GIA

PHẢ

TỘC


TỘC
qúy
PHẢ
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 


VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ


dau rong 


d.t thod.t thod.t thod.t thod.t thod.t tho 



BẠN NÊN DÙNG TRÌNH DUYỆT MOZLLA-FIREFOX






Photobucket

Photobucket 




Photobucket



Thuỷ tổ vào Nam trong trường hợp :



Năm 1396 Nhà Hồ chiếm đất Chiêm Động & Cổ Luỷ ( Đà nẵng ,Quảng Nam, Quãng ngãi ngày nay)



Làm nghề thầy thuốc cứu giúp dân lành địa phương sinh ra hậu duệ ngày nay;



Mãi đến năm 1472 làng cá Thanh Khê được tạo lập cùng với các làng ven biển từ Nha Trang trở ra quảng bình theo luật Hồng Đức ( bộ luật đầu tiên của nước Việt nam.)



Tộc ta là Lê Tộc:



"Có cội có nguồn mới sinh ra



con cháu nhà ta phải rỏ mà



ăn quả nhớ ơn người đắp cội



Uống nguồn thương đức kẻ trông cây



Tôn công tổ đức ghi ơn nặng



Xuân tự thu thường có nghĩa xa



Gia phả lập thành gìn giữ mãi



Trăm đời giữ trọn chẵng sai ngoa



Bổ sung tu chỉnh luôn ghi nhớ



không quên cùng một mẹ sinh ra ;


Đẵng  hệ  dùng  chử  lót nhận  nhau , 


Định phân  thế  hệ  thật rỏ  ràng."


Con cháu có tình thân tộc cao, có tâm huyết nhớ công ơn tiền bối lập nghiệp.Nhớ đại nghĩa tiền nhân:



Đây là tư liệu quý báu, dỉ nhiên còn thiếu sót, các vị trưởng thượng chiếu cố bổ sung cho hoàn chỉnh.



cám ơn



Cháu nội tôn đời 25 Lê cao Cả kính đề nghị:



 bờ biển Tổ tiên sinh cơ lập nghiệp



Photobucket



Photobucket



Photobucket






Hợp đồng hợp chủng và đoàn kết giữa hai chủng Thái và Việt cuối cùng bị xé bỏ. Hợp đồng hợp chủng và đoàn kết giữa hai chủng Thái và Việt cuối cùng bị xé Đó chính là lúc Âu Cơ ly hôn với Lạc Long Quân dẫn 50 người con về miền núi và Lạc Long Quân dẫn 50 người con kia xuôi về miền đồng bằng gần sông gần biển. Hợp đồng hợp chủng và đoàn kết giữa hai chủng Thái và Việt cuối cùng bị xé Trên chiều hướng dùng nhân vật và hành động nhân vật để thay, hoặc biểu tượng cho sự kiện, ta có thể thấy việc cãi vã giữa Lạc Long Quân 


và Âu Cơ, rồi dẫn đến chia ly, cũng giống như việc gia đình phải phân tán khi phải di tản hay chạy giặc. 


Âu Cơ đại diện cho khuynh hướng bảo thủ đem con trở về quê hương của mình, tức địa bàn rừng núi của chủng Thái-cổ. Lạc Long Quân dẫn đám con kia xuống vùng đồng bằng để 'dựng nước', chạy theo trào lưu 'phụ hệ' của Hoa chủng, và truyền 'chính quyền' theo lối thế tập. Cũng có thể giải mã sự chia tay giữa bà Âu và ông Lạc theo dạng: Thế lực đô hộ Bắc phương sau khi đã bình định được xứ sở của hai chủng Âu và Lạc, đã chia cắt nước Nam Việt ra làm hai. 


Phía Bắc bao gồm chủng Âu chủ lực, gọi Quảng Châu. Phía Nam mang tên Giao Châu, gồm đa số dân chủng Lạc. Riêng tại Giao Châu, việc chia ly cũng được thể hiện bằng chuyện có rất đông một số người, với chủng Âu (Thái cổ) chủ lực, kéo lên miền núi rừng sinh sống, rồi lâu năm hợp với các chủng địa phương như Negrito (dân lùn tóc quắn) và Melanesian (dân đảo da đen), trở thành người Mường. Phần còn lại ở vùng đồng bằng trở thành người Kinh.. 

Cả hai bản của truyện tích Mường và Việt đều ghi rõ hai chủng Thái và Việt cổ đều theo mẫu hệ. Điều này rất hợp lý, bởi khi di tản xuôi Nam, cả hai chủng đều đi một lượt với nhau.theo mẫu hệ, với chứng tích các con trai đều không theo họ cha lẫn họ mẹ, như Sùng Lãm con của Lộc Tục Hai bộ tộc, một Âu một Lạc cùng di tản với nhau thì không cách gì chỉ có bộ Âu còn giữ mẫu hệ mà thôi. Bằng cách cho con trường, Chủng Âu, tức Thái cổ, còn Chỉ ở đoạn cuối của bản Việt, các tác giả đã gượng ép thay đổi một số chi tiết để ám chỉ chủng Việt đổi ngay sang phụ hệ, vào lúc chia mang hai giòng máu Thái-Việt, lên ngôi vua xưng là Hùng Vương và truyền lại 18 đời theo lối thế tập của phụ hệ. Có lẽ dưới sức ép phải minh chứng với người nghe kể chuyện là đám con theo Cha cũng tiến lên phụ hệ một lượt với các quan thầy Bắc phương, từ thời nhà Hạ bên Tàu. Để tránh lộn xộn, xin tóm lược vài 'đẳng thức cở bản' của loạt bài này, như sau:* Bách Việt = Nhiều chủng tộc có các ngôn ngữ gần giống nhau, nhưng khác Hoa ngữ* Việt ( Nam ) = Thái (cổ) + Việt (cổ) + Một số các chủng có sẵn bản địa (như Negrito,Melanesian, Môn, Khmer, v.v.), 


từ đây gọi tắt 'các chủng khác', CCK.


* Việt ( Nam ) = Thái-cổ + Việt-cổ + CCK = Âu + Lạc + CCK


* Thái (cổ) = Nhiều chi chủng Thái (Âu) khác nhau ,


* Việt (cổ) = Nhiều chi chủng Lạc (Việt cổ) khác nhau ,


* Người Việt Nam thời sơ khai = Mẹ Thái + Cha Việt


* Người Thái Lan, xưa và nay = Mẹ Thái + Cha Thái


* Hmong (Miêu) tộc = hậu duệ của đám Cửu Lê (Jiu Li), với lãnh tụ Xy Yâu (Vưu) -từng đại bại trước phe Hoa chủng của Hiên Viên 'Hoàng Đế', trong thời huyền sử.


Ngày trước, chủng Hmong thường được gộp chung với khối Bách Việt. Bây giờ họ được tách ra khỏi khối này bởi có nhiều khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, chỉ số sọ và có lẽ ADN.Chúng ta có thể thấy rõ, một khi đã giải mã được truyền thuyết như một câu chuyện đời xưa liên hệ đến cuộc di tản hằng khối của 2 chủng Âu và Lạc, kết thúc bằng chia ly, tất cả những vấn đề liên hệ đều có thể nhanh chóng được sắp xếp trở lại, 'đâu vào đó' rất êm xuôi.Phần sau đây chúng ta sẽ phân tích riêng về nước Xích Quỷ.Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có chép:'Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, (An Dương Vương Thục Phán chém yêu tinh gà trắng xây thành Cổ Loa với sự trợ giúp của thần Kim Qui.)


xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải.Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con . Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.''Sau đó vẫn theo 'truyền thuyết' Lạc Long quân phong cho người con trai trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.


XÍCH QUỶ'Quốc hiệu' nguyên thủy của nước Nam chính là Xích Quỷ. 


Theo 'truyền thuyết giải mã', địa bàn 'nước' Xích Quỷ chính là địa bàn của khối Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử. Không kể đến những chủng Việt khác đã sinh sống hàng trăm hàng ngàn năm trước ở miền Hoa Bắc. 


