GIA

PHẢ

TỘC


TỘC
qúy
PHẢ
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
VIẾT VỀ GIA SỬ CỦA DÒNG HỌ





dau rong





Địa danh nơi có nhà thờ T ộc L ê







d.t thod.t thod.t thod.t thod.t tho

BẠN NÊN DÙNG TRÌNH DUYỆT MOZLLA-FIREFOX






樂相你的頭髮








不結盟運動添董芹苴局部向北王國





Photobucket






添樂葵





Photobucket






  • LỜI NÓI ĐẦU:



  • Thanh Khê,Ngày 09 tháng 09 Năm Ất Dậu
    Dương lịch ngày 11 tháng 10 năm 2005
     

  • Một trong những thứ quý báu nhất mà Tổ Tiên thường hay để lại trong các gia đình vọng tộc, thư hương ngày xưa là Gia phả?
    Gia từ :Đây không phải là Tổ
    miếu của phân chi họ mà là một gian nhà dành riêng để thờ, thường thì
    thờ ba đời. Ông bà cố, ông bà nội, cha mẹ.



    • Con người sống trên đời dù có cao sang, phú quý hay thấp kém, bần hàn, cũng

      đều có tổ tiên: “Như cây phải có gốc, như sông phải có nguồn”. Ai cũng

      được sinh ra trong vòng tay của cha, trong lời ru của mẹ, nói cường điệu

      là trong cái nôi của Dòng họ chở che đùm bọc,thương yêu giúp đở nhau

      khi có vấn đề...v v... mong rằng con mình sau này dù ở bất cứ nơi đâu,

      bất cứ hoàn cảnh nào cũng đừng quên tình cha, nghĩa mẹ,tình thân tộc

      bồng bế thương yêu. Từ đời này qua đời khác, khi con cháu có tinh thần

      dân tộc cao tìm về cội nguồn,con đường nào dẫn dắt họ tìm được nguồn gốc

      dòng họ dân tộc của mình ? đó chính là “Gia phả của dòng họ sẻ nói lên

      điều mong muốn ấy”
      Gia Phả ghi chép thế hệ Tổ tông của một Họ.Nếu Họ không có Gia Phả

      thời mổi ngày con cháu một xa cách,họ hàng thân thích càng mơ hồ.Vậy Gia

      Phả cần phải có,cần phải ghi chép rỏ ràng đầy dủ luôn chỉnh trang liên

      tục con cháu đời sau mới hiểu biết cội nguồn sự liên hệ trong thân tộc

      mình.Nghỉ rằng các Ngài ngày trước ít được

      học hành vì mãi lo sinh kế cộng với chiến tranh song song loạn lạc nên

      chưa có điều kiện ghi chép đầy đủ bản Gia Phả rỏ ràng,hoăc đã có nhưng

      bị thất lạc bởi khói lửa chiến tranh.Bản
      này là bản sưu tầm quyển Gia Phả dịch ra quốc ngữ năm 1959 của ông

      Trương Khắc Cần(ông nội Trương văn Hoành) Năm 1986 ông LÊ VẤN KIÊN cập

      nhật thông tin một bảng phổ hệ đồ nhưng chưa đầy đũ nội dung niên đại

      của từng vị tổ tương ứng thời gian lịch sử thông tin còn dạng sơ khai

      chưa chính xác

      (bài viết nầy dạng sơ khai,mong sự đóng góp tu sửa cho hoàn chỉnh)
      Từ 
      suy nghỉ,nhờ có đạo đức truyền thống của ông cha chúng ta để lại,nên

      các thế hệ kế tiếp liên tục có sự phát triển tốt,nhờ hưởng thụ hồng phúc

      của tổ tiên,con cháu làm ăn phát tài,học hành thành đạt. 



  • Gia đạo rạng rở,nề nếp gia phong văn minh,suy nghỉ cho cùng phần lớn nhờ

    vào truyền thống thiêng liêng ấy mới có sự tồn tại và phát triển đáng kể

    như ngày nay và mãi mãi về sau hy vọng tốt đẹp hơn. 

  • (MỒ MÃ TỔ TIÊN LÀ DI TÍCH RÁT QUAN TRỌNG,có liên quan đến sự phúc ấm thịnh suy cho con cháu từ đời nầy đến đời khác) 

  • Cho nên nhân ngày quy hoạch của nhà nước 24-05-2003 chúng tôi đã nhóm

    họp.trùng tu mồ mã tổ tiên tiền thuỷ tổ. cải táng về đất Nghĩa trang

    thành phố Đà nẵng ,tại Phú thượng,Hoà sơn.Hoà vang,<ĐÀ NẴNG-VIỆT

    NAM>trong khu 17 NGÔI mộ của tộc riêng biệt. 

  • Toàn bộ kinh phí do nội Tôn thế hệ thứ 25 ông LÊ CAO CẢ Phúng cúng lo liệu ,hoàn tất cùng tháng trên,nhưng chưa được khang trang cho lắm

    Một khu  nằm trên đất Gò cà nội tôn thứ 23LÊ vẫn KIÊN,LÊ vẫn KINH,

    lập gồm các Vị tổ đời thứ 15 trở xuống dời thứ 22.Nhưng cũng còn thiếu

    sót mong các con cháu thế hệ kế góp sức sửa sang tu chỉnh.



