Thanh Khê,Ngày 09 tháng 09 Năm Ất Dậu Dương lịch ngày 11 tháng 10 năm 2005
Một trong những thứ quý báu nhất mà Tổ Tiên thường hay để lại trong các gia đình vọng tộc, thư hương ngày xưa là Gia phả? Gia từ :Đây không phải là Tổ
miếu của phân chi họ mà là một gian nhà dành riêng để thờ, thường thì
thờ ba đời. Ông bà cố, ông bà nội, cha mẹ.
Con người sống trên đời dù có cao sang, phú quý hay thấp kém, bần hàn, cũng
đều có tổ tiên: “Như cây phải có gốc, như sông phải có nguồn”. Ai cũng
được sinh ra trong vòng tay của cha, trong lời ru của mẹ, nói cường điệu
là trong cái nôi của Dòng họ chở che đùm bọc,thương yêu giúp đở nhau
khi có vấn đề...v v... mong rằng con mình sau này dù ở bất cứ nơi đâu,
bất cứ hoàn cảnh nào cũng đừng quên tình cha, nghĩa mẹ,tình thân tộc
bồng bế thương yêu. Từ đời này qua đời khác, khi con cháu có tinh thần
dân tộc cao tìm về cội nguồn,con đường nào dẫn dắt họ tìm được nguồn gốc
dòng họ dân tộc của mình ? đó chính là “Gia phả của dòng họ sẻ nói lên
điều mong muốn ấy” Gia Phả ghi chép thế hệ Tổ tông của một Họ.Nếu Họ không có Gia Phả
thời mổi ngày con cháu một xa cách,họ hàng thân thích càng mơ hồ.Vậy Gia
Phả cần phải có,cần phải ghi chép rỏ ràng đầy dủ luôn chỉnh trang liên
tục con cháu đời sau mới hiểu biết cội nguồn sự liên hệ trong thân tộc
mình.Nghỉ rằng các Ngài ngày trước ít được
học hành vì mãi lo sinh kế cộng với chiến tranh song song loạn lạc nên
chưa có điều kiện ghi chép đầy đủ bản Gia Phả rỏ ràng,hoăc đã có nhưng
bị thất lạc bởi khói lửa chiến tranh.Bản này là bản sưu tầm quyển Gia Phả dịch ra quốc ngữ năm 1959 của ông
Trương Khắc Cần(ông nội Trương văn Hoành) Năm 1986 ông LÊ VẤN KIÊN cập
nhật thông tin một bảng phổ hệ đồ nhưng chưa đầy đũ nội dung niên đại
của từng vị tổ tương ứng thời gian lịch sử thông tin còn dạng sơ khai
chưa chính xác
(bài viết nầy dạng sơ khai,mong sự đóng góp tu sửa cho hoàn chỉnh) Từ suy nghỉ,nhờ có đạo đức truyền thống của ông cha chúng ta để lại,nên
các thế hệ kế tiếp liên tục có sự phát triển tốt,nhờ hưởng thụ hồng phúc
của tổ tiên,con cháu làm ăn phát tài,học hành thành đạt.
Gia đạo rạng rở,nề nếp gia phong văn minh,suy nghỉ cho cùng phần lớn nhờ
vào truyền thống thiêng liêng ấy mới có sự tồn tại và phát triển đáng kể
như ngày nay và mãi mãi về sau hy vọng tốt đẹp hơn.
(MỒ MÃ TỔ TIÊN LÀ DI TÍCH RÁT QUAN TRỌNG,có liên quan đến sự phúc ấm thịnh suy cho con cháu từ đời nầy đến đời khác)
Cho nên nhân ngày quy hoạch của nhà nước 24-05-2003 chúng tôi đã nhóm
họp.trùng tu mồ mã tổ tiên tiền thuỷ tổ. cải táng về đất Nghĩa trang
thành phố Đà nẵng ,tại Phú thượng,Hoà sơn.Hoà vang,<ĐÀ NẴNG-VIỆT
NAM>trong khu 17 NGÔI mộ của tộc riêng biệt.
Toàn bộ kinh phí do nội Tôn thế hệ thứ 25 ông LÊ CAO CẢ Phúng cúng lo liệu ,hoàn tất cùng tháng trên,nhưng chưa được khang trang cho lắm
Một khu nằm trên đất Gò cà nội tôn thứ 23LÊ vẫn KIÊN,LÊ vẫn KINH,
lập gồm các Vị tổ đời thứ 15 trở xuống dời thứ 22.Nhưng cũng còn thiếu
sót mong các con cháu thế hệ kế góp sức sửa sang tu chỉnh.