Để ý thêm, bởi các tác giả truyền thuyết thuộc chủng Âu (Thái-cổ), ta thấy toàn bộ truyền thuyết đã được viết riêng theo quan điểm chủng Âu, tức gốc tổ người Mường. Viết y theo gia phả bên vợ của Lạc Long Quân, đại diện chủng Lạc tức Việt-cổ.Xin phép nhấn mạnh thêm một lần nữa: Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng Đế Nghi làm vua phương Bắc. Tác giả mập mờ không cho biết địa bàn phương Bắc gồm những vùng đất nào, nhưng đến khi được biết 'ranh giới' Xích Quỷ chúng ta có thể đoán ngay 'phương Bắc' bao gồm nhiều lắm là địa bàn tỉnh Hồ Bắc ngày nay, tức phần lớn đất Kinh Việt, tức châu Kinh của nước Sở. Phương Nam của nước Xích Quỷ do đó chỉ là một sản phẩm tiểu thuyết, của một truyện cổ tích lâm ly. Bởi một khi đã xác định thời gian và không gian nhằm vào nước Sở ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, chúng ta có thể thu thập các dữ kiện lịch sử rất chắc chắn như sau: Vào thời đó, ở miền Bắc sông Dương Tử, có đến trên 1000 nước lớn nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều bộ tộc chủng tộc khác nhau. Với tiếng nói và phong tục khác nhau. Chỉ đến khi nước Tần trở nên hùng cường, diệt được Sở cùng với Hàn, Triệu, Ngụy, Tề và Yên và nhất thống được nước Tàu, lúc đó hãy còn loanh quanh ở Hoa Bắc, họ mới bắt đầu công cuộc Nam chinh, đánh vào các bộ tộc rợ miền Hoa Nam. Miền Hoa Bắc trước khi nhà Tần nhất thống đã là một hỗn hợp rất nhiều bộ tộc và 'quốc gia'. Miền Hoa Nam của khối Bách Việt chắc chắn cũng y như vậy. Sử sách chính thức của Tàu không bao giờ đề cập đến 1 nước nhất thống được tất cả hằng trăm bộ tộc khác nhau của khối Bách Việt, ở Hoa Nam, trước và sau khi nhà Tần, nhà Hán khởi động chiến tranh xâm lược miền Hoa Nam. Bởi ở lý do hết sức đơn giản: Họ mãi lo chinh chiến ở miền Hoa Bắc nên hiểu biết rất ít về đám rợ ở Hoa Nam .Như vậy tên gọi Xích Quỷ chỉ là một sản phẩm của chuyện cổ tích, với một mục đích đơn giản ghi lại cội nguồn của các chủng Bách Việt, đặc biệt hai chủng 'chủ lực' đã cuối cùng định cư tại đất Bắc Việt ngày nay: Âu và Lạc.Sau đây chúng ta thử phân tích những lý do nào đã khiến tác giả chọn tên Xích Quỷ cho 'quốc hiệu' đầu tiên của nước Nam.Tên nước 'Xích Quỷ' xuất hiện chính thức và đầu tiên với bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên , vào đời vua Lê Thánh Tôn, khoảng năm 1479. Trước đó, nước Nam có hai bộ sử, với đặc điểm không có chép về truyền thuyết dựng nước của Hùng Vương, con trai trưởng của Sùng Lãm tức Lạc Long Quân, và Âu Cơ. Thứ nhất, Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, soạn năm 1272, thất truyền từ lâu. Thứ hai, Đại Việt Sử Lươc , khuyết danh, ra đời vào khoảng 1377-1388, dưới thời nhà Trần.Cả hai bộ Sử Ký và Sử Lược đều không có ghi chép gì hết về cái danh xưng 'Xích Quỷ'. Như đã tóm lược phía trên, toàn bộ truyền thuyết xuất phát từ một chuyện cổ tích của người Mường. Chuyện đó chỉ bắt đầu vào đoạn 'Có một nàng công chúa Mường tên Ngu Kơ (Âu Cơ) lấy thái tử con bua Yịt là Long Wang (Lạc Long Quân)', chứ không có các tổ tiên như Thần Nông, Đế Minh, Kinh Dương Vương, hoặc lãnh thổ như 'Xích Quỷ', ... Và kết thúc ở chỗ Ngu Kơ dẫn 50 đứa con trai và gái lên miền rừng núi, trong khi Long Wang đưa 50 người con trai và gái xuôi về miền đồng bằng gần sông biển. Hai bên tạo dựng nên các gia đình vua chúa. Ngụ ý những bộ tộc hai phe đều do các người con đứng vào vị thế lãnh đạo. Tức bản Mường không hề có Hùng Vương, hoặc hình thái nhà nước như nước Văn Lang.Nói về tên nước Xích Quỷ, chúng ta có thể để ý đến các điểm chính như sau: Địa bàn của nước Xích Quỷ rất rộng lớn, nằm ở giữa khu vực Hoa Nam bên Tàu. Tức phiá Nam sông Dương Tử. Nhượng Tống, dịch giả đầu tiên của bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , theo trích dẫn của Bình Nguyên Lộc cho rằng tên Xích Quỷ ... quá xấu nên không có gì đáng tin cậy. Bình Nguyên Lộc, mặc dù lăng xê thuyết Mã Lai bằng tiếng Việt nhưng vẫn tin có Xích Quỷ và Văn Lang, đã ra sức biện giải cho tên Xích Quỷ và cho rằng có thể nằm đâu đó phía Nam tỉnh Quí Châu ngày nay. Quí Châu nằm ở phía Bắc và giáp giới tỉnh Vân Nam. Phía Đông của Quí Châu là tỉnh Hồ Nam. Khi xưa tỉnh Quí Châu có tên Quỷ Phương, cũng chứa từ 'Quỷ' trong đó, nằm ở phía Nam nước Sở thuộc khu vực Hồ Động Đình, cạnh sông Dương Tử.(II) Đọc sử Trung quốc, chúng ta cũng thấy vào thời Xuân Thu (770-476 TCN) có một bộ tộc rất 'man di' mang tên 'Xích Địch' quấy nhiễu nhà Châu, sau nhờ Tấn Văn Công hội chư hầu đánh dẹp . Dân Xích Địch cũng có 'choảng' với các nước chư hầu khác, trong đó có nước Sở, đang chạy theo văn minh Hoa Hạ . Nên để ý, mặc dù người Tàu thời cổ đại bày đặt phân biệt các đám rợ gọi theo phương hướng: Tây Nhung, Bắc Địch, Đông Yi, và Nam Man, chúng ta thấy rất thường họ gọi lẫn lộn lung tung. Dân rợ phía Nam , thỉnh thoảng họ cũng gọi chung 'Man Di'. Lý do? Bởi ban đầu họ đã sắp xếp phân loại một đám rợ thuộc chủng này ở miền này, nhưng về sau họ lại gặp một đám rợ khác, ở hướng khác miền khác, có dáng dấp, phong tục và màu da y hệt như đám cũ trước kia. Thí dụ, người Hoa đầu tiên có thể gặp đám rợ Yueh ở khu vực Sơn Đông (nước Tề xưa), họ gọi đó là rợ Di, Lai Di. Đôi khi họ gọi đám Yueh đó Bách Bộc, tức nhiều bộ tộc mang tên Bộc giống giống với nhau. Cũng có lúc họ gọi một đám nào trong đó Yueh (Việt), như Việt Thường chẳng hạn . Về sau họ gặp lại những nhóm rợ tương tự ở phía Nam sông Dương Tử, sống chung hay gần gũi các đám Nam Man khác, nên họ vẫn có thể gọi đám rợ phía Nam là 'Di'. Tức mặc dù đã đặt tên mới nhóm rợ Nam sông Dương Tử là Bách Việt hay Nam Man. Đôi khi họ vẫn lẫn lộn Di với Man cho cả hai đám. Bởi thật ra về chủng tộc rất có khả năng, hai khối thuộc chung một chủng lớn. Tương tự cho Xích Địch, mang nghĩa 'rợ có da màu đỏ'. Rất có khả năng, đầu tiên họ biết đám rợ này từ phương Bắc (nên mang tên Địch), nhưng hoàn toàn không có nghĩa dân Xích Địch không có ở phía Nam sông Dương Tử. Đây là một điểm khá gút mắt của đầu óc người Hoa. Ta cũng để ý đầu óc mấy ông Tàu cũng rất phức tạp và tinh vi ở chỗ hết dùng phương hướng họ lại dùng đến màu sắc để phân biệt đám rợ này với nhóm rợ kia. Y hệt như cái thuyết Ngũ Hành. Theo ngũ hành họ có Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, tương ứng với Tậy Đông Bắc Nam Trung, và với các màu Trắng Xanh Đen Đỏ Vàng. Đủ kiều dáng để tha hồ phân biệt. Đối với 'Xích Địch' họ gọi đó đám rợ da màu thổ chu (đất đỏ) để phân biệt với các đám U Man (Wu man), tức rợ da màu đen đen - có lẽ chỉ Thái đen, và đám Bạch Man hay Bạch Di, tức rợ da hơi trắng. Đám U man, có tài liệu cho biết, cư ngụ tại địa bàn Nam Chiếu (Vân Nam) và Dạ Lang (Quí Châu), cũng thuộc địa bàn chủng Thái, chứ không phải chủng Lạc. Đặc biệt nước rợ Việt của Câu Tiễn cũng từng được gọi U Việt, có lẽ người 'Việt' ở đó hồi xưa có da ngâm ngâm đen, trừ nàng Tây Thi? Theo Lăng Thuần Thanh, thư tịch Trung Hoa cổ thời gọi hai khối Yi (Di) và Yueh (Việt), là đám rợ đen (U man) . Rất lộn xộn, nhưng theo thiển ý, có vẻ cả hai khối Đông Yi ở miệt Sơn Đông và Bách Việt phía Nam sông Dương Tử đều có các nhóm da màu đen đen(iv) Phân biệt 'U man', 'Xích địch' cũng là phân biệt với 'Bạch Man' hay 'Bạch Yi'. mộtNgày xưa có thể họ là chủ nhân nước Ba , nằm cạnh nước Thục. Đám Thổ gia (Tocharians) chính là đóng góp của chủng da trắng đối với chủng Tàu nguyên thủy . 

Họ xuất phát từ Trung Á, và thiết lập nên nhiều tiểu quốc trên con đường Tơ Lụa ( Silk Road ). Sau cùng có một nhóm về định cư ở Trung Đông, trở thành nước Thổ Nhị Kỳ (Turkey) ngày nay. đám quỷ, đám rợ, có da trăng trắng. Bạch Man có lẽ được người Hoa dùng để chỉ đám rợ Nguyệt Chi (còn gọi Nhục Chi) tức Turkistan hay Tokhares hoặc Tocharians, mà ngày nay họ ưa gọi Tujia (Thổ gia) - gốc da trắng.(v) 'Xích Quỷ' mang nghĩa loài quỷ có da màu đỏ, và ở cuối 'quyển Mã Lai' , tác giả có mô tả một loại người dân tộc (người Kha Lá Vàng ở biên giới Việt Lào) nói thứ tiếng Việt rất cổ có da màu đất đỏ, màu 'thổ chu'. Với hàm ý, rất có thể người Kha là hậu duệ của dân ‘Xích Quỷ’. Ở một đoạn khác tác giả 'Mã Lai' cho biết dân Khả Lá Vàng có rất nhiều đặc tính cổ thời của dân Việt, mà chúng tôi mạo muội bắt đầu phác hoạ sự phân biệt giữa chủng Thái-cổ và Việt-cổ. Dân Kha có đủ thứ sắc thái của chủng Yueh-cổ: xâm mình, nhuộm răng, ăn trầu, và điêu đề (xâm trán), cũng như nói tiếng Việt rất cổ . Tuy nhiên, tiếng Việt cổ của dân Kha gần với tiếng Mường hơn tiếng Việt. Điều này cho biết, theo với thuyết giải mã ở đây, người Kha thuộc chủng Thái cổ chứ không phải Việt cổ. Thuộc đám theo Âu Cơ, với chủng Âu (Thái-cổ). 


'Xích Quỷ' là một tên gọi thuần Hán. Do các tác giả Việt có thể thân-Mường, hay thân-Thái-cổ tức nghiêng về 'phe' của vua Lê Lợi (gốc Mường), đặt ra nhằm đề cao vai trò lãnh đạo của chủng Thái-cổ trong cuộc di tản về Nam hay dựng nước. Hoặc vinh danh chính triều đại nhà Lê vào lúc các bộ truyện như 'Việt Điện U Linh' hay 'Lĩnh Nam Chích Quái' ra đời. Nó đi đôi với tên xưng và địa danh của toàn bộ truyền tích con rồng cháu tiên. Đặc biệt những chuyện tích thơm danh chủng Việt như những cây gươm báu của Việt Vương Câu Tiễn, hai thanh kiếm Mạc Da và Can Tương ở nước Ngô (chủng Việt) , hoặc truyện tích Tây Thi gái nước Việt, đã 'bị' hoàn toàn gạt ra khỏi các truyền tích nằm trong cổ sử Việt. Chúng tôi hy vọng sẽ trở lại đề tài này trong một bài khác. Trở lại với chuyện chủng Thái-cổ có thể có một số mang da màu thổ chu (đất đỏ), nhiều tài liệu về việc khai quật các ngôi mộ cổ ở Bắc Bộ : cho thấy người chết được chôn cất, co gấp hai tay hai chân trong thế bó gối, giống như dân ở hải đảo Thái Bình Dương . Ngoài ra ở chung quanh 'ngôi mộ còn thấy dấu vết của thổ hoàng màu đỏ như màu máu và càng về sau, người ta thấy cùng chôn với người chết còn có những dụng cụ như rìu, nạo và sau có cả đồ gốm thì người ta hiểu rằng có thể những người tối cổ đã tin tưởng là con người còn có linh hồn và khi chết thì linh hồn sẽ đi sang một thế giới khác để có một đời sống khác,.. 


Đọc lại sử sách hoặc địa lý Trung quốc ; chúng ta sẽ thấy vùng đất ở khu vực Trùng Khánh Tứ Xuyên, tức nước Thục cổ xưa với chủng Thái chủ lực, gồm toàn đất ... đỏ. Như vậy, khá rõ, chủng Hoa ngày xưa dùng chữ 'Xích địch' để chỉ đám rợ có da màu thổ chu của đất đỏ.Xin thử ghi lại các sự kiện liên quan đến 'Xích Quỷ' ở trên:- Tác giả chính hay nguyên thủy của truyền thuyết là người Việt chủng Thái-cổ;- Xích Quỷ là quốc hiệu đầu tiên của truyền thuyết rồng tiên;- Xích Quỷ mang nghĩa chính: giống Rợ có da màu đỏ. Một thứ từ do Hoa chủng đặt ra;- Khối dân tộc chủ lực của Xích Quỷ chính là dân chủng Âu, tức Thái cổ;- Người Kha Lá Vàng ở biên giới Việt-Lào có da màu thổ chu;- Một số ngôi mộ của người Việt-cổ đã khai quật cho thấy dấu vết của đất đỏ;- Nước Thục, chủng Thái, ở vùng Tứ Xuyên ngày nay, có rất nhiều đất đỏ;- Thục bị Tần tiêu diệt vào khoảng năm 316 TCN; 

- Dân Thục chủng Thái di tản sang Sở, và một số xuôi về Nam gia nhập cộng đồng ởTây Âu (tức Âu Việt), Điền Việt (Nam Chiếu) và sau cùng, bình nguyên sông Hồng.Như vậy chúng ta có thể tổng hợp lại như sau: Xích Quỷ chính là một 'nước' trong trí tưởng tượng rất phong phú của các tác giả truyền thuyết - người Việt thuộc chủng Thái-cổ hay thân-Thái-cổ. Những người 'lãnh đạo' nước Xích Quỷ đó bao gồm những người di tản Việt chủng Thái, xuất phát từ một xứ có nhiều đất đỏ mang tên Thục. Nước Thục đã bị nước Tần tiêu diệt vào khoảng năm 316 TCN.'Nước Xích Quỷ' do đó được đặt ra và nhét vào truyền thuyết con rồng cháu tiên, để tự an ủi việc mất lãnh thổ vào tay Hoa chủng - có lẽ khởi đầu bằng nước Thục (316 TCN). 
Sau đó đến lượt nước Sở rồi Tây Âu. Cũng có thể để ghi lại lý lịch ban đầu cho thật rõ: dân Việt có nguồn gốc dân từ những nước đã bị mất về tay Hoa chủng. Đặc biệt Thục và Sở.Câu chuyện di tản do ở chuyện mất nước kết thúc khi một người nước Thục mang tên Phán (Thục Phán) lãnh đạo được đoàn người di tản - đa số xuất phát từ những nước đã mất về tay Hoa chủng - đến vùng bình nguyên sông Hồng và thiết lập nên xứ Âu Lạc, bao gồm hai chủng nòng cốt Âu và Lạc. Đó cũng là lúc Âu Cơ thành hôn với Lạc Long Quân. 