    KHU MỘ NẦY LÀ "DI TÍCH TRUYỀN LẠI CHO CÁC THẾ HỆ KẾ TIẾP TRÙNG TU VÀ BỒI ĐẮP THÊM.

    Cho khang trang đẹp đẻ"



  • n.d beta

  •  

  • Trong gia phả, người đứng đầu
    ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết
    về thân thích và dòng dõi; những người con khác sao lại bản gia phả
    chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời cha tới đời
    con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến,
    nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ. Họ
    và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác
    định cá thể trong một toàn thể.

    Cấu trúc



    Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được
    ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương, có nội dung cơ bản như sau:



    Thông tin rõ ràng về người sao lục (biên soạn).

    Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc, là phả ký hay là gia sử.

    Ghi Thuỷ Tổ của dòng họ.

    Ghi từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các đời con cháu
    sau này. Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là từng
    nhánh, từ gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có
    các mục sau đây:

    Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai?

    Ngày tháng năm sinh (mất), giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Thời gian nào?

    Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất.

    Vợ: chánh thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con thứ mấy của
    ai? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất,
    tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức
    tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.

    Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con
    bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi
    tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước?
    Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai
    không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).

    Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc
    những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo
    con cháu đời sau (di huấn), những lời di chúc...

    Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều
    sự tích đặc biệt hay giai thoại của các vị tiên tổ, những đôi câu đối,
    những áng văn trước tác hay, những bài thuốc gia truyền...

    Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy định-quy ước trong tộc
    họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội phạt, tất nhiên
    là phải phù hợp với luật pháp chung.

    Với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái.
    Phần này sẽ ghi những thông tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở
    đâu, nhà thờ chi...

    Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân; các câu đối, sắc phong nếu có v.v.



Chủng Bách Việt đã ít nhiều thay đổi Cách du canh du cư của nền Văn Hóa Quan
Tàu phương Bắc,Nay Chủng Bách Việt còn tồn tại ở Đảo Đài Loan
Chủng Việt đổi ngay sang phụ hệ, vào lúc chia tay.
Bằng cách cho con trường, mang hai giòng máu Thái-Việt, lên ngôi vua xưng là Hùng Vương
và truyền lại 18 đời theo lối thế tập của phụ hệ.
Có lẽ dưới sức ép phải minh chứng với người nghe kể chuyện là đám con theo Cha cũng
tiến lên phụ hệ một lượt với các quan thầy Bắc phương, từ thời nhà Hạ bên Tàu.
Người Việt Nam thời sơ khai = Mẹ Thái + Cha Việt (งบผู้ปกครองไทยเวียดนาม)
Sau nầy Cấm Cha Việt + mẹ Chiêm,có lẻ người Việt lấy vợ Chiêm
quá nhiều,ở Đàng trong.Đã Hợp nhất nên nền Văn Hóa Trung-Ấn của xứ sở,
kể từ Hải vân đến Mủi Cà mau,ảnh hưởng của người vợ Chiêm phải nói là
đáng kể buột người ta cấm quần không đáy...
添樂葵
PhotobucketPhotobucket



Photobucket


n.d beta






n.d betan.d beta





  • LÊ TỘC TRỰC HỆ ĐỒ:

    Nói
    về Húy kỵ có Tục xưa ông bà chúng ta rất ngại gọi tên Húy của Cha mẹ

    ông Bà vì lẻ đó nên,phần nhiều tên tuổi của các cụ tổ chỉ ghi bằng thứ

    tự,hay tên con,(trong đân gian không ai muốn cho biết tên Tục của cha

    mẹ ,ông bà mình, sợ người hàng xón kêu ra chưởi bới khi có xích

    mích,nhưng xích mích lại THƯỜNG XUYÊN cho nên khi cúng kỵ đều tuyên dọc
    theo Cửu Huyền Thất Tổ.)

    Cửu huyền thất Tổ là gì?
    Các chữ Cửu Huyền Thất Tổ là:



