Chuyện kể về Thủy Tổ Nguyễn Bá và lời nguyền củ a người em trai
Ngày xưa lâu lắm rồi khoảng 250 năm vào cu ối thế kỷ thứ 17 đầu thế kỷ thứ 18 có cặp vợ chồng không rõ nguồn gốc từ đâu lưu l ạc và sinh sống ở một ngôi làng ven sông Hồng Hà, thuộc Làng Chàng xưa. Hàng ngày họ đi làm thuê cho địa chủ , đến mùa vụ thì đi vớt củi, lên rừng sâu lấy gỗ, tre, nứa kết bè và đánh bắ t cá ven sông để kiếm sống. Không ai biết Tổ tiên họ là ai. Họ không có ruộng đất, chỉ có mộ t căn nhà tồi tàn mái tranh vách lứa, cuộc sống tạm bợ, rồi họ cũng kịp sinh hạ đượ c 02 người con trai. Ngư ời bố đặ t tên 2 người con trai theo họ của mình là Nguyễn Bá Tộc và Nguyễn Bá Tám. Các con theo cha làm nghề vớt củ i và đánh bắt cá ven sông, 02 người con trai cũng lớn dần lên và đư ợc bố mẹ dựng vợ gả chồng rồi cho ăn ở riêng.
Người anh cả sinh được 02 người con là Nguyễn Bá Liễn và Nguyễn Thị Đen, Người em gái không may sinh ra đã sớm mất. Ngư ời em trai thì sinh được nhiề u con hơn, gồm 04 người con trai và 01 cô con gái út. Người con trai cả là Nguyễn Bá Cửu, người con thứ 2 là Nguyễn Bá Trư ờng, người con thứ 3 là Nguyễ n Bá Tá, người con thứ 4 là Nguyễn Bá Toán, Người con gái út là Nguyễn Thị Nghĩa. Trong số 05 anh em có người con trai thứ 3 là Nguyễn Bá Tá, khi mang thai, ngư ời mẹ đau ốm, thiếu sữa nên còi cọc rồi mất sớm.
Con người anh trai cả và 3 người con trai của người em sinh ra con đàn cháu đống, được con cháu đời sau thờ phụng và gọi là 4 cụ tổ chi. Câu chuyện của gia đ ình họ cũng chẳng có gì đáng nói, bởi như bao gia đình khác, họ cũng chịu khó làm ăn, cũng sinh con đẻ cái, song cuộ c đời lại có những chớ trêu đ ể rồi con cháu đời sau phả i đau đầu khó hiểu và thực sự đã có những lỗi lầm.
Người anh cả là Nguyễn Bá Cửu sinh hạ đượ c 05 người con là Nguyễn Bá Vi, Nguyễn Thị Ân, Nguyễn Thị Ái, Nguyễn Bá Lai và Nguyễn Bá Nhung, trong số 05 người con, người con thứ nhấ t có tư chất thông minh hơn các em, song tính tình cương trực, nóng nảy và liều lĩnh. Khi ngư ời cha về già, cha con họ cũng tạo dựng được cơ ngơi khá b ề thế. Năm anh em nhờ công lao nuôi dưỡng của cha và tình thương của mẹ đã lớn dần lên. Hai cô chị được cha gả chồng sớm. Ngư ời anh trai mới cưới xong cô vợ. Cậu em thứ 4 cũng đến tuổi “cập kê”.