KẾT 

Qua loạt bài về giải mã truyền thuyết con rồng cháu tiên, đến đây chúng ta đã thấy, mặc dù câu chuyện bắt đầu với Thần Nông, Đế Minh, và Đế Nghi - nhưng đến lúc Lộc Tục xuất hiện với danh xưng Kinh Dương Vương,câu chuyện đã bị 'fast forward' theo kiểu bấm nút cho băng video quay nhanh sang đến thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu với địa điểm xảy ra câu chuyện là nước Sở.
Nước Sở là một nước được thành lập theo kiểu chư hầu phên dậu cho nhà Châu. 


Thành phần dân chúng chủ lực của Sở chính là chủng Thái-cổ, thường gọi Âu vào thời đó. Từ đó câu chuyện giới thiệu bà Âu Cơ, tiêu biểu cho chủng Âu, con gái theo họ mẹ y như mô hình mẫu hệ. 
Nhân vật Kinh Dương Vương cũng là một cái đinh của câu chuyện, bởi Kinh Dương Vương biểu tượng cho những người dân ở châu Kinh và châu Dương. Cả hai đất Kinh và Dương cũng đều thuộc nước Sở ở vào thời cực thịnh trong thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. 

Đất Kinh còn gọi Kinh Cức hay Kinh Việt, hoặc Kinh Man. Kinh chỉ núi Kinh, và Cức là một loại cây có gai ở vùng đó. Đất Kinh là địa bàn ban đầu của Sở chứa đa số dân Việt thuộc chủng Thái. Đất Dương nằm về phía Đông Nam của đất Kinh, ra tận tới biển, bao gồm những vùng đất quân Sở đã thôn tính được từ đám dân Việt chủng Lạc ở hai nước Ngô và Việt xa xưa.Bởi trong tên Kinh Dương Vương có chữ 'Dương', chỉ chủng Lạc tức Việt-cổ, con của Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân mới mang được huyết thống của chủng Việt-cổ 100%. Phối hợp với Âu Cơ, chủng Âu tức Thái-cổ 100%. Hôn nhân giữa Âu và Lạc sinh ra 100 người con mang hai giòng máu Thái và Việt. Cuộc hôn nhân dị chủng đầu tiên nổi tiếng nhất của Á Châu đã nhằm vào mục đích nhất thống hai chủng tộc lớn và kiên cường nhất của khối Bách Việt để chống lại chủng Hoa rất hung hăn và dữ tợn. Cuối cùng đành phải thua, và hai chủng dắt tay nhau thối chạy về phương Nam . Họ dựng 'nước' nhưng rồi ý kiến bất đồng nàng Âu và chàng Lạc đành phải chia tay, đôi ngả đôi ta. Mỗi người dẫn nửa đám con về trở lại địa bàn nguyên thủy của chủng họ.Việc chia tay giữa Lạc Long Quân với Âu Cơ xảy ra cùng lúc với việc nhà Hán thừa hưởng di sản 'tinh thần nhất thống và đế quốc' của nhà Tần, đưa quân xuống tiến chiếm hết miền Hoa Nam, đặc biệt khối chủng Việt (Lạc) ở vùng đồng bằng ven biển hướng Đông. Trong đó có phần đất Dương của nước Sở xa xưa, nước Mân Việt (Phúc Kiến ngày nay), và Nam Việt của Triệu Đà. 



Photobucket
Thế lực đô hộ sau đó tách rời phần đất chủng Âu (tức Thái-cổ) ra khỏi vùng đất chủng Lạc (tức Việt-cổ). Rồi ở tại nước Âu Lạc (cũ), đổi tên thành Giao Châu, nhiều người địa phương không thích chung sống với các quan trên người Tàu, đã di tản một lần nữa về miền rừng núi (cùng với Âu Cơ). 
Nhiều thế kỷ sau, qua quá trình hợp chủng với các sắc dân địa phương như Negrito, Melanesian, Môn-Khmer, v.v. họ trở thành người Mường.Truyền thuyết còn mang rất nhiều điểm gút mắt và bí ẩn chúng tôi hy vọng sẽ lần lượt giải mã trong những bài tới. Nhưng ở đây chúng tôi xin mạo muội đưa ra vài đề nghị về đổi chác lịch sử, hiện thức được từ việc giải mã truyền thuyết.Trước hết xin tóm tắt lại một vài điểm cao về nước Sở, cái nôi của dân tộc Việt. Sở mặc dù mang tiếng rợ thuở ban đầu, đã nhanh chóng thu nhập và rượt theo văn minh Hoa Hạ rất nhanh. Sở suýt một chút có thể thay thế vai trò nước Tầnnhất thống nước Tàu và thay đổi toàn bộ lịch sử. Chủng Việt (Yueh) thay chủng Hoa làm xếp nước Tàu và Hoa chủng có thể di cư xuống Đông Nam Á ...



Photobucket



PhotobucketPhotobucket





Lê Đại  Hành


THAY ĐỔI DÒNG HỌ : 


Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử


1. Từ họ Lý ra họ Nguyễn Đầu năm 1226 (tháng 12 năm Ất Dậu), Trần Thủ Độ tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lý, đưa Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258), lập ra nhà Trần (1226-1400).Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông. Để củng cố nhà Trần, Trần Thủ Độ kiếm cách tiêu diệt tất cả con cháu nhà Lý. Việc đầu tiên là Trần Thủ Độ bức tử thượng hoàng Lý Huệ Tông. Một hôm ngang qua chùa Chân Giáo gặp thiền sư Huệ Quang đang nhổ cỏ trong vườn, Trần Thủ Độ nói rằng: "Nhổ cỏ phải nhổ hết rễ cái". Nghe thế thầy Huệ Quang trả lời: "Lời nhà ngươi nói ta hiểu rồi". Sau đó, Trần Thủ Độ cho người mời thầy Huệ Quang vào triều bàn việc. Huệ Quang biết ý, vào sau chùa thắt cổ tự vẫn. 
Trần Thủ Độ ra lệnh đem gả các cung nhân và con gái họ Lý cho các tù trưởng các bộ tộc ít người ở các vùng núi xa xôi miền biên viễn. Tháng tư năm Nhâm Thìn (1232), nhân việc ban chữ húy về tiên tổ họ Trần, ông nội của Trần Thái Tông tên là Trần Lý, nên Trần Thủ Độ đưa ra biện pháp quyết liệt là buộc con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn.Gần cuối năm Nhâm Thìn (1232), tôn thất nhà Lý tập trung làm lễ tế tổ tiên ở thôn Thái Đường, xã Hoa Lâm (nay thuộc Bắc Ninh). Trần Thủ Độ cho làm nhà tế lễ bằng tre lá trên một cái hầm, khi con cháu nhà Lý tập trung hành lễ, Trần Thủ Độ ra lệnh chôn sống hết con cháu nhà Lý để dứt điểm một vấn đề làm cho Trần Thủ Độ lo lắng bấy lâu nay. Sau cuộc thanh trừng khủng khiếp này, con cháu nhà Lý không còn dám về Bắc Ninh làm lễ tế hàng năm, và họ thay tên đổi họ sống âẩn khuất trong dân gian để tránh bị tiêu diệt. Đặc biệt hoàng tử Lý Long Tường, con trai thứ của Lý Anh Tông đã bỏ nước ra đi năm 1226, cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biên sang lập nghiệp ở Triều Tiên hay Cao Ly tức Korea. 
Tám trăm năm sau, con cháu của hoàng tử này đã về Việt Nam thăm lại đất tổ. 
Một câu hỏi cần được đặt ra là tại sao triều đình nhà Trần buộc họ Lý đổi thành họ Nguyễn mà không qua họ khác? 
Điều này rất khó trả lời vì không có tài liệu cụ thể, chỉ biết được rằng họ Nguyễn là một dòng họ ít người bên Trung Hoa, và ngược lại họ Nguyễn có nhiều và có sớm ở nước ta. Phải chăng Trần Thủ Độ muốn cho họ Lý hòa lẫn trong số đông người Việt rải rác khắp nước?2. 
Họ Trần qua họ Trình Để quân Minh chóng rút về nước, cuối năm 1427, Lê Lợi chấp nhận giải pháp hòa bình trong danh dự cho cả hai bên: trước đây quân Minh xâm lăng nước ta dưới chiêu bài "phù Trần diệt Hồ", nay Lê Lợi đồng ý đưa Trần Cao lên ngôi, xem như quân Minh viễn chinh đã đạt được mục đích ban đầu là đưa người họ Trần trở lại ngôi báu, nay rút về nước trong vinh quang. Sau khi quân Minh về nước, Trần Cao biết thân phận mình, bỏ trốn về châu Ngọc Ma (Nghệ An), nhưng bị bắt lại, và uống thuốc độc chết. 



Photobucket








Huyen Tran Cong chua







Lê Lợi lên ngôi vua, tức Lê Thái Tổ (trị vì 1428-1433). Lê Thái Tổ được nước không do một cuộc đảo chánh cung đình mà do công lao chiến đấu của chính ông và gia đình, nên ông ít có thái độ kỳ thị với họ Trần là họ cầm quyền trước đó. 
Ông có một sách lược rất khôn khéo là ban quốc tính rộng rãi cho các công thần. Ngay khi vừa lên ngôi năm 1428, Lê Thái Tổ ra sắc chỉ cho ghi chép công trạng của những người đã theo vua khởi nghĩa, ban chức tước và quốc tính (họ của nhà vua) cho 221 người. 
Đây là đợt ban quốc tính nhiều nhất trong lịch sử nước ta, đến nỗi vua Tự Đức đã lên tiếng chê rằng "...cho quốc tính nhiều quá như thế này thì nhàm lắm." Việc làm này của Lê Thái Tổ bề ngoài xem ra là một đặc ân, nhưng thật sự là một thủ đoạn chính trị ràng buộc các công thần bằng cách đồng hóa các quan vào họ nhà vua để dễ kiểm soát nhằm tránh hậu họa. Lê Thái Tổ là một người rất đa nghi. Những công thần đã cùng ông dày công đóng góp cho công cuộc giải phóng đất nước mà có bất cứ một biểu hiện nào khả nghi tức thì bị Lê Thái Tổ tiêu diệt ngay.Nạn nhân đầu tiên là Lê Hãn tức Trần Nguyên Hãn. Trần Nguyên Hãn dòng dõi Trần Nguyên Đán, lập nhiều chiến công thời kháng Minh, được phong Hữu tướng quốc và họ Lê năm 1428, sau khi Lê Thái Tổ cầm quyền. Lê Hãn cho rằng "nhà vua có tướng như Việt Vương Câu Tiễn, không thể cùng hưởng yên vui sung sướng được", nên ông bắt chước Trương Lương, xin rút lui về hưu dưỡng. "Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng", khi Lê Hãn về ấp Sơn Đông (Sơn Tây ngày nay) hưu dưỡng, ông vẫn bị gièm pha là mưu toan làm phản. Lê Thái Tổ ra lệnh cho người đến bắt. Khi thuyền đến bến sông Sơn Đông, Lê Hãn tự trầm mình qua đời . Dĩ nhiên việc trầm mình này cũng là một dấu hỏi lớn không bao giờ được trả lời.Sau Lê Hãn đến Lê Văn Xảo tức Phạm Văn Xảo, bị Lê Thái Tổ nghe lời gièm pha ra lệnh phải chết và tịch thu nhà cửa cuối năm 1430. Dưới triều con của Lê Thái Tổ là Lê Thái Tông (trị vì 1434-1442), thêm ba vị đại công thần bị giết là Lê Nhân Chú (1434), Lê Sát (1437), và Lê Ngân (1437). Ngoài ra còn có Lê Khả và Lê Khắc Phục bị triệt hạ vào năm 1451 thời vua Lê Nhân Tông (tri. vì 1443-1459).Sau khi Lê Nghi Dân bị các tướng lãnh phản đảo chánh và lật đổ năm 1460, Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) được sử sách đánh giá là một minh quân, nhưng lại đi vào vết xe của nhà Trần. Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà này tên huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ "Trần" đều phải đổi chép thành chữ "Trình." Tại sao thời Lê Thái Tổ, rồi đến Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, các vua không kỵ huý bà Cung Từ mà Lê Thánh Tông lại kỵ huý? Phải chăng sau những biến động của triều đình kể từ khi Lê Thái Tông bất đắc kỳ tử năm 1442, và Lê Nhân Tông bị Lê Nghi Dân lật đổ và bắt giết năm 1459, Lê Thánh Tông đã dùng cách kỵ huý (như Trần Thủ Độ trước đây) để tách ảnh hưởng của họ Trần, hoặc để ngầm đe dọa con cháu họ Trần đừng kiếm cách lợi dụng tình hình để phục hồi triều đại cũ.Dầu sao, Lê Thánh Tông chưa đi đến chỗ quyết liệt như Trần Thủ Độ, nghĩa là Lê Thánh Tông vẫn chưa tận diệt họ Trần, và để cho những người họ Trần giữ những chức quan nhỏ như trong đoàn sứ thần gởi sang nhà Minh năm Nhâm Ngọ (1462) có Trần Bàn, hoặc trong viện Khâm hình của triều đình lúc đó có Trần Phong, nhưng không thấy có nhân vật nào họ Trần giữ chức vụ quan trọng mãi đến thời kỳ loạn lạc sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh (1527) mới thấy vài nhân vật họ Trần xuất hiện trở lại trên sân khấu chính trị nước ta.