    tổ,tằng,cao,tổ tổ,tằng tằng,cao cao.Cao tổ



    Tục
    lệ cúng tế có lẽ từ Tàu truyền sang nước ta (điều nầy chưa chắc lắm vì

    chưa biết dòng Bách-Việt có trước người Hán hay ngược lại, vì mới đây

    nghe nói có tài liệu người Tàu xác nhận rằng khi họ đến thì đã thấy dòng

    Bách Việt ở khắp Nam nước Tàu). Nhưng sau nước Tàu theo Khổng giáo, Lão
    giáo v.v… Còn nước ta tuy cũng ảnh hưởng nhưng một số cố giữ lề lối cổ
    xưa của Tổ Tiên Chánh Giáo, kêu một cách nôm na là Đạo Thờ Cúng Ông Bà
    để chứng tỏ là con người trong gia đình có gia-giáo nề-nếp của Tổ Tiên
    để lại.
    -Chỉ để các ông Sư dùng viết các văn cúng tế thôi.
    Thất tổ (3) Nói lên bẩy đời ông bà,khi xưa .
    Còn cụm từ "huyền huyền hổn độn chốn sơ khai "?
    Hợp tự có nghĩa là : rước các tiên linh các đời vào thờ chung trong cùng một nhà thờ của đại tôn hay của từng tiểu chi.
    Theo phong tục cổ truyền: Năm đời tống giỗ, hay "Ngũ đại mai thần
    chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ). Thực chất chỉ có bốn đời, tức là làm
    giỗ cha mẹ (đời 2), ông bà (đời 3), cụ ông cụ bà (hay cố 4 đời) và kỵ
    (hay can 5 đời). Cao hơn kỵ gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ
    nữa, mà rước chung tất cả thuỷ tổ, tiên tổ các đời vào chung một nhà thờ
    mỗi năm tế một lượt. Thần chủ con cúng cha mẹ, đề là Hiền khảo, Hiền
    tỷ, đến khi người con trưởng chết, cháu đích tôn cúng ông bà, đối thần
    chủ là Hiền tổ khảo, Hiền tổ tỷ, đến lượt cháu trưởng mất, chắt trưởng
    tiếp tục thờ cụ là Hiền Tằng tổ khảo (hoặc tỷ), chít (chiu) trưởng thờ
    kỵ là Hiền Cao tổ khảo (hoặc tỷ). Sau năm đời thì rước vào nhà thờ tổ
    rồi chôn thần chủ đó đi. Trong nhà thờ tổ chỉ để duy nhất có một ngôi
    thần chủ cao nhất (thuỷ tổ hoặc tiên tổ bậc cao nhất của nhà thờ chi đó)
    gọi là "Vĩnh thế thần chủ"tùy theo sự sắp xếp theo thứ tự ,riêngcách hiểu của các ông Thầy cúng: Thất tổ từ ông bà nội đến ông nội của
    ông cố,chúng tôi không hiểu cách sắp xếp nầy có mập mờ không ? chư vị
    cho lỉnh giáo:


    CÁCH XƯNG HÔ THỜI XƯA:
    Ông bà Nội của Cố chết rồi thì gọi: Hiền Tổ tổ khảo, Tổ tổ tỷ.:
    Ông bà tổ chết rồi thì gọi: Hiền Cao tổ khảo, cao tổ tỷ.:
    Ông bà Cố chưa chết thì xưng: Tằng Tổ phụ, Tằng tổ mẫu.:
    Ông bà Cố chết rồi thì gọi: Hiền Tằng tổ khảo, Tằng tổ tỷ.:
    Ông bà nội chết rồi thì gọi: Hiển tổ khảo, hiền tổ tỷ.:
    Ông bà nội chưa chết thì xưng: Hiển Tổ phụ, hiền tổ mẫu.:
    Cháu tự xưng Nội Tôn:
    Ông bà Ngoại chết rồi thì xưng: Ngoại tổ khảo, Ngoại tổ mẫu.:
    Ông bà Ngoại chưa chết thì xưng: Ngoại Tổ phụ, Ngoại tổ tỷ.:
    Cháu tự xưng Ngoại tôn.:
    Cha mẹ chết rồi thì xưng: Hiển khảo, hiền tỷ.:
    Cha chết rồi thì con tự xưng là: Cô tử, cô nữ (cô tử: con trai, cô nữ: con gái).:
    Mẹ chết rồi thì con tự xưng là: Ai tử, ai nữ.:
    Cha mẹ đều chết hết thì con tự xưng là: Cô ai tử, cô ai nữ.:
    Cha ruột: Thân phụ.:
    Cha ghẻ: Kế phụ.:
    Cha nuôi: Dưỡng phụ.
    Cha đỡ đầu: Nghĩa phụ.
    Con trai lớn (con cả thứ hai): Trưởng tử, trưởng nam.:
    Con gái lớn: Trưởng nữ.:
    Con kế. Thứ nam, thứ nữ.:
    Con út (trai): Quý nam, vãn nam. Gái: quý nữ, vãn nữ.:
    Mẹ ruột: Sanh mẫu, từ mẫu.:
    Mẹ ghẻ: Kế mẫu: Con của bà vợ nhỏ kêu vợ lớn của cha là má hai: Đích mẫu.:
    Mẹ nuôi: Dưỡng mẫu.:
    Mẹ có chồng khác: Giá mẫu.:
    Má nhỏ, tức vợ bé của cha: Thứ mẫu.:
    Mẹ bị cha từ bỏ: Xuất mẫu.:
    Bà vú: Nhũ mẫu.:Chú, bác vợ: Thúc nhạc, bá nhạc.:
    Cháu rể: Điệt nữ tế.:
    Chú, bác ruột: Thúc phụ, bá phụ.
    Vợ của chú : Thiếm, Thẩm.
    Cháu của chú và bác, tự xưng là nội điệt.
    Cha chồng: Chương phụ.:
    Dâu lớn: Trưởng tức.
    Dâu thứ: Thứ tức.
    Dâu út: Quý tức.:
    Cha vợ (sống): Nhạc phụ, (chết): Ngoại khảo.:
    Mẹ vợ (sống): Nhạc mẫu, (chết): Ngoại tỷ.:
    Rể: Tế.:
    Chị, em gái của cha, ta kêu bằng cô: Thân cô.
    Ta tự xưng là: Nội điệt.
    Chồng của cô: Dượng: Cô trượng, tôn trượng.
    Chồng của dì: Dượng: Di trượng, biểu trượng.:
    Cậu, mợ: Cựu phụ, cựu mẫu. Mợ còn gọi là: Câm.
    Còn ta tự xưng là: Sanh tôn.
    Cậu vợ: Cựu nhạc.:
    Cháu rể: Sanh tế.:
    Vợ: Chuyết kinh, vợ chết rồi: Tẩn.:
    Ta tự xưng: Lương phu, Kiểu châm.
    Vợ bé: Thứ thê, trắc thất.
    Vợ lớn: Chánh thất.
    Vợ sau (vợ chết rồi cưới vợ khác): Kế thất.
    Anh ruột: Bào huynh.:
    Em trai: Bào đệ, cũng gọi: Xá đệ.
    Em gái: Bào muội, cũng gọi: Xá muội:
    Chị ruột: Bào tỷ.
    Anh rể: Tỷ trượng.
    Em rể: Muội trượng.:
    Anh rể của vợ/chồng: Tỷ phu.
    Em rểcủa vợ/chồng: Muội trượng, còn gọi: Khâm đệ.
    Chị dâu: Tợ phụ, Tẩu, hoặc tẩu tử.
    Em dâu: Đệ phụ, Đệ tức.
    Chị chồng: Đại cô.:
    Em chồng: Tiểu cô.
    Anh chồng: Phu huynh: Đại bá.Em chồng: Phu đệ, Tiểu thúc.
    Chị vợ: Đại di.:
    Em vợ (gái): Tiểu di tử, Thê muội.:
    Anh vợ: Thê huynh: Đại cựu: Ngoại huynh.
    Em vợ (trai): Thê đệ, Tiểu cựu tử.
    Con gái đã có chồng: Giá nữ.
    Con gái chưa có chồng: Sương nữ.
    Cha ghẻ, con tự xưng: Chấp tử.:
    Tớ trai: Nghĩa bộc.
    Tớ gái: Nghĩa nô.
    Cha chết trước, sau ông nội chết, tôn con của trưởng tử đứng để tang, gọi là: Đích tôn thừa trọng.
    Cha, mẹ chết chưa chôn: Cố phụ, cố mẫu.
    Cha, mẹ chết đã chôn: Hiền khảo, hiển tỷ.:
    Mới chết: Tử.
    Đã chôn: Vong.
    Anh em chú bác ruột với cha mình: Đường bá, đường thúc, đường cô, mình tự xưng là: Đường tôn.
    Anh em bạn với cha mình: Niên bá, quý thúc, lịnh cô. Mình là cháu, tự xưng là: Thiểm điệt, lịnh điệt.
    Chú, bác của cha mình, mình kêu: Tổ bá, tổ thúc, tổ cô.
    Mình là cháu thì tự xưng là: Vân tôn:
    Còn Cha mẹ ông bà cố của cố ông cố là dùng kết thúc xưng hô của
    người cháu đứng lể cúng.
    Đời thứ 2: Cha Mẹ. Chữ gọi là nhị đợi: Hiển Khảo, Hiển Tỷ.
    Đời thứ 3: ông bà nội Chữ gọi là tam đợi: Hiển Tổ Khảo, Hiển Tổ Tỷ.(1tổ)
    Đời thử 4: ông bà cố nội. Chữ gọi là tứ đợi: Hiển Tằng Tổ Khảo/Tỷ.(2tổ)
    Đời thứ 5: ông cha của cố: Hiển CaoTổ Khảo/Tỷ(3tổ)
    Đời thứ 6: ông nội của cố: Hiển Cao Tằng Tổ Khảo/Tỷ(4tổ)
    Đời thứ 7: ông cố của cố : Hiển Cao Tằng Tằng tổ Khảo/Tỷ(5tổ)
    Đời thứ 8: ông cha của cố ông cố:Hiển Cao Tằng Cao tổ Khảo/tỷ(6tổ)
    Đời thứ 9: ông nội của cố ông cố :Hiển Cao Cao Tằng tằng tổ Khảo/tỷ(7tổ)
    Đời thứ 10: ông cố của cố ông cố :Hiển cao cao cố tổ Khảo/tỷ"Hán việt"
    Đời thứ 11 : Hiển Tổ Tổ Khảo /Tỷ đồng đẳng (Người Việt thường dùng Hiển Cao Tằng cố Tổ Khảo)"Hán việt"
    BÀNG HỆ ĐỒ ghi BÊN PHẢ HỆ ĐỒ:

  • LỂ CÚNG LĂNG MỘ:

    "Cửu huyền: Chín đời: Cao,

    tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít. Thất tổ: Bảy đời: Cao, tằng,

    tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ."


    "sưu tầm"

     

  • Kim vì tín chủ:Lê cao Cả Hiện trú tại:

  • phường Thanh lộc Đán,phường Xuân hà.quận Thanh khê.Thành phố Đà nẵng Hiệp toàn gia nam nử , đại tiểu đẳng

  • Cẩn dỉ hương hoa,lể phẩm chi nghi, Cảm cáo vu: Cung vọng bổn xứ,Hậu tổ tôn thần,

  • *-Đương canh Thổ địa Chánh thần,

  • *-Ngũ phương long mạch thần quan Đồng thuỳ chứng giám,

  • Kỳ cúng vu:

  • Phụng vị hương linh:...