KHU MỘ NẦY LÀ "DI TÍCH TRUYỀN LẠI CHO CÁC THẾ HỆ KẾ TIẾP TRÙNG TU VÀ BỒI ĐẮP THÊM.
Cho khang trang đẹp đẻ"
Trong gia phả, người đứng đầu
ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết
về thân thích và dòng dõi; những người con khác sao lại bản gia phả
chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời cha tới đời
con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến,
nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ. Họ
và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác
định cá thể trong một toàn thể.
Cấu trúc
Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được
ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương, có nội dung cơ bản như sau:
Thông tin rõ ràng về người sao lục (biên soạn).
Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc, là phả ký hay là gia sử.
Ghi Thuỷ Tổ của dòng họ.
Ghi từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các đời con cháu
sau này. Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là từng
nhánh, từ gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có
các mục sau đây:
Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai?
Ngày tháng năm sinh (mất), giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Thời gian nào?
Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất.
Vợ: chánh thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con thứ mấy của
ai? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất,
tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức
tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con
bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi
tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước?
Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai
không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc
những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo
con cháu đời sau (di huấn), những lời di chúc...
Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều
sự tích đặc biệt hay giai thoại của các vị tiên tổ, những đôi câu đối,
những áng văn trước tác hay, những bài thuốc gia truyền...
Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy định-quy ước trong tộc
họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội phạt, tất nhiên
là phải phù hợp với luật pháp chung.
Với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái.
Phần này sẽ ghi những thông tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở
đâu, nhà thờ chi...
Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân; các câu đối, sắc phong nếu có v.v.
Chủng Bách Việt đã ít nhiều thay đổi Cách du canh du cư của nền Văn Hóa Quan Tàu phương Bắc,Nay Chủng Bách Việt còn tồn tại ở Đảo Đài Loan Chủng Việt đổi ngay sang phụ hệ, vào lúc chia tay. Bằng cách cho con trường, mang hai giòng máu Thái-Việt, lên ngôi vua xưng là Hùng Vương và truyền lại 18 đời theo lối thế tập của phụ hệ. Có lẽ dưới sức ép phải minh chứng với người nghe kể chuyện là đám con theo Cha cũng tiến lên phụ hệ một lượt với các quan thầy Bắc phương, từ thời nhà Hạ bên Tàu. Người Việt Nam thời sơ khai = Mẹ Thái + Cha Việt (งบผู้ปกครองไทยเวียดนาม) Sau nầy Cấm Cha Việt + mẹ Chiêm,có lẻ người Việt lấy vợ Chiêm quá nhiều,ở Đàng trong.Đã Hợp nhất nên nền Văn Hóa Trung-Ấn của xứ sở, kể từ Hải vân đến Mủi Cà mau,ảnh hưởng của người vợ Chiêm phải nói là đáng kể buột người ta cấm quần không đáy... 添樂葵
LÊ TỘC TRỰC HỆ ĐỒ:
Nói về Húy kỵ có Tục xưa ông bà chúng ta rất ngại gọi tên Húy của Cha mẹ
ông Bà vì lẻ đó nên,phần nhiều tên tuổi của các cụ tổ chỉ ghi bằng thứ
tự,hay tên con,(trong đân gian không ai muốn cho biết tên Tục của cha
mẹ ,ông bà mình, sợ người hàng xón kêu ra chưởi bới khi có xích
mích,nhưng xích mích lại THƯỜNG XUYÊN cho nên khi cúng kỵ đều tuyên dọc theo Cửu Huyền Thất Tổ.)