Một ngày kia người cha nghĩ: “Mình phải làm thế nào đây để có thêm vốn liếng tích cóp cho thằng cả có vốn liếng ra ở riêng, thằng con thứ 2 lấy được cô vợ như ý. Nghĩ là làm Ông quyết định “đánh canh bạc” lớn, bằng việc dốc toàn bộ vốn liếng, cùng hai người con trai đi lên Miền sơn cước thuộc mạn Hòa Bình , Sơn La theo dòng Sông Bờ (nay gọi là Sông Đà) kiếm gỗ kết bè thả về xuôi bán… Đận đó họ kiếm và mua được nhiều gỗ quý, kết được bè gỗ rất to, hẹn ngày về xuôi. Ngư ời bố thì muốn an toàn chờ con nước rút mới xuôi cho lành, người con trai cả lại muốn “trổ” ngay bè về xuôi để nhanh chóng về nhà gặp ngư ời vợ yêu mới cưới, và cuối cùng cha con họ đã nghe theo ngư ời con trai cả quyết định trổ thác… Thế rồi trong con thác dữ ấy đã xé tan toàn bộ chiếc bè gỗ to vừ a đóng, là sản nghiệp và công lao của ba cha con lặn lội sớm hôm, tích lũy bao năm trời...Ba cha con suýt chết sau trận “Sơn Lưu” trổ thác ấy…
Về quê tay không người cha giận con lắm, ô ng đã chót nặng lời với con, người con vốn tính hiếu thắng nói lại rằng:
-Cha ơi! mọi khi đâu có th ế, nước lớn thả bè nhanh cho sớm được chuyến, đ ủ thời gian làm chuyến nữa, chẳng qua là bè ta quá to, quá dày nên vư ớng vào đá ngầ m và lúc đó cha con mình gặp vận hạn thôi! N gười bố quát:
- Nhanh gì, to dày, vận hạn gì, mày là thằng ngu, chẳng qua là mày chết vì con vợ mày thôi, thác lũ dữ dằn như th ế mà mày dám trổ, có bè nhỏ cũng tan nát chứ gì bè dầy, vì mày mà tao mất cả cơ nghiệp con ơi !
Hai cha con họ ôm nhau khóc, n gười con nói với cha:
-Cha ơi, Cha đ ã già rồi, con sẽ cố gắng làm lụ ng, ngược xuôi cùng chúng bạn, anh em, “thua keo này ta bày keo khác” cha ạ! Con hứa sẽ làm lụng, ngược xuôi làm ra tiền bạ c để trả lại cho cha, có tiền đ ể cha cưới vợ cho em con…Nếu con không làm được việc đó nh ất quyết không dám về gặp mặt cha…
Để bớt gánh nặng cho cha và đ ỡ ngượng với các em , người anh xin cha ra ở riêng. Rồi cùng vợ cơn dứt áo ra rìa xóm, sát bờ sông lập cuộc sống riêng từ đó... thời gian thắm thoát trôi đi , ngư ời anh trai làm mãi, ngược xuôi mãi cũng chỉ đủ đ ể nuôi vợ và các con… Cho đến khi người cha mất, người anh vẫn chưa kiểm được tiền trả lại số vốn liếng trong “canh bạc” năm xưa ấy. Người em thì nhờ trời thương, luôn gặp may mắn, làm lụng, ngược xuôi có được của ăn, của để, lấy được những 2 cô vợ và sinh ra được đến 08 người con. Mỗi khi nhắc đến chuyện cũ ngư ời em lại cười khẩy: “Bao giờ rau diếp làm đình, Gỗ lim ăn gỏi thì anh mình trả nợ cha”
Cuộc sống cứ ngày mộ t khó khăn hơn, lại sinh ra nhiều con quá, tiền bạc công sức người anh làm ra chỉ đ ủ để nuôi con, người anh trai ngại chẳng dám đến nhà người em, kể cả đến ngày giỗ cha. Mỗi khi đến ngày rằm, ngày tết, ngày giỗ cha, người anh lại thui thủi một mình chẳng dám đ ến nhà người em… Thế rồi một ngày kia người anh trai quyết định lập bàn thờ tại nhà mình để thờ cha và để hương khói tổ tiên…
Sau này người mẹ của họ cũng qua đời, ngư ời em trai thứ 3 cùng các chị có đôi lần đến nhà anh cả khuyên nhủ , người em nói:
-Anh ơi, cha m ẹ chúng ta mất hết rồi, anh nên trở về nhà mỗ i khi đến ngày giỗ cha, giỗ mẹ để anh em mình có nhau, chúng ta cùng làm mâm cơm để cùng tưởng nhớ cha mẹ và tổ tiên...