  • Thuỷ tổ tôn thần LÊ... Thuỷ tổ tỷ ...đẵng tôn thần.

  • THẬP Tứ TỔ chư vị tử tận vùng biển Đông,trong các trận Bảo biển,(mười bốn tổ tôn thần)

  • Tử tôn nội ngoại,hửu danh vi vị,Hửu vị vô danh,Sa lạc bất tường,Liệt vị Chư hương linh.

  • Hiển kháo LÊ VẤN TR...chi thời

  • Bà Cô Sút sảo: Lê thị Rinh chi thời.

  • Hửu sut sảo huynh trưởng LÊ CAO RỚT chi thời,

  • Hửu tứ đệ:LÊ cao Tiết chi thời.

  • Hửu thất đệ:Lê cao Ngọc chi thời

  • Tử hửu tứ sút sảo:LÊ như Nhựt chi thời,

  • Than

    ôi! Chư Linh Thất tổ bỏ cỏi trần,tiếng tăm còn lại,sự cửa nhà xưa vẫn

    được yên,ngôi mộ mả vẫn còn chưa hợp,nay tìm đất tốt;xin dời sang yên ổn

    nắm xương,tâm sửa lể nghi;xin chứng láy tiến thành một chút,từ nay được

    chổ;cầu hồn phách được yên.không ngại về sau cháu con vui vẻ.

  • Thỉnh phú Mộ phần,đồng lâm phối hưởng Ngưỡng vọng Tôn Thần phò trì chi gia huệ giả.

  • " Đồng kính bái vãng" ,

    n.d betan.d beta


Nhà

Trần buộc họ Lý đổi thành họ Nguyễn ,họ Nguyễn là một dòng họ ít người

bên Trung Hoa, và ngược lại họ Nguyễn có nhiều và có sớm ở nước ta.



Phải chăng Trần Thủ Độ muốn cho họ Lý hòa lẫn trong số đông người Việt rải rác khắp nước?.




Nhà

Nguyễn thời Gia Long và MInh Mạng đã bắt những người họ Lê đổi họ thành

Nguyễn chỉ vì thời đó những kẻ cầm đầu những phong trào PHỤC HƯNG nhà

Lê mang họ Lê: Lệ




Riêng con cháu dòng nhà Lê cũng có một hệ thống tên lót "Cam, Hồng, Phước" để phân biệt thế hệ,



Năm 1402, Hồ Hán Thương lại mang quân đi đánh Chiêm Thành lần thứ

hai, dùng Đỗ Mãn cùng các tướng Nguyễn Vị, Nguyễn Bằng Cử và Đinh Đại

Trung.
Đinh Đại Trung làm tiên phong đi trước, gặp tướng Chiêm là Chế Cha Nan. Hai

bên giao chiến đều có thiệt hại nhưng cuối cùng quân Chiêm bị thua. Vua

Chiêm là Ba Đích Lại sợ hãi, bèn sai cậu là Bố Điền đến gặp quân Đại Ngu

dâng voi trắng, voi đen và xin nộp đất Chiêm Động (nam Quảng Nam) để

làm điều kiện cho nhà Hồ lui quân.


Bố Điền đến nơi, xin được giảng hòa. Hồ Quý Ly không chấp nhận, bắt

phía Chiêm Thành phải làm tờ biểu khác và dâng cả đất Cổ Lũy (bắc Quảng

Ngãi). Ba Đích Lại thế yếu phải chấp nhận yêu sách của nhà Hồ, bèn

chuyển dân về phía nam và nộp đất Chiêm Động, Cổ Lũy.



Photobucket


Nhà Hồ tiếp quản đất mới từ Chiêm Thành, bằng chia

Chiêm Động làm hai châu Thăng và Hoa; chia Cổ Lũy thành 2 châu Tư và

Nghĩa. Để ổn định đất đai phía nam, nhà Hồ cho An phủ sứ Thuận Hóa là

Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa (đến năm 1406 dùng Hoàng Hối

Khanh thay Nguyễn Cảnh Chân); cho con Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan

làm Cổ Lũy huyện thượng hầu, trấn giữ châu Tư và châu Nghĩa, chiêu dụ

người Chiêm để chuẩn bị thực hiện cuộc nam tiến tiếp theo. Do Ba Đích

Lại đã dời nhiều người Chiêm về nam, đất Tư – Nghĩa ít người, nhà Hồ đưa

những người không có ruộng đất ở phía bắc vào khai phá những vùng đất

mới nầy.




Bo bien Thanh Khe




bờ



biển Thanh khê nơi ông Thuỷ tổ LÊ quý Thiêng Trấn thủ lập làng chài



lưới,và cũng là thuỷ tổ nghề chài lưới tại vùng đất mới chiếm nầy,hướng



dẩn cho dân bản địa củ làm nghề đan lừ,đan lưới bằng sợi dây,gai thô



(thời gian nầy chưa có lưới ni lông như bây giờ), bán cho dân chài trong



vùng.đén đời nội tôn thứ 23 Lê văn Còn là người phát triển nghề đánh bắt cá bằng cơ giới

nhưng ông chết sớm ở độ tuổi 42 để lại một chiếc tàu cá và số thiết bị chuẩn bị cho chiếc khác

;bà

vợ chuyển đổi việc kinh doanh giao cho cha ruột của mình đầu tư đất đai

cơ sở rửa xe rồi cha chết toàn bộ gia sản đều bị em trai ruột duy nhất 

chiếm đoạt của bà.