3. Họ Mạc đổi thành nhiều họ Mạc Đăng Dung thuộc dòng dõi Mạc Đĩnh Chi, đỗ cử nhân võ và làm đô chỉ huy sứ năm 1508 (Mậu Thìn), nhờ thời thế dần dần được các vua nhà Lê tin dùng, thăng dần lên chức thái phó tiết chế các doanh quân thủy bộ, tước Nhân Quốc Công triều vua Lê Chiêu Tông (trị vì 1516-1522). Quyền hành càng ngày càng lớn, Mạc Đăng Dung lấn ép vua Lê và cuối cùng đảo chánh lật đổ vua Lê Cung Hoàng (trị vì 1522-1527), tự mình lên làm vua tức Mạc Thái Tổ (trị vì 1527-1530) lập ra nhà Mạc.


Nhà Mạc cầm quyền từ thời Mạc Thái Tổ đến thời Mạc Mậu Hợp (trị vì 1562-1592), truyền được năm đời trong 65 năm. Trong lịch sử, họ Mạc bị lên án về các lỗi lầm sau đây: 


- Tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lê, không trung quân (1527). 


- Đầu hàng nhà Minh và cắt đất chia cho nhà Minh (1540).Trước hết, bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng đều có phản ứng cả. 


Từ Lê Hoàn, Trần Thủ Độ đến Hồ Quý Ly, tất cả đều bị những cựu quan bảo thủ của triều trước, mất quyền lợi đứng lên phản đối. Mạc Đăng Dung cũng nằm trong trường hợp đó. (cớ chiếm ngôi của DUNG không được sàn lọc kỹ dân không phục)


Thứ đến, chúng ta cần chú ý: ai là người đã lên án gắt gao họ Mạc? Câu trả lời rất rõ ràng là các sử quan nhà Lê trung hưng là những người đầu tiên lên án họ Mạc. 


Việc này rất dễ hiểu vì nhà Mạc dẹp nhà Lê, nay trung hưng được thì nhà Lê kết tội nhà Mạc. 


Sau đó là các sử quan nhà Nguyễn vì nhà Nguyễn không muốn ai lật đổ ngôi báu của mình nên lấn án tất cả những ai đã tổ chức đảo chánh cung đình.


Nhưng "ở đời muôn sự của chung," một triều đại (chính quyền) yếu đuối, kém khả năng cần được thay thế bằng một triều đại (chính quyền) khác hữu hiệu hơn để cai trị nước, đó là lẽ tự nhiên, nên việc đảo chánh của Mạc Đăng Dung không đáng bị lên án như các sách vở trước đây đã làm.(chỉ có điều Mạc có điểm yếu làm dân không phục) Việc đầu hàng nhà Minh và cắt đất xin hàng cần được xét lại trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Sau khi nhà Lê mất ngôi, hai vị cựu thần nhà Lê là Trịnh Ngung và Trịnh Ngang chạy qua nhà Minh tố cáo hành động của Mạc Đăng Dung và xin nhà Minh đưa quân qua hỏi tội họ Mạc năm 1529 (Kỷ Sửu). 
Vì không phục nên cựu thần của nhà Lê: Năm 1533 (Quý Tỵ), 

Nguyễn Kim tìm được con của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua là Lê Trang Tông (trị vì 1533-1648) trong lúc đang lưu vong tại Ai Lao. Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn mười người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Năm 1536 (Bính Thân), một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc.Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm này đưa đến kết quả cụ thể là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, đành chấp nhận đầu hàng và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ, nước ta trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng nầy, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia sẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541.Cuối cùng việc cắt đất nghe ra khá to lớn, nhưng đó chỉ là năm động của những sắc tộc ít người nằm ở vùng biên giới Hoa Việt: Ty Phù, Kim Lặc, Cổ Sậm, Liễu Cát, và La Phù thuộc châu Vĩnh An, ở Yên Quảng. 
Chúng ta cần chú ý là những sắc tộc ít người sinh sống trong các động dọc biên giới Hoa Việt không nhất định về theo chính quyền Trung Hoa hay Đại Việt, mà chỉ bên nào mạnh thì họ triều cống để được yên thân. Do đó, việc cắt đất nầy chỉ có tính cách giấy tờ chứ trên thực tế là bên nào mạnh họ theo.


Trong khi đó, sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. 


Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540. 
Không vì lý do chính biến chưa thuận lòng dân-Vì lên án nhà Mạc, sử sách lơ là những công trạng đáng nhớ của nhà Mạc. Sau khi Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng rồi chạy sang Trung Hoa. Trước khi từ trần năm 1594, đại tướng nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn để thư lại dặn vua Mạc Kính Cung: "... 
Họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Còn như dân ta là người vô tội, sao lại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy! Chúng ta nên lánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lần than khốn khổ..." Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn, nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc.


Điểm quan trọng nhất là con cháu nhà Mạc đã không kêu nài van xin người Minh đem quan sang đánh nước ta giống như nhà Lê đã làm. 


Họ chỉ yêu cầu nhà Minh can thiệp cho họ về sinh sống đất Cao Bằng. Chính họ đã góp công phát triển Cao Bằng, tạo thế đoàn kết kinh thượng và biến Cao Bằng thành một vùng biên giới vững chắc để chống lại Trung Hoa. 


Công trạng này tuy không rực rỡ như đường về phương nam của chúa Nguyễn, nhưng sử sách cũng không thể quên tuyên dương họ Mạc.


Khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, trung hưng nhà Lê (1593), con cháu họ Mạc tẩu tán khắp nước, một số lên Cao Bằng, một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An ẩn trốn, và một số vào Nam theo chúa Nguyễn. Con cháu họ Mạc đổi ra rất nhiều họ khác nhau. Sách Thế phả ghi rõ là con của Mạc Đăng Doanh, em của Mạc Kính Điển là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng, sau con là Mạc Cảnh Vinh đổi là Nguyễn Hữu Vinh. 
Không những chỉ một họ Nguyễn, mà chắc chắn còn nhiều họ khác nữa. Trước đây, những họ này không lên tiếng vì một mặt sợ các chính quyền quân chủ trả thù, và một mặt việc sử sách lên án triều đại nhà Mạc ít nhiều gây những ưu phiền cho con cháu họ nhà nầy. 


Hy vọng sẽ có một ngày nào đó, con cháu những họ này thấy rõ rằng nhà Mạc không đáng bị lên án như người ta đã làm xưa nay, bỏ qua những ưu phiền không đáng, sẽ lên tiếng để tìm về gốc gác ông bà mình.Qua ba cuộc đổi họ trên đây, lý do chính đưa đến việc đổi họ là do tiên tổ các họ này đã lên nắm chính quyền, lập triều đại, sau bị truất phế và bị nghi ngờ nên con cháu bị bắt buộc phải đổi họ. 

Ngược lại, trong lịch sử nước ta, có một dòng họ lớn từ thời Ngô Quyền lập quốc cho đến nay không thay đổi mà mỗi ngày một phát triển, hưng thịnh. Đó là họ LÊ Huỵện Nghi xuân,Phủ đức quang,gần Đức Thọ Tỉnh Hà tỉnh ngày nay,
ven bờ biển Hửu mạn cửa sông Lam Thành phố Thanh hoá.


Photobucket


Photobucket



Photobucket



Photobucket



GIA PHONG: 


Gia đình tức là nhà (gia), nhà gắn liền với nước. Nhà tiếp thu di sản văn hóa của nước, bảo vệ nước. Nhưng nhà cũng sản sinh ra những giá trị văn hóa, đóng góp thêm và làm phong phú cho nền văn hóa của cả dân tộc, cả nước. Người Việt đi từ nhà đến nước. Hai tiếng nước và nhà bao giờ cũng quyện lấy nhau trong nếp sống văn hóa gia đình của mình.Văn hóa gia đình người Việt không phải là cái gì trừu tượng, chung chung mà được thể hiện cụ thể sinh động trong nếp sống, sinh hoạt, suy nghĩ, tình cảm của mỗi người và mọi thành viên trong gia đình. Đó là nền nếp của gia đình, gia tộc. Gia đình nào, gia tộc nào có nền nếp tốt thường được dân gian gọi là (NẾP NHÀ) có gia phong. 

Gia phong theo định nghĩa trong Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh là: "Thói nhà: tập quán, giáo dục trong gia tộc"; theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học là "nền nếp riêng của một gia đình phong kiến, nếp nhà"; theo Từ Hải (Trung Quốc) là "gia thế được truyền lại thành phong tục thông thường trong xã hội" (gia thế tương truyền chỉ phong thượng). Như vậy, gia phong là thói nhà, là sự khẳng định của những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của một cộng đồng gia đình, gia tộc về văn hóa gia đình, đã kéo dài qua nhiều thế hệ, được mọi người trong gia đình công nhận, tuân theo, thực hiện một cách tự giác gần như tập quán để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cộng đồng gia đình (gia tộc) ấy.