Người anh do chưa tr ả được món nợ với cha, bực dọc trong lòng khi nhớ lại hình ảnh đau xót năm xưa cộng thêm lời nói của ngư ời em trai ngày nào, nên chẳng muồn về giỗ cha, nức nở nói với các em rằng:
-Các em ơi, anh không thể nào quên cảnh tan vỡ thuyền, bè năm ấy. Hai anh em thì còn trẻ và khỏe, nhanh chóng bám đư ợc vào thân gỗ và bơi được vào bờ , nhưng cha vì tiếc của nên cứ bám theo dòng thác để cố níu lại, nhưng cũng chẳng đư ợc là bao, lúc cha lên được bờ thì đã yếu lắm rồi…Ba cha con nhìn cảnh thuyền bè của mình tan vỡ, n gười người ở dưới thác ùa ra tranh cướp từng khúc gỗ, từng mảng bè của mình kiế m được từ bao mồ hôi và nước mắt của ba cha con. Nhìn cảnh họ tranh cướ p, như không có ba cha con ở trên đ ời, họ không đếm xỉa gì đến cảnh ba cha con đang vật lộn dưới dòng thác lũ hiểm nguy mà lòng đ ầy uất hận…Lòng ng ười bon chen, trắc ẩ n như thế đ ấy các em ạ… tất cả vì cuộc sống mưu sinh mà ngư ời ta quên đi tình ng ười…Tai họa ập xuố ng gia đình vì một chút nông nổi của anh, anh ân hận thì ít mà giận ngườ i đời thì nhiều…song các em ạ “Sông có khúc, người có lúc” nhấ t định có ngày anh sẽ trả đư ợc món nợ cho cha…trả lại lời nguyền của chú… Bây giờ anh chưa về đâu, v ì cha mất nhưng hình bóng cha vẫn hiển linh ở đó… thôi bây giờ các em đã yên phận rồi, các chú mạnh mẽ rồi, có gì thì cúng cha thế ấy, phầ n anh đã lập bàn thờ cha và tổ tiên cho anh rồi. Phận anh bạc bẽo, nghèo hèn, cúng cha anh có quả trứng , bát cơm là xong. Anh quyết chẳ ng đến nhà chú khi anh chưa trả được món nợ năm xưa cho cha và …lời nguyền của chú!...
Sau này khi người em nghĩ lại muốn rút lại lời nguyền năm ấy với người anh và nhiều lần đến gặp ngư ời anh xin anh tha lỗi, nhưng anh em họ vẫn không hòa hợ p được..Năm tháng trôi qua, người anh mỗi lúc một già, sức mỗi ngày một yếu, các con củ a người anh trai mỗi ngày một lớn khôn, trư ởng thành, đến khi hấp hố i người anh trai dặn các con rằng:
-Các con ơi, hồi trẻ vì yêu thương m ẹ con mà cha đã mắc sai lầm, làm mất sản nghiệp của Ông. Cha đ ã hứa với Ông nội, cố gắ ng làm để đ ền lại cho Ông, nhưng giờ sức cha đã cạn rồi, các con hãy cố gắng mạnh mẽ vươn lên trong khó khăn , cố gắng làm giàu bằng bàn tay và trí óc của mình, không đư ợc quá vì đồng tiền hoặc tình riêng mà làm liề u như cha! Hãy cố gắng thay cha thực hiện lời hứa của Cha…bao giờ các con làm được nhiều tiền hãy nhớ đến lời cha dặn đ ể thay cha báo đáp Ông bà Tổ tiên các con nhé…
Thời gian trôi qua con cháu của hai người anh em theo thời gian cứ đông dần. Con cháu của Người anh trai theo cha mình thờ cúng Ông bà và tổ tiên ở bàn thờ mà năm xưa người anh trai đã lập riêng (bàn thờ Chi 2 ngày nay), còn ng ười con trai thứ 2 thứ 3 cùng các con cháu của họ vẫn theo bàn thờ bố mẹ, ông bà (Bàn thờ Chi 3 ngày nay) để lại đ ể thờ cúng cha, mẹ mình và tổ tiên.