Photobucket



 Ngài thuỷ tổ từ làng tả ao, ông Trương khắc Cần dịch nghĩa

(Ao giảng)phủ ĐỨC QUANG huyện Nghi xuân,Thừa tuyên Nghệ An.(nay là ven

biển tỉnh Hà tỉnh)


Vào Nam trong trường hợp nầy,khai sinh dòng Họ LÊ hậu duệ cho đến nay. 



 Địa danh nầy chúng tôi tra cứu:ghi bên tộc ứơc đề nghị các vị trưởng thượng tra cứu bổ sung.


Năm quý tỵ ,năm Thành Thái thứ 4 1893 ngày 23-03



,một trận bảo lớn có kèm sóng thần làm chết 600 mạng người phần lớn

người bị nạn là các vị tiên tổ của các chư phái tộc sống tại xứ Thanh

khê,Ngày nay thuộc Quận Thanh Khê,thành phố ĐÀ NẴNG VIỆT NAM,trong đó có

họ LÊ ta một gia đình tuyệt tự là gia đình ông LÊ VĂN DẬU Gồm 7 người con)...vv...


Photobucket



Đà nẵng năm 1858


thoi 1000vn&champa
champa900nam tien


gom leso



n.d beta
n.d beta
Nguồn gốc của thành phố, thời Vương quốc Champa cổ

đại, được thành lập bởi những người định cư Indonesia . Tên của Đà Nẵng

được cho là có nguồn gốc từ người Chăm từ Đà Nak, nghĩa là "mở một con

sông lớn". Tại đỉnh điểm, của người Chăm phạm vi ảnh hưởng trải dài từ

Huế đến Vũng Tàu. Bắt đầu với Hoàng đế Lê Hoàn (người sáng lập ra triều

Tiền Lê ), chính sách của Việt Nam mở rộng về phía Nam ""


(Việt Nam: Nam Tiến) mang lại do Champa có những cuộc xung đột với các nước



láng giềng phía bắc của họ, điều này Khiến nhà Hậu Lê 1471 mở rộng lảnh
thổ dẫn đến sự suy tàn và sụp đổ của Champa Vương quốc Anh trong thời

gian giữa thế kỷ thứ 15.




le thanh tong1471LÊ THÁNH TÔNG

rong daRồng đá điện Kinh thiên


*-Ngay khi vừa lên ngôi năm 1428, Lê Thái Tổ ra sắc chỉ cho ghi chép công



trạng của những người đã theo vua khởi nghĩa, ban chức tước và quốc tính

(họ của nhà vua) cho 221 người.
Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên

những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà này tên

huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh

Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh

Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân

chúng khắp nước, nơi nào có họ "Trần" đều phải đổi chép thành chữ "Trình."



Vua Lê Thái Tổ đã sắp đặt cho các đại công thần quen nắm quyền chính từ lâu và ngoại thích _của Thái Tông, chẳng thể chen vào !






王樂青塘該地區的捕魚蜻蜓西沙群島,從新年,端午節。




tien dd

danang


dan Dang trong




n.d alpha

n.d alpha


Một trong những người châu Âu đầu tiên đến thăm Đà Nẵng đã được người Bồ



Đào Nha Antonio De Faria, người neo tại Đà Nẵng trong năm 1535. De Faria

là một trong những người phương Tây đầu tiên viết về khu vực, và thông

qua ảnh hưởng của ông tàu Bồ Đào Nha bắt đầu cuộc gọi thường xuyên tại

Hội An, mà sau đó đã được một cảng quan trọng hơn nhiều so với Đà Nẵng.

Trong suốt thế kỷ 17 và 18, thương nhân Pháp và Tây Ban Nha và nhà

truyền giáo thường xuyên đổ bộ tại Hội An, ngay phía nam Đà Nẵng.

Tiếp theo chỉ dụ của vua Minh Mạng năm 1835 cấm các tàu từ châu Âu

làm lở đất hoặc theo đuổi thương mại, ngoại trừ tại Cửa Hàn , Đà Nẵng

nhanh chóng thay thế Hội An để trở thành thương cảng lớn nhất ở khu vực

trung tâm. Lực lượng Pháp chiếm giữ Đà Nẵng, 1858.

Năm 1847, tàu Đô đốc Pháp Cécille bắn phá Đà Nẵng, bề ngoài là trên cơ sở của sự ngược đãi của nhà truyền giáo Công giáo La Mã.

Trong tháng tám năm 1858, một lần nữa bề ngoài trên cơ sở của sự

ngược đãi tôn giáo, quân đội Pháp do Đô đốc Rigault de Genouilly

Charles, và theo lệnh của Napoleon III, hạ cánh tại Đà Nẵng như một phần

của Chiến dịch Nam Kỳ trừng phạt. Người Pháp overpowered người Việt Nam

đóng quân tại Đà Nẵng, nhanh chóng chiếm các thành phố và bán đảo Tiên

Sa (nay gọi là bán đảo Sơn Trà). Mặc dù thành công ban đầu của họ, các

lực lượng chiếm đóng nhanh chóng được đặt dưới sự bao vây của quân đội

Việt Nam dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, và cuối cùng đã buộc

phải rút lui tháng 3 năm 1860.