Rõ ràng, gia phong là sắc thái văn hóa của mỗi gia đình (gia tộc) có nền nếp, có văn hóa. Muốn một gia đình, gia tộc có được gia phong như đã nói, trước hết và quan trọng hơn cả là ông bà, cha mẹ trong gia đình, gia tộc đó phải sống gương mẫu, phải làm gương cho con cháu, luôn nhắc nhở, khuyên răn con cháu sống theo gia phong. Muốn có gia phong và giữ vững gia phong, mỗi gia đình, gia tộc còn phải thực hiện gia giáo (nền giáo dục theo truyền thống của gia đình), gia lễ (nghi lễ truyền thống hay tập tục riêng trong cung cách ăn nói, ứng xử đã được gia tộc ấn định mà các thế hệ sau phải tôn trọng và gìn giữ), gia huấn (truyền dạy cho con cháu những điều hay lẽ phải phù hợp với gia đình và đạo lý của xã hội), có gia phả (để biết công đức của tổ tiên, quá trình tạo dựng dòng họ để giáo dục các thành viên trong gia đình, gia tộc)… Đó chính là gia đạo (đạo lý của gia đình, gia tộc), gia pháp (phép tắc của gia đình, gia tộc), gia phạm (quy phạm chuẩn mực của gia đình), gia tắc (nguyên tắc, quy tắc trong gia đình, gia tộc) mà mỗi gia đình phải tuân theo để thực hiện gia phong nhằm mang đến cho gia thanh (tiếng thơm của gia đình, gia tộc) và gia thế (cái thế đời, thế lực của mỗi gia đình, gia tộc trong xã hội) của mỗi gia đình, dòng họ.Vấn đề gia phong đối với ông cha ta thuở trước, như vậy, đâu chỉ còn gói gọn trong phạm vi gia đình nhỏ nữa, mà còn là gia đình lớn (gia tộc), có ảnh hưởng lớn đến đất nước, dân tộc. Văn hóa đạo đức dân tộc thể hiện trong phạm vi gia đình, gia tộc chính là ở chỗ gia phong này.
Gia phong truyền thống của người Việt Nam xưa chịu nhiều ảnh hưởng và là sản phẩm của văn hóa phương Đông, mà trực tiếp là từ các học thuyết, tôn giáo: Nho, Phật, Đạo giáo, nhưng rõ nét vẫn là Nho giáo. Ảnh hưởng đó được thể hiện cụ thể thành luận thuyết: thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tề gia thuộc phạm vi gia phong. Nhưng muốn tề gia để có gia phong thì phải tu thân (tu dưỡng bản thân của từng mỗi người), tu thân lại phải chính tâm (giữ cho cái tâm được chính đại). Chính tâm lại phải dựa trên sự thành ý (suy nghĩ một cách chân thành, tự giác). 
Những điều ấy, có được, phải thông qua sự giáo dục của gia đình, gia tộc của nhà trường, xã hội.Một lý do chính tại sao nhà Tây Sơn mất là vì quyền hành về tay Bùi Đắc Tuyên, cậu của tự quân Quang Toản 




Vua Lê Thái Tổ đã sắp đặt cho các đại công thần quen nắm quyền chính từ lâu và ngoại thích _của Thái Tông, chẳng thể chen vào 
Truyền thống trọng dụng nhân tài của vua Lê Thái Tổ được giữ mãi về sau và gây nên hậu quả tai hại :
 một tên đánh cá là Mạc Đăng Dung được trọng dụng , lộng quyền và chiếm ngôi !.Một trường hợp hi hữu trong lịch sử, thường kẻ quyền thần muốn cướp ngôi phải sau hai ba đời. Ngay chúa Trịnh tiếm phạm sau này, truyền tử lưu tôn ngôi chúa, cũng là hậu quả của sự trọng dụng nhân tài này !


Đề tài nghiên cứu biên soạn lần nầy,những vấn đề cần thiết,để con cháu có quan tâm đến cội nguồn dân tộc gia phả,biết nguồn gốc. 


Do ông LÊ Văn Kiên nhờ ông Trương khắc Cần dịch thuật. 
Năm 1476 TIỀN TỔ CHÚNG TA LÂP NGHIỆP NGHỀ CHÀI LƯỚI. 
theo biển khơi nghề cá, cho nên phần lớn chết nước trong các trận bảo biển. 
Hài cót phần lớn đều chiêu hồn luyện cốt mà có.CHO NÊN CON CHÁU CÁC ĐỜI không thể tìm thấy ngôi mộ tiền Tổ nguyên  vẹn. 
Ngày xưa năm 1396  ông tổ ta ngừõi làng Ao giảng huyện Nghi xuân,Phủ Đức QuangThừa tuyên Nghệ an.(Nằmbờ biển hữu ngạn sông Lam, gần Thanh hoá tỉnh Hà tỉnh.ngày nay) 


ĐỨC Quang (1490-1831) là tên một phủ nằm ở hữu ngạn và hạ lưu sông Lam thuộc xứ Nghệ An thời nhà Hậu Lê, Lê- Trịnh, Tây Sơn đến thời kỳ đầu nhà Nguyễn.Năm 1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21, triều vua Lê Thánh Tông thì Nghệ An thừa tuyên được đổi thành xứ Nghệ An. Phủ Đức Quang là một trong 8 phủ của xứ Nghệ. Lúc bấy giờ phủ Đức Quang quản lĩnh 6 huyện gồm: 

* Thanh Chương (huyện Thanh Chương hiện nay và một phần đất phía tây nam huyện Nam Đàn) 

* Hương Sơn (huyện Hương Sơn, Vũ Quang và Hương Khê hiện nay), 
* La Sơn (nay là toàn bộ huyện Đức Thọ và các xã phía bắc huyện Can Lộc và phía bắc Thị xã Hồng Lĩnh) 
* Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc và một phần đất phía bắc huyện Lộc Hà, phần nam của Thị xã Hồng Lĩnh). 
* Nghi Xuân * Chân Phúc (nay là huyện Nghi Lộc và thành phố Vinh).Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) vì kiêng húy nên đổi phủ Đức Quang thành phủ Đức Thọ. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trấn Nghệ An chia tách thành 2 tỉnh: tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An. Lúc đó phủ Đức Quang bị tách ra các phủ, huyện sau: 
* huyện Thanh Chương nhập vào phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. * huyện Chân Phúc nhập vào phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. 
* các huyện: Hương Sơn, La Sơn, Nghi Xuân, Thiên Lộc,lập thành phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.Bài này nói về một huyện của tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam; về thành phố cùng tên thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, xem bài Nghi Xuân, Giang Tây.Huyện Nghi Xuân là một huyện ven biển, hữu ngạn sông Lam phía đông bắc của tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam. * 1 Địa lí o 1.1 Hành chính * 2 Lịch sử 
* 3 Truyền thống văn hóa o 3.1 Di tích và danh thắng nổi tiếng o 3.2 Lễ hội truyền thống o 3.3 Làng nghề * 4 Hình ảnh 
* 5 Liên kết ngoài Địa líPhía tây nam giáp thị xã Hồng Lĩnh, phía nam giáp huyện Can Lộc và huyện Lộc Hà, phía bắc giáp Thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An), phía tây bắc giáp huyện Hưng Nguyên và thành phố Vinh, phía đông giáp biển Đông. Huyện cách thủ đô Hà Nội 310 km về phía nam. Hành chính * Huyện Nghi Xuân hiện nay có 2 thị trấn Xuân An và Nghi Xuân và các xã: Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Xuân Yên, Tiên Điền, Xuân Giang, Xuân Mỹ, Xuân Thành, Xuân Hồng, Xuân Viên, Xuân Lam, Xuân Lĩnh, Xuân Liên, Cổ Đạm, Cương Gián. * Diện tích: 218 km² 
* Dân số: 100.300 (2001) 
Lịch sử 
* Từ thời nhà Đường đến nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê: Nghi Xuân thuộc đất Hoan Châu. 
* Thời nhà Lý, nhà Trần: Nghi Xuân thuộc Nghệ An châu, Nghệ An trại. 
* Thời nhà Hậu Lê, huyện Nghi Xuân thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An (rồi trấn Nghệ An). 
* Thời nhà Nguyễn, huyện Nghi Xuân thuộc phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. 
* Từ năm 1932 đến năm 1976, huyện Nghi Xuân trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh. 
* Từ năm 1976 đến năm 1991, huyện Nghi Xuân trực thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh. 
* Từ năm 1991 đến nay thuộc tỉnh Hà TĩnhTruyền thống văn hóaNghi Xuân khi xưa thuộc phủ Đức Quang (gồm cả Hương Sơn, Can Lộc, Đức Thọ, Thanh Chương, Nghi Lộc) được xem là vùng đất học của trấn Nghệ An. Trong thời kì phong kiến, Nghi Xuân có 21 vị đỗ đại khoa (Tiến sĩ) với những dòng họ nổi tiếng khoa bảng như: Nguyễn Tiên Điền, Ngụy Khắc, Trần, Phan, Uông, Đậu... và các làng giàu truyền thống văn hoá như: Tiên Điền, Uy Viễn, Cương Gián, Cổ Đạm, Tả Ao, Phan Xá...Nhiều người thành đạt xuất thân từ Nghi Xuân, như danh nhân văn hóa thế giới, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du; đại doanh điền, nhà thơ Nguyễn Công Trứ;nhà địa lí Tả Ao nổi tiếng đời Hậu Lê; Danh tướng Nguyễn Xí; Thiêm đô Ngự sử Phạm Ngữ (1434-?); Danh nho Đặng Thái Phương; Hoàng giáp Phan Chính Nghị; Tể tướng Nguyễn Nghiễm; "An Nam ngũ tuyệt", nhà thơ Nguyễn Hành; Tiến sĩ, Toản Quận công Nguyễn Khản; Tổng đốc, Thượng thư Ngụy Khắc Tuần; quê gốc của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp (quân sư của hoàng đế Quang Trung), Bảng nhãn Trần Bảo Tín, Thám hoa Nguyễn Bật Lạng, Thám hoa Ngụy Khắc Đản; nhà sử học Trần Trọng Kim (thủ tướng đầu tiên của Chính phủ Việt Nam);...Trong số những người nổi tiếng hiện nay, từ huyện Nghi Xuân có: Nghệ sĩ Nhân dân Đào Mộng Long; Nhà Giáo Nhân dân Lê Hải Châu; Giáo sư, nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn; Giáo sư, Tiến sĩ y khoa Hà Văn Mạo; Nhạc sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Đóa; Giáo sư Vũ Ngọc Khánh; Đậu Ngọc Xuân (nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước); Tiến sĩ Uông Chu Lưu (phó chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp); Giáo sư kinh tế Nguyễn Đình Hương; Giáo sư Trần Ngọc Hiên {nguyên Phó giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh}... Di tích và danh thắng nổi tiếng * Đền Chợ Củi tại xã Xuân Hồng: Di tích kiến trúc nghệ thuật tôn giáo thế kỉ 17, thờ Đức Hoàng Mười, Liễu Hạnh công chúa. * Nhà thờ Nguyễn Công Trứ tại xã Xuân Giang: Nhà thờ Danh nhân văn hóa thế kỉ 19. 
* Khu lưu niệm Nguyễn Du tại xã Tiên Điền: Khu lưu niệm danh nhân văn hóa thế kỉ 19. 
* Đình Hội Thống tại xã Xuân Hội: Kiến trúc nghệ thuật thế kỉ 17. 
* Nhà thờ và mộ Trịnh Khắc Lập tại xã Xuân Thành: Danh nhân lịch sử năm 1912. 
* Đình Hoa Vân Hải tại xã Cổ Đạm: Di tích cách mạng giai đoạn 1930-1931. 
* Đền thờ Nguyễn Ngọc Huấn ở xã Xuân Yên * Đền Cả ở xã Xuân Hội * Đền làng Cam Lâm ở xã Xuân Liên 
* Nhà thờ Phạm Ngự ở xã Xuân Mỹ * Nhà thờ và mộ Trần Bảo Tín ở Thị trấn Xuân An. 
* Bãi biển Xuân Thành thuộc xã Xuân Thành: Một nơi nghỉ mát chưa được khai thác đúng mức. 
* Đền Thánh Mẫu ở xã Xuân LamLễ hội truyền thống * Hội Mỹ Dương tại xã Xuân Mỹ, vào 17/12 âm lịch: Lễ cúng thần săn bằng thú rừng. 
* Hội Phan Xá vào 7 - 15/1 âm lịch: Lễ khai canh. * Lễ Tống Trùng tại xã Tiên Điền, vào tháng 2 âm lịch: Cúng ở đình thờ Thành hoàng, cúng trời đất, cầu yên mùa màng. * Hội Sỹ Nông Công Thương, tại xã Xuân Thành, vào tháng 5 âm lịch hàng năm. 
* Tục thờ thần và lễ cầu ngư ở làng xã Xuân Hội, vào ngày mồng 3 tháng 2 âm lịch. 
* Hội lễ ở làng Giáo Phường tại Đình Hoa Vân Hải xã Cổ Đạm, vào 11 - tháng Chạp hàng năm.Làng nghề 
* Làng nón Tiên Điền: thuộc xã Tiên Điền. * Làng nước mắm Cương Gián: nay là xã Cương Gián Thị trấn Nghi Xuân, Hà Tĩnh biển nghi xuân 
* Tiên Điền, Hà Tĩnh: Làng khoa bảng và văn chương. * Thăm quê Tố Như 
* Tiên Điền- Làng quê Nguyễn Du 

