngon). Người ta thường ví vị chua đó giống như khi mình ăn chanh, sẽ thấy rất chua, nhưng lập tức thấy được vị đắng của vỏ. Cách cảm nhận vị chua của café cũng như vậy.
Cà phê Robusta: hạt nhỏ hơn arabica, và được sấy trực tiếp, chứ không phải lên men, nên vị đắng chiếm chủ yếu, loại này uống phê hơn. Được trồng ở độ cao dưới 600m, khí hậu nhiệt đới, vì thế có mặt ở nhiều nước hơn (VN chỉ trồng loại này), tổng lượng chỉ chiếm 1/3 lượng café tiêu thụ trên toàn thế giới.
Quan trọng đối với quá trình sản xuất café, tất nhiên cũng từ khâu trồng trọt, đất đai… (cái này tôi không biết nên không đi sâu) nhưng lúc chế biến thì là giai đoạn “rang”. Nhiệt độ rang café phải đạt 230-240 độ C nhằm tạo các chất thơm, tạo màu (caramel hoá). Đối với arabica, điều kiện rang không chặt chẽ như robusta vì nó qua lên men, còn bao nhiêu tính chất cảm quan sau này đều nhờ vào quá trình này cả, nên luôn yêu cầu “rang trong điều kiện trên bề mặt thoáng” . Đúng là cần đủ kín để giữ mùi nhưng không có oxy thì làm sao mà tiến hành phản ứng oxyhoá được? Còn thiết bị rang thì thường hình tròn hoặc trụ nhằm tạo điều kiện đảo trộn đều và phân bố nhiệt tốt.
Còn khi pha café, nước là loại ít can-xi nhưng chỉ đun đến khi thấy sủi tăm (khoảng 90-95 độ là tốt nhất, vì nhiệt độ cao sẽ làm bay hơi nhanh và phá vỡ các tinh dầu thơm). Độ mịn của café cũng quan trọng nhưng tuỳ theo loại mà sẽ có yêu cầu khác nhau. Về bình pha, có nhiều loại lắm, không có cái nào giống phin café ở VN cả, nhưng đa số cũng theo nguyên lý như vậy (nước ở trên, phần lọc và café ở giữa, rồi hứng café bên dưới) nhưng cũng có cái thì ngược lại (café ra ở bên trên, nước ở phía dưới) . Còn thực tế, người ta đánh giá café pha bằng máy ở nước ngoài là đạt tiêu chuẩn vì café chỉ pha 1 lần, thời gian tiếp xúc giữa nước và café rất ngắn, nhưng vì dân Châu Âu đa số dùng arabica nên café của họ nhạt và chua.
Khi pha, người ta thường pha chế theo tỷ lệ khác nhau để tạo ra “hiệu quả” khác nhau, việc đánh giá cũng thay đổi theo từng người do tác dụng kích thích của café lên mỗi người là không giống nhau. Uống vài cốc café sẽ có tác dụng tốt, nhưng chỉ cần 10g cafein cũng có thể gây chết người rồi. Uống café thì dùng thìa cũng được, cái chính là thời gian để café lưu trên lưỡi đủ để toàn bộ lưỡi cảm nhận được, còn không, thì trước khi uống, phải cho đầu lưỡi vào cốc, rồi sau đó mới uống từng ngụm nhỏ.
Gia Phả LÊ TỘC qúy PHẢ
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc LÊ TỘC qúy PHẢ.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc LÊ TỘC qúy PHẢ
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.