Từ đó về sau hai bàn thờ tổ tiên được duy trì đến ngày hôm nay cùng thờ người bố là Nguyễn Bá Cửu và tổ tiển tại hai nơi ấy. Cuộc sống cơ cực, chữ nghĩa chẳng có, không có ai trong dòng họ ở đ ời thứ 4 và 5 ấy ghi lại sự kiện và câu chuyện ấy cũng không lớn, nhưng đó là câu chuyệ n xúc động về tình cha con, tình vợ chồng về lời hứa và để lại nỗi suy tư sâu xa về lòng trắc ẩn, tính ích ký, bon chen của lòng dạ con người. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cành, “Đèn nhà ai rạng nhà ấy” ai cũng lo mưu sinh cho mình nên cũng chẳng có ai còn ghi nhớ câu chuyện ấy nữa…
Khi con cháu dòng tộc Cụ Nguyễn Bá Tiến sinh ra ngày càng đông đến đ ời thứ 5, thứ 6 có Cách mạng Việt Nam, có Cụ Hồ Chí Minh vào khoảng nhữ ng năm 1945 đến 1950 thì các cụ mới đư ợc học ít nhiều chữ quốc ngữ và đến mãi năm 1980 (năm Canh Th ìn) mới có điều kiện để ghi lại gia phả, gia tộc Họ Nguyễn Bá, mới ghi lạ i đầy đ ủ rõ ràng sự ra đời của cả 5 chi ở ngôi làng Chàng xưa có C ụ tổ là Nguyễn Bá Tiến đã sinh ra 5 chi họ và 5 chi họ Nguyễn Bá đ ã ra đời và tồn tại mang theo nhiều uẩn khúc về anh em họ Nguyễn Bá ở Chi 2 như thế …T ính đến ngày nay Cụ Nguyễn Bá Tiến đã có đến 12 thế hệ và đ ã có tới hàng ngàn người con và cháu, chút chít… cả trai và gái.
Những đời con cháu củ a người anh trai sau này không ai bảo ai, không ai truyền lại lời nguyền của người em trai năm ấy cho con cháu, nhưng những người con cháu của Cụ sinh ra đều rất giống tính cách của Cha. Có lẽ họ luôn được ngư ời Cha ấy đi theo cuộ c đời mỗi một người, nên luôn đư ợc phù hộ độ trì. Ẩn khuất đâu đó hình bóng Cha với bản lĩnh kiên cường, dám làm, dám chịu ở mỗ i người con. Nghe lời cha, hy sinh tình riêng, mạnh mẽ vươn lên làm giàu từ chính bàn tay và khối óc của mình.. và thực sự đến những năm thập niên 2000 này con cháu họ Bá ở Chi 2 đ ã lập được rất nhiều thành tích cả trong lao động, học tập, chiến đ ấu và công tác. Đã báo đáp vong linh tiên tổ bằng nhiều nghĩa cử cao đẹp : Công đức đền đài, chùa triền, đư ờng sá, nhà thờ, nhà từ đường, mộ chí, và đ ặc biệt tạo công ăn việc làm cho hàng trăm con em họ Bá ở chi khác, tộc họ khác… Đến ngày hôm nay, không đợi đến khi “…rau diế p làm đình, gỗ lim ăn gỏi …” con cháu họ Bá Chi 2 đã trả được món nợ cho người cha già năm xưa đến khi chết vẫn canh cánh trong lòng và thay cha giải được lời nguyền năm nào - đó là tâm nguy ện và ý chí lớn lao củ a người cha già Kính yêu.