Cửu huyền thất Tổ là gì? Các chữ Cửu Huyền Thất Tổ là:
tổ,tằng,cao,tổ tổ,tằng tằng,cao cao.Cao tổ
Tục lệ cúng tế có lẽ từ Tàu truyền sang nước ta (điều nầy chưa chắc lắm vì
chưa biết dòng Bách-Việt có trước người Hán hay ngược lại, vì mới đây
nghe nói có tài liệu người Tàu xác nhận rằng khi họ đến thì đã thấy dòng
Bách Việt ở khắp Nam nước Tàu). Nhưng sau nước Tàu theo Khổng giáo, Lão giáo v.v… Còn nước ta tuy cũng ảnh hưởng nhưng một số cố giữ lề lối cổ xưa của Tổ Tiên Chánh Giáo, kêu một cách nôm na là Đạo Thờ Cúng Ông Bà để chứng tỏ là con người trong gia đình có gia-giáo nề-nếp của Tổ Tiên để lại. -Chỉ để các ông Sư dùng viết các văn cúng tế thôi. Thất tổ (3) Nói lên bẩy đời ông bà,khi xưa . Còn cụm từ "huyền huyền hổn độn chốn sơ khai "? Hợp tự có nghĩa là : rước các tiên linh các đời vào thờ chung trong cùng một nhà thờ của đại tôn hay của từng tiểu chi. Theo phong tục cổ truyền: Năm đời tống giỗ, hay "Ngũ đại mai thần chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ). Thực chất chỉ có bốn đời, tức là làm giỗ cha mẹ (đời 2), ông bà (đời 3), cụ ông cụ bà (hay cố 4 đời) và kỵ (hay can 5 đời). Cao hơn kỵ gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung tất cả thuỷ tổ, tiên tổ các đời vào chung một nhà thờ mỗi năm tế một lượt. Thần chủ con cúng cha mẹ, đề là Hiền khảo, Hiền tỷ, đến khi người con trưởng chết, cháu đích tôn cúng ông bà, đối thần chủ là Hiền tổ khảo, Hiền tổ tỷ, đến lượt cháu trưởng mất, chắt trưởng tiếp tục thờ cụ là Hiền Tằng tổ khảo (hoặc tỷ), chít (chiu) trưởng thờ kỵ là Hiền Cao tổ khảo (hoặc tỷ). Sau năm đời thì rước vào nhà thờ tổ rồi chôn thần chủ đó đi. Trong nhà thờ tổ chỉ để duy nhất có một ngôi thần chủ cao nhất (thuỷ tổ hoặc tiên tổ bậc cao nhất của nhà thờ chi đó) gọi là "Vĩnh thế thần chủ"tùy theo sự sắp xếp theo thứ tự ,riêngcách hiểu của các ông Thầy cúng: Thất tổ từ ông bà nội đến ông nội của ông cố,chúng tôi không hiểu cách sắp xếp nầy có mập mờ không ? chư vị cho lỉnh giáo:
CÁCH XƯNG HÔ THỜI XƯA: Ông bà Nội của Cố chết rồi thì gọi: Hiền Tổ tổ khảo, Tổ tổ tỷ.: Ông bà tổ chết rồi thì gọi: Hiền Cao tổ khảo, cao tổ tỷ.: Ông bà Cố chưa chết thì xưng: Tằng Tổ phụ, Tằng tổ mẫu.: Ông bà Cố chết rồi thì gọi: Hiền Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỷ.: Ông bà nội chết rồi thì gọi: Hiển tổ khảo, hiền tổ tỷ.: Ông bà nội chưa chết thì xưng: Hiển Tổ phụ, hiền tổ mẫu.: Cháu tự xưng Nội Tôn: Ông bà Ngoại chết rồi thì xưng: Ngoại tổ khảo, Ngoại tổ mẫu.: Ông bà Ngoại chưa chết thì xưng: Ngoại Tổ phụ, Ngoại tổ tỷ.: Cháu tự xưng Ngoại tôn.: Cha mẹ chết rồi thì xưng: Hiển khảo, hiền tỷ.: Cha chết rồi thì con tự xưng là: Cô tử, cô nữ (cô tử: con trai, cô nữ: con gái).: Mẹ chết rồi thì con tự xưng là: Ai tử, ai nữ.: Cha mẹ đều chết hết thì con tự xưng là: Cô ai tử, cô ai nữ.: Cha ruột: Thân phụ.: Cha ghẻ: Kế phụ.: Cha