* Khu công nghiệp Gia Lách- Nghi Xuân 

* Ca trù Cổ Đạm * Sức sống một miền quê Vietnam Tỉnh Hà TĩnhTỉnh lỵ Thành phố Hà TĩnhThành phố Hà Tĩnh: Phường: Bắc Hà · Đại Nài · Hà Huy Tập · Nam Hà · Tân Giang · Thạch Quý · Trần Phú · Xã: Thạch Bình · Thạch Đồng · Thạch Hạ · Thạch Hưng · Thạch Linh · Thạch Môn · Thạch Trung · Thạch Yên · Ha TinhThị xã Hồng Lĩnh: Phường: Bắc Hồng · Nam Hồng · Đậu Liêu · Đức Thuận · Trung Lương · Xã: Thuận Lộc ·Can Lộc: Nghèn (thị trấn) · Đồng Lộc · Gia Hanh · Khánh Lộc · Kim Lộc · Mỹ Lộc · Phú Lộc · Quang Lộc · Song Lộc · Sơn Lộc · Thanh Lộc · Thiên Lộc · Thuần Thiện · Thường Nga · Thượng Lộc · Tiến Lộc · Trung Lộc · Trường Lộc · Tùng Lộc · Vĩnh Lộc · Vượng Lộc · Xuân Lộc · Yên LộcCẩm Xuyên: Cẩm Xuyên (thị trấn) · Thiên Cầm (thị trấn) · Cẩm Bình · Cẩm Duệ · Cẩm Dương · Cẩm Hà · Cẩm Hòa · Cẩm Huy · Cẩm Hưng · Cẩm Lạc · Cẩm Lĩnh · Cẩm Long · Cẩm Lộc · Cẩm Minh · Cẩm Mỹ · Cẩm Nam · Cẩm Nhượng · Cẩm Phúc · Cẩm Quan · Cẩm Quang · Cẩm Sơn · Cẩm Thạch · Cẩm Thành · Cẩm Thăng · Cẩm Thịnh · Cẩm Trung · Cẩm Vịnh · Cẩm YênĐức Thọ: Đức Thọ (thị trấn) · Bùi Xá · Đức An · Đức Châu · Đức Đồng · Đức Dũng · Đức Hòa · Đức La · Đức Lạc · Đức Lạng · Đức Lâm · Đức Lập · Đức Long · Đức Nhân · Đức Quang · Đức Thanh · Đức Thịnh · Đức Thủy · Đức Tùng · Đức Vịnh · Đức Yên · Liên Minh · Tân Hương · Thái Yên · Trung Lễ · Trường Sơn · Tùng Ảnh · Yên Hồ ·Hương Khê: Hương Khê (thị trấn) · Gia Phố · Hà Linh · Hòa Hải · Hương Bình · Hương Đô · Hương Giang · Hương Lâm · Hương Liên · Hương Long · Hương Thủy · Hương Trà · Hương Trạch · Hương Vĩnh · Hương Xuân · Lộc Yên · Phú Gia · Phú Phong · Phúc Đồng · Phúc Trạch · Phương Điền · Phương Mỹ ·Hương Sơn: Phố Châu · Tây Sơn (thị trấn) · Sơn An · Sơn Bằng · Sơn Bình · Sơn Châu · Sơn Diệm · Sơn Giang · Sơn Hà · Sơn Hàm · Sơn Hòa · Sơn Hồng · Sơn Kim 1 · Sơn Kim 2 · Sơn Lâm · Sơn Lệ · Sơn Lĩnh · Sơn Long · Sơn Mai · Sơn Mỹ · Sơn Ninh · Sơn Phố · Sơn Phú · Sơn Phúc · Sơn Quang · Sơn Tân · Sơn Tây · Sơn Thịnh · Sơn Thủy · Sơn Tiến · Sơn Trà · Sơn Trung · Sơn Trường ·Kỳ Anh: Kỳ Anh (thị trấn) · Kỳ Bắc · Kỳ Châu · Kỳ Đồng · Kỳ Giang · Kỳ Hà · Kỳ Hải · Kỳ Hoa · Kỳ Hợp · Kỳ Hưng · Kỳ Khang · Kỳ Lạc · Kỳ Lâm · Kỳ Liên · Kỳ Long · Kỳ Lợi · Kỳ Nam · Kỳ Ninh · Kỳ Phong · Kỳ Phú · Kỳ Phương · Kỳ Sơn · Kỳ Tân · Kỳ Tây · Kỳ Thịnh · Kỳ Thọ · Kỳ Thư · Kỳ Thượng · Kỳ Tiến · Kỳ Trinh · Kỳ Trung · Kỳ Văn · Kỳ Xuân ·Lộc Hà: An Lộc · Bình Lộc · Hộ Độ · Hồng Lộc · Ích Hậu · Mai Phụ · Phúc Lộc · Tân Lộc · Thạch Bằng · Thạch Châu · Thạch Kim · Thạch Mỹ · Thịnh Lộc ·Nghi Xuân: Nghi Xuân (thị trấn) · Xuân An (thị trấn) · Cổ Đạm · Cương Gián · Tiên Điền · Xuân Đan · Xuân Giang · Xuân Hải · Xuân Hội · Xuân Hồng · Xuân Lam · Xuân Liên · Xuân Lĩnh · Xuân Mỹ · Xuân Phổ · Xuân Thành · Xuân Trường · Xuân Viên · Xuân Yên ·Thạch Hà: Thạch Hà (thị trấn) · Bắc Sơn · Nam Hương · Ngọc Sơn · Phù Việt · Thạch Bàn · Thạch Đài · Thạch Điền · Thạch Đỉnh · Thạch Hải · Thạch Hội · Thạch Hương · Thạch Kênh · Thạch Khê · Thạch Lạc · Thạch Lâm · Thạch Liên · Thạch Long · Thạch Lưu · Thạch Ngọc · Thạch Sơn · Thạch Tân · Thạch Thanh · Thạch Thắng · Thạch Tiến · Thạch Trị · Thạch Văn · Thạch Vĩnh · Thạch Xuân · Tượng Sơn · Việt Xuyên ·Vũ Quang: Vũ Quang (thị trấn) · Ân Phú · Đức Bồng · Đức Giang · Đức Hương · Đức Liên · Đức Lĩnh · Hương Điền · Hương Minh · Hương Quang · Hương Thọ · Sơn Thọ 
Các huyện thị vùng Bắc Trung Bộ, Việt NamThanh Hóa Thanh Hóa (thành phố) · Bỉm Sơn (thị xã) · Sầm Sơn (thị xã) · Bá Thước · Cẩm Thủy · Đông Sơn · Hà Trung · Hậu Lộc · Hoằng Hóa · Lang Chánh · Mường Lát · Nga Sơn · Ngọc Lặc · Như Thanh · Như Xuân · Nông Cống · Quan Hóa · Quan Sơn · Quảng Xương · Thạch Thành · Thiệu Hóa · Thọ Xuân · Thường Xuân · Tĩnh Gia · Triệu Sơn · Vĩnh Lộc · Yên Định VietnamNorthCentralCoastmap.pngNghệ An Vinh (thành phố) · Cửa Lò(thị xã) · Thái Hòa (thị xã) · Anh Sơn · Con Cuông · Diễn Châu · Đô Lương · Hưng Nguyên · Kỳ Sơn · Nam Đàn · Nghi Lộc · Nghĩa Đàn · Quế Phong · Quỳ Châu · Quỳ Hợp · Quỳnh Lưu · Tân Kỳ · Thanh Chương · Tương Dương · Yên ThànhHà Tĩnh Hà Tĩnh (thành phố) · Hồng Lĩnh (thị xã) · Cẩm Xuyên · Can Lộc · Đức Thọ · Hương Khê · Hương Sơn · Kỳ Anh · Lộc Hà · Nghi Xuân · Thạch Hà · Vũ QuangQuảng Bình Đồng Hới (thành phố) · Bố Trạch · Lệ Thủy · Minh Hóa · Quảng Ninh · Quảng Trạch · Tuyên HóaQuảng Trị Đông Hà (thành phố) · Quảng Trị (thị xã) · Cam Lộ · Cồn Cỏ · Đa Krông · Gio Linh · Hải Lăng · Hướng Hóa · Triệu Phong · Vĩnh LinhThừa Thiên - Huế Huế (thành phố) · Hương Thủy (thị xã) · A Lưới · Hương Trà · Nam Đông · Phong Điền · Phú Lộc · Phú Vang · Quảng Điền 

SAU KHI Bình Chiêm -1471 BAN HÀNH BỘ LUẬT "HỒNG ĐỨC" -,BỘ LUẬT ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC TA TẠO LẬP CÁC LÀNG CÁ VEN BIỂN TỪ " 

Tư nghĩa đến Móng Cái" Vua LÊ THÁNH TÔNG, có công đầu tiên mở mang bờ cỏi chúng ta, kế đến các vua triều (Nguyễn,kể cả nguyễn Huệ có công thống nhất nhà nước sau gần ba trăm năm chia cắt Từ 1527-1789.) 

4.1471-1671, 200 NĂM CỦA NHỮNG LÀN SÓNG DI DÂN, NGƯỜI CHĂM Ở LẠI HAY RA ÐI ? 
Ðến năm 1471, cái mốc quan trọng và dứt khoát để chấm dứt những cuộc giằng co, lấn qua lấn lại giữa Việt và Chiêm thì những cuộc di dân là không thể kiểm soát được nữạ Ngoài số sắc chỉ năm 1476 quy định "tội nhân bị tội lưu đày ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa, những kẻ được tha tội chết thì sung quân vệ Hoài Nhân", chúng ta còn hiểu rằng những năm mất mùa đói kém nhân dân từ Thanh Hóa trở vào cũng sẵn sàng lên đường vào Nam, vụ đại hạn mất mùa từ Nghệ An ra Bắc năm 1608 là một ví dụ. 

Hình tượng ông Ba Bị có lẽ hình thành trong giai đoạn nàỵ Sách" Phủ Tập Quảng Nam Ký Sự" , viết vào thế kỷ 16 có nói quân của Bùi Tá Hán nhận lệnh diệt quân Mạc ở Cổ Lũy, ông dẫn quân vào cho nghỉ ở cù lao Ré rồi giả làm đoàn người di cư, lén đổ bộ lên bờ và tấn công. Như thế ta hiểu là những đoàn người di cư vào năm 1545 ấy là đông đúc đến dường nào, nó đủ sức để một đạo quân cải trang lẩn trong ấỵNhững cuộc di dân như thế kéo dài được cho đến năm 1631, năm chuá Nguyễn cho xây lũy Trường Dực, chính thức chia đôi Nam Bắc, có nghĩa không còn di dân tự dọ Những dòng họ nào di dân vào giai đoạn này cho đến nay đều có số đời từ 15 (1631) cho đến 21 (1471). Ðiều này cũng đúng với thực tế đối với đa số các gia phả ở Quảng Nam bây giờ. 