Bình luận
Câu chuyện hư thực về cụ Thủy tổ ra đời và câu chuyện kể về anh em nhà Họ Bá kể trên, có thể câu chuyện đó đ ã diễn ra đúng như thế hoặc tình tiết có khác chút ít, nhất là thời buổi đó khó khăn lắm, ăn còn không có lấ y đâu ra tiền học chữ, vì vậy các cụ ít chữ lắm, khi gặp chuyện trúc trắc trong cuộc sống thư ờng không có người khuyên giải. Chuyệ n đời của các cụ để lại nếu đúng như v ậy, tuy không phải là câu chuyện lớ n, song đã đ ể con cháu lớp đời sau nhiều suy tư, hiểu nhầm và đ ã gây ra những câu chuyệ n xưng hô vai vế, ngôi thứ không đúng, thậm chí đâu đó đã xảy ra cãi lộn hoặc chẳng tin phả hệ để lại. Chỉ tiếc rằng chính các cụ lại không cùng thời với bậc tiên tổ và cũng không được truyền lại nguyên nhân chi 2 tách ra, vì vậy các bậc tiên sinh không thể có bằng chứng và cũng chưa có lời giải đáp th ỏa đáng nào về tình tiết ấy. Hy vọng với câu chuyện kể trên chừ ng nào đó đã lý giải đư ợc nguyên nhân các bậc tiên sinh Họ Nguyễn Bá Tiến ở Làng Chàng gọ i 05 nơi thờ cúng của tổ tiên (05 bàn thờ) tồn tại đ ến ngày nay là 5 chi. Với cách gọ i và đặt tên một cách tương đ ối ấy, chúng ta lớp thế hệ đương đ ại cũng không cần thiết phải rạch ròi 5 chi thờ các bậc tiên tổ là phải thờ các cụ ngang vai với nhau, mà nghĩ các bậc tiên sinh sau khi sắp lại gia phả đã nhầm lẫn… Chúng ta nghĩ rằng nhờ hồng phúc của của Tiên tổ để hôm nay trong từng Chi, từ ng gia đình họ Bá đang chung sống thân tình và có trách nhiệm với nhau, họ tộ c ta đang đoàn kết, đang m ạnh giầu và đang đi lên hơn h ẳn những tộc họ khác trong vùng. Một lần nữa chúng ta hãy nghĩ lại câu nói nổi tiếng đ ã được ghi trong gia phả: “ Nếu anh bắn vào quá khứ một phát súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh một viên đ ại bác” .
Giả sử trong họ bá chúng ta có ai đó c òn chưa thấy thỏ a đáng bởi câu chuyện và cách lý giải trên từ sự ra đ ời và thứ bậc của các Chi, chúng ta hãy cùng suy xét thêm nh ư sau:
-Từ trước năm 1980 do không có gia ph ả, phả hệ bằng chữ quốc ngữ nên từ lịch sử để lại họ Bá chúng ta chỉ có 04 chi, nhưng l ại có 05 nơi (Bàn thờ) cúng tổ tiên đã khiến cho con cháu đời sau nhầm tư ởng Cụ Nguyễn Bá Vi là ngang vai với các bậc cha mình, thậm chí vì được các Cụ sắp là Chi 2 (Do là Chi lẽ ra phả i là nơi thờ cúng chính của Cụ Tổ Nguyễn Bá Cửu, vì Cụ Vi là con trai cả Cụ Cửu) nên việc nhầm lẫn đó cũng là lẽ thường. Cũng chính vì một trong những lý do đó m à các Bậc cao niên là Nguyễn Bá Kỹ, Nguyễn Bá Sửu và Nguyễn Bá Bằng vào thập niên năm 1980 đ ã cho lập lại gia phả, phả hệ và nó được bổ sung, hoàn thiện đến ngày hôm nay. Tuy nhiên có thể do các cụ đã không tính đến chuyện con cháu nói rằng các cụ đ ã nhầm khi sắp xếp vai vế tại các Chi và chi 2 là như vậy. Vì bản thân các cụ cũng không cùng thời với các bậc tiền bối và cũng không thể giải thích cụ thể cho con cháu tường minh bằ ng văn từ, vì sao chi 2 lại tách như v ậy, và giả thiết là các cụ có biế t như vậy, thì các cụ cũng vì tôn trọng lịch sử, tôn trọng cha ông mà không thể hợp 2 chi này lại vớ i nhau được nữa.