Photobucket



n.d alphan.d alpha
   Bổ sung:(năm 2010)


Ngày 21->23 tháng năm năm 2006 một trận bảo có tên gọi Chanchu làm cho 200 mạng người chết,và mất tich,

 
LÊ CAO Bông,LÊ CAO Đường,con ông LÊ vấn Lanh không bao giờ còn có ngày trở về,ngày ấy âm Lich là

17-04- 2006, để lại một thế hệ côi cút thương tâm....vv...


  •  LỂ CÚNG GIỮA TRỜI: 

  •  kim vì tín chủ:....... Hiện trú tại Phường Thanh Khê,Đà nẵng, 

  •  Kỳ nguyện toàn gia nam nử chúng đẳng, Cẩn dủ hương đăng trà quả lộc phẩm chi nghi, Cảm cáo vu: 

  • Dương cảnh thành hoàn, Bổn xứ Thổ địa Ngũ Lộ Thân tài, 

  • Bổn xứ Linh quan,Phổ cập,Bổn thị, 

  • Oan hồn,Uổn tử nam nử thương vong Cô mộ,Hoang mộ,Hửu Danh vô vị,Hửu vị vô danh, 

  • Thỉnh đồng hiệp hưởng Chi nghi Cọng bảo bình an chi phước. 

  •  Nhứt Thiết oai linh đồng thuỳ chiếu giám, 

  • Ngưỡng vọng Âm Thần Chi gia Huệ giả 

  • Gia chủ kính cáo"tam bái"

  • >Mẹ Nhu (LÊ THỊ DẢNH) hôm đó có nhìn ra bờ biển Thanh Khê xa xa kia, có

    thấy cái dáng đang gục xuống bên chiếc thuyền "thúng chai" lật úp mang

    dáng một nấm mồ? chỉ có 1 người mang họ LÊ (5. Lê Thanh Tân,

    Nghĩa An, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) trong số 33 người được tàu hải quân Việt

    Nam SAR411;412 cứu sông năm đó

    Địa chỉ trang Web nói lên điều thương tâm nầy:
    http://vietbao.vn/Xa-hoi/Don-nan-nhan-bao-Chanchu-tai-Cang-Da-Nang-Vo-oa-trong-nuoc-mat/45195177/157/




  • Hai con đường đẹp nhất Đà Nẵng là Nguyễn Tất Thành và Bạch Đằng, một biển,

    một sông, mấy ngày đấy chất chứa nỗi tang thương vô bờ. (là

    đường Nguyễn tất Thành con đường ven biển Đà nẵng dài 10 km kể từ chổ

    nốii tiếp đường bạch Đằng đến gần Nam Ô Liên chiểu, nay có thêm cây cầu

    Thuận phước qua bờ đông bán đảo Sơn Trà mới thông xe trong năm nay)


    n.d alphan.d alpha



    Đến phường Thanh Khê Đông, phía bắc có cả một cây số bờ biển vịnh Thanh
    Bình Đà Nẵng giáp biển Đông,phía tây giáp phường Thanh khê Tây,phía Đông
    giáp phường Xuân hà.phía Nam giáp phường Chính gián;An khê, đêm dằng
    dặc những nén nhang nhập nhoà, những ngọn nến leo lét. Vị mặn chát từ
    gió biển và len lén từ giọt nước mắt chảy xuống bao giờ.
    Những bàn thờ dọc bờ cát tối sẫm như bóng những người đang ngồi sụp vĩnh viễn không bao giờ dậy nữa..
     Biển ơi, còn gì?
    Còn, sẽ còn rất nhiều. Những tai ương rình rập, những cái chết thương
    tâm, những gia đình tan nát, những thế hệ cút côi ... Nhưng
    cũng còn đó rất nhiều những thứ vẹn nguyên không bão tố nào quật nổi,
    đó là tình người, là sự kiên cường, là niềm hy vọng vượt lên thất vọng
    và tuyệt vọng




    Có tiếng cụ già khàn đục trong nghẹn ngào ngấn lệ :thốt lên trong đêm vắng lạnh"biển là giả con ơi"



    Những hướng nhà thời

    xưa thường hướng mặt ra biển để tận hưởng ngọn gió mát từ biển,"cho đến

    ngày nay sau khi cải tạo con đường ven biển của thành phố(2001) người ta

    củng luôn chiếu cố xây nhà hướng ra biển"cũng như chờ đón một người con



    của biển trở về sau trận bảo đi qua.

    Để mổi sáng thức dậy nhìn xa xa hướng biển như chờ đợi,như hy vọng ngày về,vong hồn các cụ vỉnh hằng,

    cùng tưởng nhớ ông bà cha chú vì gìn giữ Đảo xa, vì sinh kế, vỉnh viển nằm

    lại dưới con sóng dử phong ba ngoài xa đại dương biẻn cả mênh mông!!!