Những gia phả có số đời ít hơn đều có vấn đề để nói và chúng ta sẽ bàn đến kỹ hơn. 
Ðiều quan trọng nhất cần nhấn mạnh ở giai đoạn này là số lượng người Chàm ở lại là nhiều hay ít ? 100 năm sau khi Lê Thánh Tông bình Chiêm, sách"Ô châu cận lục" mô tả vùng Quảng Nam-Thừa Thiên ngày nay: nói tiếng Chiêm có thổ dân làng La Giang, mặc áo Chiêm có con gái làng Thủy Bạn, nhiều xã còn giữ thói dâm phong mây mưa, thói quen cổ truyền cũng đã lâu lắm. Sách"Phủ Tập Quảng Nam ký sự" đã nói kể chuyện ông Bùi Tá Hán trong những năm 1545-1568 có những chính sách với người Chiêm như: lập ở vùng biên giới Tuy Hòa nay, ba đồn lớn ở đó lập ba nơi giao dịch cho phép người Kinh-Chàm mang các thứ tới đây buôn bán. 
Người Chàm nếu có ai ra vào cửa khẩu vùng biên để thăm bà con thân thuộc thì đều phải trình báo rõ ngày giờ với các quan đồn. Ðiều này cùng với mô tả trong" Ô châu cận lục " cho thấy khu vực người Chiêm còn ở lại là khá rộng, trải từ Quảng Bình tới Phú Yên, Tuy Hòạ Dĩ nhiên tình hình bây giờ không còn giống như hồi 1402-1471, họ buộc phải nói tiếng Việt khi giao tiếp ngoài xã hộị Ðó có phải là tiền đề của giọng người Quảng Nam bây giờ như giáo sư Trần Quốc Vương nóỉ Số lượng họ là bao nhiêủ Nhiều hay ít? Họ chuyển thành Việt như thế nào Chưa ai biết nhưng có một số điều khiến ta có thể nghĩ rằng họ rất nhiều chứ không phải là thưa thớt như lâu nay ta nghĩ,nhưng do Cấm lấy vợ Chiêm,buộc phải có họ,ít nhiều củng gây nên sự việc thế hệ sau dần dần làm cho người Chiêm không còn biết mình là dân Chiêm và họ lấy làm hảnh diện là người Việt đó là tất yếu phải xẩy ra. 
1/. Người Việt thời ấy ở ngoài bắc ăn bận như thế nào ta có thể hiểu được khá rõ qua các sắc chỉ về ăn bận của các triều vua mà SKTT ghi lại khá rõ.Nhưng ăn bận như Cristophoro Borri mô tả trong "Xứ Ðàng Trong năm 1621": Phụ nữ mặc tới 5,6 váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia, và tất cả có màu sắc khác nhaụ Ðàn ông thì quàng một tấm rồi cũng thêm 5 hay 6 áo dài thì quả thật rất khó hiểu, khó hình dung. Trong khi đó y phục của các văn nhân, tiến sĩ và quan lại thì rất quen thuộc và dễ hiểu như: họ choàng lên trên tất cả một áo dài đen. Họ còn khoác lên vai một thứ khăn. Vậy những tấm váy dân lao động mặc kia là ở đâu ra vậy Bùi tá Hán cũng có một sắc lệnh cấm phụ nữ mặc quần không đáy ít hay nhiều củng có vấn đề gì đấy mới cấm như vậy... 
2/.Và ở "Ô châu cận lục" ở chương Tổng luận về phong tục, mục huyện Diện Bàn cũng mô tả thật trùng khớp với Cristophoro Borri:" phụ nữ thì để tóc xỏa xuống vai, có người để tóc dài chấm đất, càng dài càng được coi là đẹp. Ðàn ông cũng để tóc dài như đàn bà, cho xỏa tóc tới gót chân và cũng đội nón." Người ngoài Bắc không thế.Thậm chí đến cuối thế kỷ thứ 18, qua các bức vẽ của người phương Tây vẽ một nhóm người An Nam ở Ðà nẵng ta còn nhận ra y phục của người Ðàng trong rất giống với những gì bây giờ người Chàm, Ninh Thuận đang mặc. Có thể kết luận được không rằng:" số lượng người Chàm ở lại đông đến mức đủ sức áp đặt những thói quen ăn mặc, sinh hoạt, giọng nói cho những di dân mới đến?"Thậm chí chúng tôi còn ngờ rằng đây không phải chỉ đơn thuần là sự tiếp thu cái mới của người Việt như một số người bảo vệ quan điểm cho rằng người Việt chỉ tiếp thu một số yếu tố văn hóa của người Chàm ngoài ra không có gì khác. 
3/.( Ngay cách này cũng bộc lộ mâu thuẫn: con người ta không thể tiếp thu cái gì ở chỗ trống không, người Việt không thể tiếp thu bất cứ điều gì nếu người Chàm đều bỏ đi cả, hoặc giả cứ gặp họ là đuổi đánh, mà cái tiếp thu dược thì nhiều lắm. Vậy những làng người Chàm ấy biến đi đâu.phải chăng việc cấm lấy vợ người Chiêm,buộc phải có họ, it nhiều đã làm cho dân tộc nầy điều ắc có là thế hệ sau dần ít đi và quên đi mình là dân Chiêm,cũng do chiến tranh đàn ông thiếu,nữ lại thừa, cho nên việc cấm quần không đáy củng do có vấn đề ...và rất hảnh diện khi mang họ Việt, dù muốn hay không đả có luật phải thi hành,không ngoại trừ hoàng thân quốc thích,luật mới nghiêm,như vậy ai đả nhở có vợ Chiêm đều phải bỏ thôi,con thời đã mang họ Việt), mà đó là những cộng đồng người Chàm nguyên vẹn 100% chỉ có điều họ không nói tiếng Chàm. Người Việt đến chỉ là số nhỏ, nhưng có quyền lực hòa nhập trong đó. Dĩ nhiên cái tỷ lệ số lượng Chàm - Việt ấy nó không đồng đều, giống nhau từ vùng quê Trung Du, xứ biển làng chài với các khu thị tứ, dinh trấn, bến cảng. Ðọc sử, đọc những ghi chép đương thời đều chỉ thấy người Việt. Những vùng quê như Tiên Phước, Ðại Lộc, Quế Sơn...(những nơi có di tích Chàm) mọi chuyện có thể diễn ra một cách lặng lẽ, không tư liệu nào chép lại, nhưng dữ dội hơn nhiềụ Sự tích tháp Bằng An là một ví dụ: Người Việt và người Chàm tranh đất, sau khi đã thỏa thuận nhất trí tổ chức một cuộc thi xây tháp trong một đêm, ai thua phải đi nơi khác. Người Chàm xây bằng gạch thật, người Việt làm một tháp bằng tre bồi giấy và đã thắng. Chúng tôi cũng đã đọc được một bản "Bắc địa tấu từ", một bản tâu gởi triều đình năm Lê triều Ất Hợi, 1455, kể chuyện xây tháp giành đất khiến hơn 3300 người Chàm (cổ thổ nhơn) phải bỏ chạy vào núị Tháp Bằng An được xây dựng từ năm 977 nên khó mà biết được hư thực bản tấu ấy như thế nào nhưng qua đó và một số bản tấu khác trong giai đoạn này(1446-1471) nó phản ảnh được cái điều là người Việt lấn đất không phải bằng gươm giáo, ít ra là trên chính thống. 


Vậy những làng người Chàm, cứ cho là họ bị đuổi lên vùng trung du, thì sau này họ biến đi đâủ Và cái chiếu dụ tháng 8 ngày 9 năm Cảnh Thống thứ 2 ấy không lẽ làm ra để cấm cái chuyện không có? 
Có người không đồng ý với ý kiến cho rằng vùng đất Quảng Nam từ 1306 đến 1602, năm Nguyễn Hoàng cho xây ở bờ bắc sông Thu Bồn dinh trấn Thanh Chiêm, là có tròn 300 năm không chính phủ, là 300 năm giao lưu văn hóa Việt - Chàm để hình thành nên tính cách người Quảng Nam. Bằng chứng đưa ra là lúc nào cũng có các quan trấn thủ của nhà Lê ở xứ nầy như Bùi Tá Hán. 
Chúng tôi không phản đối nhưng nghĩ rằng cần phải phân kỳ ra trước 1471 và sau 1471 lúc có các quan trấn thủ thì quyền lực của quan trấn thủ e cũng không được rộng khắp cho lắm. Ở Quảng Nam giỏi lắm là vùng Ðiện Bàn, Thăng Bình khu vực dọc theo sông Trường Giang ven biển chứ lên đến Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước thì...Ngay cả Bùi Tá Hán thì cũng được SKTT (1568) gọi là thổ quan Quảng Nam cho thấy nền hành chánh ở đây cũng lỏng lẻo lắm, nó không như sau 1602. Chính sự lỏng lẻo ấy là điều kiện cần có để sự giao lưu, giao thoa, tiếp biến v.v...diễn ra một cách tự thân, hồn nhiên và sâu đậm, đủ để trở thành một bản sắc. 