nuôi: Dưỡng phụ. Cha đỡ đầu: Nghĩa phụ. Con trai lớn (con cả thứ hai): Trưởng tử, trưởng nam.: Con gái lớn: Trưởng nữ.: Con kế. Thứ nam, thứ nữ.: Con út (trai): Quý nam, vãn nam. Gái: quý nữ, vãn nữ.: Mẹ ruột: Sanh mẫu, từ mẫu.: Mẹ ghẻ: Kế mẫu: Con của bà vợ nhỏ kêu vợ lớn của cha là má hai: Đích mẫu.: Mẹ nuôi: Dưỡng mẫu.: Mẹ có chồng khác: Giá mẫu.: Má nhỏ, tức vợ bé của cha: Thứ mẫu.: Mẹ bị cha từ bỏ: Xuất mẫu.: Bà vú: Nhũ mẫu.:Chú, bác vợ: Thúc nhạc, bá nhạc.: Cháu rể: Điệt nữ tế.: Chú, bác ruột: Thúc phụ, bá phụ. Vợ của chú : Thiếm, Thẩm. Cháu của chú và bác, tự xưng là nội điệt. Cha chồng: Chương phụ.: Dâu lớn: Trưởng tức. Dâu thứ: Thứ tức. Dâu út: Quý tức.: Cha vợ (sống): Nhạc phụ, (chết): Ngoại khảo.: Mẹ vợ (sống): Nhạc mẫu, (chết): Ngoại tỷ.: Rể: Tế.: Chị, em gái của cha, ta kêu bằng cô: Thân cô. Ta tự xưng là: Nội điệt. Chồng của cô: Dượng: Cô trượng, tôn trượng. Chồng của dì: Dượng: Di trượng, biểu trượng.: Cậu, mợ: Cựu phụ, cựu mẫu. Mợ còn gọi là: Câm. Còn ta tự xưng là: Sanh tôn. Cậu vợ: Cựu nhạc.: Cháu rể: Sanh tế.: Vợ: Chuyết kinh, vợ chết rồi: Tẩn.: Ta tự xưng: Lương phu, Kiểu châm. Vợ bé: Thứ thê, trắc thất. Vợ lớn: Chánh thất. Vợ sau (vợ chết rồi cưới vợ khác): Kế thất. Anh ruột: Bào huynh.: Em trai: Bào đệ, cũng gọi: Xá đệ. Em gái: Bào muội, cũng gọi: Xá muội: Chị ruột: Bào tỷ. Anh rể: Tỷ trượng. Em rể: Muội trượng.: Anh rể của vợ/chồng: Tỷ phu. Em rểcủa vợ/chồng: Muội trượng, còn gọi: Khâm đệ. Chị dâu: Tợ phụ, Tẩu, hoặc tẩu tử. Em dâu: Đệ phụ, Đệ tức. Chị chồng: Đại cô.: Em chồng: Tiểu cô. Anh chồng: Phu huynh: Đại bá.Em chồng: Phu đệ, Tiểu thúc. Chị vợ: Đại di.: Em vợ (gái): Tiểu di tử, Thê muội.: Anh vợ: Thê huynh: Đại cựu: Ngoại huynh. Em vợ (trai): Thê đệ, Tiểu cựu tử. Con gái đã có chồng: Giá nữ. Con gái chưa có chồng: Sương nữ. Cha ghẻ, con tự xưng: Chấp tử.: Tớ trai: Nghĩa bộc. Tớ gái: Nghĩa nô. Cha chết trước, sau ông nội chết, tôn con của trưởng tử đứng để tang, gọi là: Đích tôn thừa trọng. Cha, mẹ chết chưa chôn: Cố phụ, cố mẫu. Cha, mẹ chết đã chôn: Hiền khảo, hiển tỷ.: Mới chết: Tử. Đã chôn: Vong. Anh em chú bác ruột với cha mình: Đường bá, đường thúc, đường cô, mình tự xưng là: Đường tôn. Anh em bạn với cha mình: Niên bá, quý thúc, lịnh cô. Mình là cháu, tự xưng là: Thiểm điệt, lịnh điệt. Chú, bác của cha mình, mình kêu: Tổ bá, tổ thúc, tổ cô. Mình là cháu thì tự xưng là: Vân tôn: Còn Cha mẹ ông bà cố của cố ông cố là dùng kết thúc xưng hô của người cháu đứng lể cúng. Đời thứ 2: Cha Mẹ. Chữ gọi là nhị đợi: Hiển Khảo, Hiển Tỷ. Đời thứ 3: ông bà nội Chữ gọi là tam đợi: Hiển Tổ Khảo, Hiển Tổ Tỷ.(1tổ) Đời thử 4: ông bà cố nội. Chữ gọi là tứ đợi: Hiển Tằng Tổ Khảo/Tỷ.(2tổ) Đời thứ 5: ông cha của cố: Hiển CaoTổ Khảo/Tỷ(3tổ) Đời thứ 6: ông nội của cố: Hiển Cao Tằng Tổ Khảo/Tỷ(4tổ) Đời thứ 7: ông cố của cố : Hiển Cao Tằng Tằng tổ Khảo/Tỷ(5tổ) Đời thứ 8: ông cha của cố ông cố:Hiển Cao Tằng Cao tổ Khảo/tỷ(6tổ) Đời thứ 9: ông nội của cố ông cố :Hiển Cao Cao Tằng tằng tổ Khảo/tỷ(7tổ) Đời thứ 10: ông cố của cố ông cố :Hiển cao cao cố tổ Khảo/tỷ"Hán việt" Đời thứ 11 : Hiển Tổ Tổ Khảo /Tỷ đồng đẳng (Người Việt thường dùng Hiển Cao Tằng cố Tổ Khảo)"Hán việt" BÀNG HỆ ĐỒ ghi BÊN PHẢ HỆ ĐỒ:
*-Ngay khi vừa lên ngôi năm 1428, Lê Thái Tổ ra sắc chỉ cho ghi chép công
trạng của những người đã theo vua khởi nghĩa, ban chức tước và quốc tính
(họ của nhà vua) cho 221 người. Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên
những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà này tên
huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh
Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh
Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân
chúng khắp nước, nơi nào có họ "Trần" đều phải đổi chép thành chữ "Trình."
Vua Lê Thái Tổ đã sắp đặt cho các đại công thần quen nắm quyền chính từ lâu và ngoại thích _của Thái Tông, chẳng thể chen vào !
王樂青塘該地區的捕魚蜻蜓西沙群島,從新年,端午節。
Một trong những người châu Âu đầu tiên đến thăm Đà Nẵng đã được người Bồ
Đào Nha Antonio De Faria, người neo tại Đà Nẵng trong năm 1535. De Faria
là một trong những người phương Tây đầu tiên viết về khu vực, và thông
qua ảnh hưởng của ông tàu Bồ Đào Nha bắt đầu cuộc gọi thường xuyên tại
Hội An, mà sau đó đã được một cảng quan trọng hơn nhiều so với Đà Nẵng.
Trong suốt thế kỷ 17 và 18, thương nhân Pháp và Tây Ban Nha và nhà
truyền giáo thường xuyên đổ bộ tại Hội An, ngay phía nam Đà Nẵng.
Tiếp theo chỉ dụ của vua Minh Mạng năm 1835 cấm các tàu từ châu Âu
làm lở đất hoặc theo đuổi thương mại, ngoại trừ tại Cửa Hàn , Đà Nẵng
nhanh chóng thay thế Hội An để trở thành thương cảng lớn nhất ở khu vực
trung tâm. Lực lượng Pháp chiếm giữ Đà Nẵng, 1858.
Năm 1847, tàu Đô đốc Pháp Cécille bắn phá Đà Nẵng, bề ngoài là trên cơ sở của sự ngược đãi của nhà truyền giáo Công giáo La Mã.
Trong tháng tám năm 1858, một lần nữa bề ngoài trên cơ sở của sự
ngược đãi tôn giáo, quân đội Pháp do Đô đốc Rigault de Genouilly
Charles, và theo lệnh của Napoleon III, hạ cánh tại Đà Nẵng như một phần
của Chiến dịch Nam Kỳ trừng phạt. Người Pháp overpowered người Việt Nam
đóng quân tại Đà Nẵng, nhanh chóng chiếm các thành phố và bán đảo Tiên
Sa (nay gọi là bán đảo Sơn Trà). Mặc dù thành công ban đầu của họ, các
lực lượng chiếm đóng nhanh chóng được đặt dưới sự bao vây của quân đội
Việt Nam dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, và cuối cùng đã buộc
phải rút lui tháng 3 năm 1860.
Bổ sung:(năm 2010)
Ngày 21->23 tháng năm năm 2006 một trận bảo có tên gọi Chanchu làm cho 200 mạng người chết,và mất tich, LÊ CAO Bông,LÊ CAO Đường,con ông LÊ vấn Lanh không bao giờ còn có ngày trở về,ngày ấy âm Lich là
17-04- 2006, để lại một thế hệ côi cút thương tâm....vv...