-Nếu vẫn thấy ch ưa ổn, ta hãy suy xét ở khía cạnh khác là tên tuổi của các cụ. Lẽ thường theo logic đặt tên con sinh ra theo phong tụ c đặt tên ở các làng quê Việt Nam nói chung và ở Làng Chàng xưa nói riêng, khi sinh con ra thườ ng đặt tên cha theo con, theo vần điệu chữ cái đ ầu hoặc bộ phận vần hoặc số đếm hoặc đ ặc điểm của tên mà đặt cho dễ nhớ, ví dụ các cụ đã đ ặt tên con theo chữ cái là: Cha là Tiến – Con là Tộc và Tám; Cha là Vi con là Vít; Cha là Phệnh, con là Phạng, Cha là Thiết con là Tha hoặc chị là Ân em là Ái; Bộ phận vần ví dụ: Cha là Vi, con là Thi, Nghi, Cha là Nảnh, con là Cảnh; hoặc đặ t tên con theo đồ vật, hình ảnh, cây quả, ví dụ: Chị là Nghiên em là Bút và Học, Bố là Hạt con là Hột; hoặc theo số đếm ví dụ: Chị là Năm , em là Sáu, Bảy, hoặc Anh là Bảy em là Tám, Cử u, Mười vv… Với logic và lập luận trên có thể khẳng đ ịnh: Cha là Tám con trai cả là Cửu (Cửu tiếng hán là chín) là Tên bố và con trai Trưởng rất phù hợp với logic trên (Tên con hài hòa, vầ n điệu với tên cha). Còn nếu Cụ Tám có Cụ Vi là con con Trai trư ởng, thì vần điệu ( Tám - Vi - Cửu) không hợp logic và vầ n điệu nữa.
Với những lập luận như trên ta có thế nhận định:
-Việc nhầm lẫn của con cháu đương thời do lịch sử để lại từ sự kiện chia tách của Chi 2 như trên là hoàn toàn d ễ hiểu, dẫn đến cách gọ i 5 nơi thờ cúng tổ tiên là 5 chi là mang tính chất tương đ ối. Việc có 2 bàn thờ cụ tổ chi 2 và tổ tiên tại 2 nơi này là do lịch sử để lại không thể hợp nhất lại (có thể đó là ý nguyện của Tổ Tiên nên chúng ta không nên làm trái).
-Chính vì một trong nhữ ng lý do đó mà các Bậc tiên sinh là Nguyễn Bá Kỹ, Nguyễn Bá Sửu và Nguyễn Bá Bằng vào thập niên năm 1980 đ ã cho lập lại gia phả, phả hệ và nó được bổ sung và hoàn thiện đ ến ngày hôm nay.
-Ghi nhận câu chuyện truyền thuyết nêu trên được viết ra có tính chất Nghiên cứu sâu sắc và lý giải về sự ra đ ời của Thủy Tổ và chi 2 và 4 Chi Họ còn lại của dòng tộc Nguyễ n Bá đương thời ở trên vào trong gia phả và Phả ký (Ghi chép, suy luậ n) để con cháu đương th ời hiểu thêm lịch sử Cha Ông mình và đ ể một lần nữa khẳ ng định: “Nguồn gốc và thứ bậc của dòng họ chúng ta căn b ản là đúng và rõ ràng” (Trích gia phả năm 2003 trang 1, dòng thứ 24).
----------------------------------------
|