4. SAU 1671: 


NHỮNG DÒNG HỌ ÍT HƠN 13 ÐỜI LÀ Ở ÐÂU RA 
Ðến năm 1648 có một đợt lưu dân to lớn đông đến 30.000 trai đinh nam 
giới đổ vào các thôn xóm Quảng Nam (bao gồm cả Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, 
Phú Yên). Ðó là số tù binh của Chúa Nguyễn bắt đưộc của Chúa Trịnh trong 
cuộc chiến ở cửa biển Nhật Lệ. Có tài liệu nói số tù binh chỉ là 3.000. 
Nhưng số lượng thế nào chăng nữa thì chắc ở đó cũng có đủ tất cả các họ 
của Người Việt, và đây là những " Thủy Tổ" cuối cùng của các dòng họ 
Quảng Nam. Từ đó đến 1671 Trịnh- Nguyễn nhiều lần đem quân đánh ra hoặc 
đánh vào, có thể giai đoạn này có thêm một ít tù binh nữa nhưng không 
thấy sử chép thành vấn đề. Ông tổ của nhà Tây sơn cũng là tù binh trong 
những trận giao chiến qiai đoạn nàỵ Và đến 1671 thì hai họ thôi chiến 
tranh, lấy sông Gianh làm ranh giới Nam Bắc.Biên giới Trịnh -Nguyễn là 
biên giới quân sự, không được qua lạị Năm 1716 Chúa Nguyễn Phúc Chu mật 
sai hai người khách buôn Phước Kiến là Bình và Qúy (không rõ họ) sang 
Quảng Tây rồi qua ngõ Nam Quan mà vào Thăng Long để xem xét tình hình 
Ðàng Ngoàị Vào đến Nghệ An thì không thể đến Bố Chính được vì trấn thủ 
là Lê Thì Liêu cấm ngặt, ai không có giấy hộ chiếu của các trấn, ty cấp 
thì không được vào châu Bố Chính. Có nghĩa là, như ta thường nói, một 
con chuột cũng không lọt. Thâm chí đến 1738 Lê Duy Mật là con vua Dụ 
Tông ly khai chống Trịnh, xin chúa Nguyễn mở cửa biên giới đón nhận rồi 
hợp lực chống Trịnh. Lời thư rất tha thiết nhưng chúa Nguyễn chỉ hậu đãi 
sứ giả rồi từ khước việc mở cửa biên giớị Rõ ràng suốt giai đoạn 1671 
về sau những cuộc di dân là chấm dứt, tù binh cũng không còn. Có thể có 
một số dân vượt biên bằng đường biển, đường núi nhưng chắc chắn số lượng 
không đáng kể và không đủ để tạo nên vấn đề.Sau đó không có cuộc di dân 
nào nữa cho đến khi Tây Sơn thống nhất đất nước rồi nhà Nguyễn lên ngôị 
Những cuộc di dân sau Tây Sơn không còn dừng lại ở vùng Quảng Nam nữạCó 
một câu hỏi cực lớn được đặt ra là: những người miền Bắc cuối cùng vào 
tạo nên các dòng họ là những năm 1648-1671 đến nay tròn 350 năm. Cứ 23,5 
năm là một đời thì đến nay ít nhất cũng được 14 đờị Vậy những dòng họ 
có số đời 10-12, thậm chí 8-9 là ở đâu rả Số dòng họ có số đời như thế, 
dưới 13 ở Quảng Nam lại khá nhiều, thậm chí rất nhiềụ Lý do đưa ra có 
thể là số ông bà "thuỷ tổ" vào trước 1671 ấy ít học, không ghi chép gì. 
Ðến nhiều đời sau khi con cháu có người có điều kiện học hành thì mới 
tiến hành ghi chép làm gia phả. Dĩ nhiên là vậy nhưng điều này không thể 
giải thích được là tại sao lại có những làng, những xã không tìm đâu ra 
một dòng họ có số đời trên 14. Chưa có công trình điều tra về chuyện 
này nhưng một số nơi chúng tôi biết được như phường Nại Hiên Ðông, Mân 
Thái thuộc thành phố Ða Nẵng chẳng hạn, ở đây khó tìm thấy một nhà thờ 
tộc họ, ý niệm về dòng họ khá mờ nhạt, nếu có thì không có một họ nào 
quá con số 12 đời mặc dù vùng đất này đã có người ở suốt từ đời Chămpa 
qua Ðại Việt. Khu vực chùa Bà Quảng phường Hòa Cường Thành phố Ðà Nẵng 
có họ Nguyễn gia phả ghi 12 đời và giữ một phong tục không giống nơi 
khác là khi chôn người chết đều để nắp hòm ra ngoài, không chôn. Ở huyện 
Thăng Bình anh Lê Ðình Cương giáo viên ở Tam Kỳ kể vài phong tục rất lạ 
đến nay vẫn còn mộtsố người thực hiện. Chưa kiểm chứng nhưng chúng tôi 
nghĩ rằng nếu hỏi về số đời của họ chắc chắn sẽ có lắm điều hay, nhiều 
họ sẽ không quá số 12 đờị Họ từ đâu tớỉ Có thể lý giải được chuyện này 
không?Sau khi chiến thắng Chiêm Thành trở về, tháng 9 vua Lê Thánh Tông 
ra sắc chỉ:" những người nguyên quán là quan lại ngụy, những người là 
cha Ngô mẹ Việt, bọn phản nghịch và người Ai Lao, Chiêm Thành hết thảy 
là nô lệ của nhà nước. Con cái còn bé cho thay đổi họ tên làm dân 
thường". Ðến tháng 9 năm 1472 lại ra sắc chỉ:" cho Thái bộc tự khanh xét 
họ tên của bọn người Chiêm, người Man. Họ của người Chiêm thì mới cũ 
theo đúng quy chế, họ của người Man thì dồn lại".(Trong kho Hán Nôm có 
còn lưu giữ lại mấy quy chế nàỷ) Ta không hiểu được quy chế đặt ra cho 
việc đặt họ của người Chiêm là như thế nào, nhưng biết chắc một điều 
rằng từ nay người Chiêm phải ghi họ tên mình bằng chữ Hán. Những con cái 
có cha mẹ cứng đầu thì phải mang họ Việt và trở thành người Việt. Ngoài 
một số họ như Ông, Ma, Trà, Chế rất đặc trưng họ Chàm ra, ta còn biết 
một số họ được viết và đọc bằng âm Hán là Phạm, Phan, Ðặng, Ðinh...Lúc 
này các chúa Nguyễn cần tăng cường sức mạnh quân sự và một trong những 
điều phải làm là nắm chắc dân số, tiến hành làm hộ tịch, hộ khẩu của tất 
cả các địa phương kể cả các thôn xóm xa xôi hẻo lánh nhất. Một điều tất 
nhiên phải xảy ra đối với những "cán bộ" đi làm hộ tịch, hộ khẩu khi 
đến các gia đình, thâm chí các làng người Chàm, như trong Ô châu cận lục 
đã nói, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi ghi tên họ của những 
người Chàm bằng chữ Hán, nhất là đối với đa số dân Chàm trong các làng 
nông nghiệp hoặc chài lưới như ( vùng Nại Hiên Ðông chẳng hạn) đều ít 
học và không biết chữ. Người Chàm không có họ nhưng ngay trong trường 
hợp có họ thì đa số các họ đều không thể ghi bằng chữ Hán. Vua Lê Thánh 
Tông đã có một sắc chỉ về chuyện này, nhưng chúng ta không biết các chúa 
Nguyễn xử lý chuyện này như thế nàọỞ phường Nại Hiên Ðông Ðà Nẵng chúng 
tôi gặp rất nhiều người có tên ghi giấy khai sinh là Chén, Ðóc, Nư, 
Tồi, Hứ, Gà, Cốc, Rô, Mãi... Giả sử, xin nhắc là giả sử những người đó 
là người Chăm thì ông"cán bộ" hộ tịch, hộ khẩu làm sao phân biệt thằng 
Rô này với thằng Rô kia, làm sao phân biệt thằng Hứ với con Hứ? Mà 
chuyện đó thì rất quan trọng trong việc gọi quân. Hình như các "cán bộ" 
hộ tịch, hộ khẩu thời các chúa Nguyễn giải quyết bằng cách: thôi thì mày 
lấy đại họ gì đó cũng được, miễn là cha con giống nhau, con trai thì 
đệm chữ Văn, con gái thì đệm chữ Thị. Tình hình có thể cũng giống như 
năm 1998 này ở Trà My, hồi tháng tám, chúng tôi có dự buổi bế giảng một 
lớp y tế thôn bản cho đối tượng là các con em ngưới Cor, Mơ Nong. Danh 
sách tên 76 học viên đều có đủ các họ mà người Kinh đang có như Ðinh, 
Lê, Lý, Trần, Trịnh, Phan, Nguyễn, Phạm, Hoàng...Bởi vì không thể ghi 
khai sinh bằng một cái tên Tắc hoặc Mia hoặc Nhim được. Người Ca Dong, 
Mơ Nong ở Phước Sơn, Giằng thì đơn giản hơn. Họ Nguyễn ở Quảng Nam nhiều 
có phải cũng là vì như thế? Chỉ cần ba đời là những người cháu nghĩ 
rằng mình có họ đó thật rồi, mình là người Việt thật rồị Thêm nữa qua 
câu khấn cúng đất: "Ma Chàm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ, thương vong đói 
khát, ma Lồi, ma Lạc, hữ danh vô vị, hữu vị vô danh, đẳng chúng cô hồn, 
đồng lai thụ hưởng" . Giúp ta hiểu những người Chàm ở lại, họ mong muốn 
càng mau chóng quên gốc gác càng tốt, họ không kể gốc gác lại cho con 
cháu, nếu có thì cũng chỉ hai ba đời là hết. Trong kho lưu trữ Hán Nôm 
thời Nguyễn có ở đâu đó chép lại sự kiện nầỷ Nếu không thì trong thực 
tế, ít ra cái giả định như thế nó cũng góp phần giải thích được là tại 
sao ở Quảng Nam lại có những làng, những xóm, toàn là họ Nguyễn, gia phả 
hình thành nhiều lắm chỉ 10, 12 đờị Vùng Quảng Ngãi, Bình Ðịnh nay, 
cũng rất ít có họ nào trên 14 đời, nhưng đó có thể là những di dân đi từ 
Quảng Nam sau 1648. Nếu ở đó có những dòng họ không phải có gốc Quảng 
Nam thì saỏ Quả thật chuyện là quá lớn và xin nhắc lại, tất cả chỉ là 
những giả định. 

Chúng tôi tin rằng với thời gian sẽ tìm ra được các bằng chứng đủ để 
chứng minh những giả định là sự thật. Ngay cả trong trường hợi có đủ 
bằng chứng để phủ nhận một giả định nào đó thì ít nhiều nó vẫn giúp 
chúng ta hiểu được những gì đã xẩy ra với cha ông mà vì nhiều lý do phần 
lớn ký ức, phần lớn lịch sử đã bị lãng quên.Tóm lại cuộc di dân của 
người Việt vào vùng nam Hải Vân là không phải kéo dài 700 năm suốt từ 
nhà Lý đến thời các vua Nguyễn mà có thể chia làm mấy giai đoạn chính: 
1/- Từ 1360 đến 1402 là sự ổn định của vùng Bắc Hải Vân, mặc dù từ 1306 trên giấy tờ biên giới đã đến sông Thu Bồn. 
2/- Từ 1402 đến 1407 là 5 năm của những cuộc di dân đầu tiên được tổ 
chức qui mô, cẩn thận, nghiêm khắc và cương quyết dưới sự chỉ đạo của 
triều đình nhà Hồ. Ðối tượng không phải là những người nghèo, tội nhân 
đi đày mà chính là những người có của, có học, thân cận với triều đình 
họ Hồ. Giai đoạn nầy người Việt vào sống bên cạnh người Chiêm là chuyện 
không cần phải bàn. Ðây chính là giai đoạn tiền đề rất quan trọng để 
hình thành nên sự giao thoa của hai nền Văn Hóa Chiêm Thành - Việt Nam, 
hoặc có thể nói cường điệu là của hai nền văn hóa khổng lồ của nhân loại 
là Ấn Ðộ và Trung Hoa, để từ đó hình thành nên bản sắc văn hóa độc đáo 
của người Quảng Nam rồi sau đó là cả xứ Ðàng Trong đến tận Cà Mau sau 
nầỵ 
3/- Từ 1471 đến 1671 là 200 năm của những cuộc di dân ồ ạt, tổ chức 
có, bắt buộc có, tù đày có, lính thú ở lại có, di dân tự phát có, tù 
binh có, ngoại kiều có...Ðể rồi 1671mới chấm dứt một cách hoàn toàn, 
tuyệt đối sau đó! Cũng như sự chấm dứt di cư 1448, sự chấm dứt di cư 
1671 chính là điều kiện cần có để sự giao thoa đã hình thành đi vào ổn 
định, không bị pha trộn thêm, để cố định một bản sắc vững bền đến mức 
nhiều biến động sau nầy vẫn không thay đổị Mãi đến thời Tây Sơn và vua 
Nguyễn các di dân mới trở lại với số lượng không đáng kể. Ðiều quan 
trọng cần được xác định làm rõ trong giai đoạn nầy là người Việt vào, là 
vào ở nơi vùng đất trống huơ không bóng người hay là sống bên cạnh 
những làng Chàm? Nếu có thì số lượng những làng ấy là nhiều hay ít? Và 
quá trình chuyển sang Việt của họ diễn ra như thế nào? Chuyện cấm lấy vợ 
Chàm cần xác định đến đâu? Vai trò của những người vợ Chàm cần phải 
bỏ,xác định như thế nào trong việc hình thành văn hóa, tính cách con 
người xứ Quảng. 
Thời thống nhất nhà nước" sau khi thống nhất năm 1975": 
Từ1976 đến năm1979 chính quyền có kêu gọi 
dân đi vùng kinh tế mới,.Vào các tỉnh Lâm đồng,Đồng Nai...v...v... 
Rõ ràng còn rất nhiều việc phải làm và sự công phu không thể của một người. 

Ở đây chỉ là một cái nhìn tổng quát bằng phương pháp phân kỳ. Hy 
vọng rằng sự phân kỳ nầy sẽ hé mở ra một cách tiếp cận mới đối với sự 
nghiên cứu lịch sử, bản sắc văn hóa của vùng Quảng Nam nói riêng và xứ 
Ðàng Trong nói chung. 
Ít ra thì nó cũng gợi nên một phương pháp đối với ngành gia phả học, 
nguồn gốc các tộc họ ở vùng đất Quảng Nam trở vàọ.tới Cà mau. 
Hội Đồng gia tộc họp ngày 18-11-năm 1994 (âm lịch) 
Sau khi ông Lê vẫn Kiên  tự tận;
Theo truyền thống Phụ hệ con cái mang họ người cha;


Việc kế thừa cúng chạp hằng năm giao cho ông Lê văn Kinh Thuộc bàn hệ Từ năm 1996. 

Tổ tiên dời về nhà ông Lê văn Kinh 387 trần cao vân Đà nẵng . 

Từ năm 2005 dời về nhà ông Lê văn An 6 đường tuyên sơn 6 quận Hải châu.Đà nẵng. 

Từ năm 2011 dời về 122 Kỳ Đồng Quận Thanh Khê Đà Nẵng.


Hoi K y  16 thang 4  Âm lịch tại nhà ông Lê Van Cẩn 814/28/5 trần cao vân Quận Thanh Khê Đà Nẵng.

Bà Đào thị Tăng truất quyền thừa kế của Lê Cao Trí và Trần thị Mười,Không cho vợ chồng Trí Mười để tang của bà

 

Nay thông báo cho Thân Tông tiện việc liên lạc chạp giổ Tổ tiên Chi Tộc mình. 

"Cao Cả kính bút"



   


 


TRANG SAU THỦY TỔ


 


TRỞ LẠI ĐẦU TRANG 


cuoi rong


Gia Phả LÊ TỘC PHẢ
Gia Phả LÊ TỘC qúy PHẢ
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc LÊ TỘC qúy PHẢ.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc LÊ TỘC qúy PHẢ
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.