LỂ CÚNG GIỮA TRỜI:
kim vì tín chủ:....... Hiện trú tại Phường Thanh Khê,Đà nẵng,
Kỳ nguyện toàn gia nam nử chúng đẳng, Cẩn dủ hương đăng trà quả lộc phẩm chi nghi, Cảm cáo vu:
Dương cảnh thành hoàn, Bổn xứ Thổ địa Ngũ Lộ Thân tài,
Bổn xứ Linh quan,Phổ cập,Bổn thị,
Oan hồn,Uổn tử nam nử thương vong Cô mộ,Hoang mộ,Hửu Danh vô vị,Hửu vị vô danh,
Thỉnh đồng hiệp hưởng Chi nghi Cọng bảo bình an chi phước.
Nhứt Thiết oai linh đồng thuỳ chiếu giám,
Ngưỡng vọng Âm Thần Chi gia Huệ giả
Gia chủ kính cáo"tam bái"
>Mẹ Nhu (LÊ THỊ DẢNH) hôm đó có nhìn ra bờ biển Thanh Khê xa xa kia, có
thấy cái dáng đang gục xuống bên chiếc thuyền "thúng chai" lật úp mang
dáng một nấm mồ? chỉ có 1 người mang họ LÊ (5. Lê Thanh Tân,
Nghĩa An, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) trong số 33 người được tàu hải quân Việt
Đếnphường Thanh Khê Đông, phía bắc có cả một cây số bờ biển vịnh Thanh Bình Đà Nẵng giáp biển Đông,phía tây giáp phường Thanh khê Tây,phía Đông giáp phường Xuân hà.phía Nam giáp phường Chính gián;An khê, đêm dằng dặc những nén nhang nhập nhoà, những ngọn nến leo lét. Vị mặn chát từ gió biển và len lén từ giọt nước mắt chảy xuống bao giờ. Những bàn thờ dọc bờ cát tối sẫm như bóng những người đang ngồi sụp vĩnh viễn không bao giờ dậy nữa.. Biển ơi, còn gì? Còn, sẽ còn rất nhiều. Những tai ương rình rập, những cái chết thương tâm, những gia đình tan nát, những thế hệ cút côi ... Nhưng cũng còn đó rất nhiều những thứ vẹn nguyên không bão tố nào quật nổi, đó là tình người, là sự kiên cường, là niềm hy vọng vượt lên thất vọng và tuyệt vọng
Có tiếng cụ già khàn đục trong nghẹn ngào ngấn lệ :thốt lên trong đêm vắng lạnh"biển là giả con ơi"
Những hướng nhà thời
xưa thường hướng mặt ra biển để tận hưởng ngọn gió mát từ biển,"cho đến
ngày nay sau khi cải tạo con đường ven biển của thành phố(2001) người ta
củng luôn chiếu cố xây nhà hướng ra biển"cũng như chờ đón một người con
của biển trở về sau trận bảo đi qua.
Để mổi sáng thức dậy nhìn xa xa hướng biển như chờ đợi,như hy vọng ngày về,vong hồn các cụ vỉnh hằng,
cùngtưởng nhớ ông bà cha chú vì gìn giữ Đảo xa, vì sinh kế, vỉnh viển nằm
lại dưới con sóng dử phong ba ngoài xa đại dương biẻn cả mênh mông!!!
Miếu Huyền Trân Công Chúa Lể cúng hằng năm ngoài bờ biển phường Thanh Khê Đông
Công chúa Huyền Trân. Một cuộc hôn nhân đổi lấy bờ cõi từ Chiêm Thành cho Đại Việt.
Cảnh vẽ công chúa Huyền Trân tại Chiêm Thành chuẩn bị cho hôn lễ, lòng buồn hướng về quê hương.
-Hướng tới đại lễ nghìn năm, cùng các họat động trong cả nước, Lê tộc
Việt Nam cũng đã có nhiều hình thức tri ân tổ tiên, hướng về cội nguồn,
tiêu biểu là việc hồi hương, hoàn táng thi hài vua Lê Dụ Tông sau 46 năm
lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
-Thời kỳ Lê Thánh Tông trị vì, xã hội phát triển mọi mặt, để lại dấu ấn
đậm nét trong lịch sử dân tộc với những giá trị văn hóa to lớn như Hồng
Đức thiên hạ bản đồ, Hồng Đức hình luật, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc LÊ TỘC qúy PHẢ.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc LÊ TỘC qúy PHẢ
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.