    Miếu Huyền Trân Công Chúa Lể cúng hằng năm ngoài bờ biển phường Thanh Khê Đông


    Công chúa Huyền Trân. Một cuộc hôn nhân đổi lấy bờ cõi từ Chiêm Thành cho Đại Việt. 


    Cảnh vẽ công chúa Huyền Trân tại Chiêm Thành chuẩn bị cho hôn lễ, lòng buồn hướng về quê hương. 



    n.d alphan.d alpha



    -Hướng tới đại lễ nghìn năm, cùng các họat động trong cả nước, Lê tộc

    Việt Nam cũng đã có nhiều hình thức tri ân tổ tiên, hướng về cội nguồn,

    tiêu biểu là việc hồi hương, hoàn táng thi hài vua Lê Dụ Tông sau 46 năm

    lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam


    -Thời kỳ Lê Thánh Tông trị vì, xã hội phát triển mọi mặt, để lại dấu ấn

    đậm nét trong lịch sử dân tộc với những giá trị văn hóa to lớn như Hồng

    Đức thiên hạ bản đồ, Hồng Đức hình luật, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức

    quốc âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thư...


    thanh co thang long

    Bản đồ Thành cổ Thăng long

    Photobucket

    bản đồ từng thời gían nam tiến của Việt Nam trong đó có công lao xương máu của ông bà tiền bối dòng họ LÊ

       -GS-NGND Nguyễn Đình Chú khẳng định: Đệ nhất minh quân Lê Thánh Tông – nhà văn hóa lớn của nước Đại Việt Ông Lê Xuân Niêm,

    Giám đốc Trung tâm giáo dục truyền thống và lịch sử cho biết, với hội

    thảo này, ngoài ý nghĩa tri ân tiên tổ, những đóng góp của các nhà khoa

    học sẽ là tư liệu quý giá để có cơ sở lập hồ sơ đề nghị các tổ chức văn

    hóa trong và ngoài nước tôn vinh vua Lê Thánh Tông là danh nhân văn hoá.

    Thành phố xây dựng thời nhiều như cầu Thuận Phước bắt qua bán đảo Sơn Trà, cầu quay,dường phố...v v...

    đơn cử vài điểm Thành phố Đà Nẵng xây dựng mới

    ca nam

    chúc mừng Thành phố thành côngChúc mừng

    Bo bien Thanh Khe

    bờ biển Thanh Khê nơi ông Thuỷ Tổ vào Nam Trấn thủ

    ham hai van

    Hầm Hải Vân Ngày Nay, Thông xe năm 2006 thay thế đường đèo Hải vân.

    cau rong

    cầu rông bắt qua sông hàn tại cổ Viện Chàm khởi Công được một năm 2009.

    phao hoa





    Pháo Hoa Quốc tế tổ chức tại Đà Năng vào 27&28 tháng 03 hằng Năm kể từ năm 2006.



    PhotobucketPhotobucketPhotobucket 

    Photobucket

    Photobucket





Họ có Trưởng tộc vậy xưng hô phải theo đúng trật tự trên dưới,
thế thứ họ hàng.

Trưởng tộc chịu trách nhiệm chung trước Tổ Tiên và Dòng Họ, bảo đảm
tổ chức thực hiện tốt Tộc ước, quản lý và bổ sung Tộc phả, duy trì thờ
cúng Tổ Tiên của toàn dòng họ tại Nhà Thờ họ theo đúng lệ ngạch.
Chịu trách nhiệm bảo đảm tổ chức thực hiện tốt Tộc ước, quản lý và bổ sung gia phả, tộc
phả và thờ cúng Tổ Tiên, ông bà, cha mẹ mình được chu đáo.

1. Trưởng tộc, phải chú ý phát huy vai trò của các cụ
Trùm và các bậc cao niên trong họ; cùng bàn bạc để tổ chức chỉ đạo duy
trì tốt yêu cầu nội dung kế hoạch triển khai việc lễ Tổ trong những dịp
Chạp Tổ Họ, Tổ Chi,... phù hợp với khả năng và điều
kiện, mọi người đoàn kết, vui vẻ, phấn khởi.

2.Kèm
Lể phát thưởng con cháu học giỏi các bậc học hằng năm; động viên khích 
lệ việc học tập của các cháu.Vào ngày hội mã sau khi lể dâng hương 
xong.

Đảm bảo đoàn kết thống nhất trong gia tộc,phát huy tác dụng của gia
quy. nhằm đấu tranh chống và phòng ngừa tử tôn nội ngoại tộc LÊ pham tội
trong mọi lỉnh vực...



 lich su:

ca_dn2003





Hôm nay ngày 15-tháng 08 năm 2010




sach







Để chuẩn bị chào mừng Đại Lể Nghìn Năm Thăng Long

Hà Nội, chúng tôi đời Nội tôn thứ 25 ngồi đánh đôi dòng tư liệu nầy,có

khi giúp cho con cháu ngày sau có thêm tư liệu tiếp tục,bổ sung.Cho dòng

họ LÊ phồn vinh hùng mạnh.



Trang văn hóa ứng xữ

TRANG SAU THỦY TỔ









cuoi rong






Gia Phả LÊ TỘC qúy PHẢ
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc LÊ TỘC qúy PHẢ.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc LÊ TỘC qúy PHẢ
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.