GIA

PHẢ

TỘC

Nguyễn

Tiến
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
TÀI SẢN, HƯƠNG HỎA, GHI CHÚ
TỘC ƯỚC HỌ NGUYỄN BÁ
Thôn Chu Quyến xã Chu Minh & Thôn Chu Châu Xã Minh Châu
------------------------
A.-KHÁI QUÁT CHUNG, MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT LẬP TỘC ƯỚC
1. Khái quát chung & ý nghĩa tộc ước
Tộc ước (hay qui ước dòng họ Nguyễn Bá Ở Chu Minh, gọi tắt là tộc ước) nhằm giúp điều tiết các mối quan hệ giữa tập thể và các cá nhân trong phạm vi dòng tộc Nguyễn Bá, được mọi người trong dòng họ công nhận và tự giác chấp hành. Tộc ước là một trong những văn bản quan trọng nhất, cùng với gia phả, nhà thờ dòng tộc, mộ phần tổ tiên dòng tộc Nguyễn Bá… tạo nên những giá trị vật thể, phi vật thể của dòng họ, giúp cho dòng họ Nguyễn Bá trường tồn và phát triển.
Nội dung tộc ước này không trái với hiến pháp, pháp luật, chính sách và những quy định của chính thể Nhà nước và địa phương nơi họ tộc sinh sống. Từ ngày thủy tổ khởi sinh đến nay đã trên 200 năm nhưng chưa có quy định bằng văn bản quy ước dòng Họ Nguyễn Bá; vậy tộc ước này là nguyện vọng của con cháu họ Nguyễn Bá.
“Nước có Quốc pháp, nhà có Gia phong” tộc ước là sự thể hiện kế thừa “Luật tục của dòng họ Nguyễn Bá” nhưng không phải là Luật pháp, không thay thế được Luật pháp. Tộc ước dòng họ không phải do cơ quan quyền lực ban hành do vậy chỉ có có các từ “nên và không nên”, tuyệt nhiên không dám đề cập đến các quy định về chế tài mang tính cấm đoán, cưỡng bức, cưỡng chế hoặc xử phạt, xử lý dưới bất kỳ hình thức nào đối với người không thực hiện hoặc làm trái quy định của tộc ước.
Để giữ gìn quan hệ huyết thống, phát huy truyền thống và bản sắc dòng họ Nguyễn Bá, các thành viên họ tộc thống nhất lập TỘC ƯỚC HỌ NGUYỄN BÁ với mục đích cơ bản:
-Lập tộc ước là đưa ra những quy ước nhằm bảo tồn và phát triển họ tộc; tri ân Tổ Tiên, tiền linh; giữ gìn quan hệ huyết thống, thân tộc; bảo đảm tính bền vững của dòng họ.
-Lập tộc ước là xây dựng nếp văn hóa nhằm bảo vệ và phát huy truyền thống gia tộc; giáo dục con cháu họ Bá ý thức hướng về cội nguồn; sống theo đạo lý gia phong, sống có nghĩa tình, tôn trọng thứ bậc trên dưới, tuổi tác trong họ tộc; giữ mỗi quan hệ tốt đẹp với cộng đồng xã hội; tránh những việc nhầm lẫn giữa dòng họ, đời thứ bậc.
-Lập tộc ước mang lại quyền lợi của các thành viên trong gia đình họ Bá, như: các thành viên gia đình họ Bá có điều kiện tìm hiểu nguồn gốc tổ tiên, tham gia góp ý, cập nhật, bổ sung, kịp thời gia phả, tộc ước. Mọi gia đình trong gia tộc họ Bá có tài liệu chính xác nhất để thông báo với toàn thể gia đình trong chi họ, tộc họ các sự kiện của gia đình mình. Được Hội đồng gia tộc, các thành viên của tổ Chi, Tổ họ tổ chức và thực hiện các sự kiện bảo đảm đúng nghi lễ, trang trọng, tiết kiệm. Giảm thiểu mọi sai sót không đáng có, hạn chế tối đa hiện tượng “ Ma chê, cưới trách”.
Là cuốn “Cẩm nang” cho các gia đình tộc họ khi tổ chức các sự kiện của gia đình mình, hạn chế các cuộc họp mặt, xin ý kiến không cần thiết, lời “bàn gia tán vào” vô bổ khi tổ chức các sự kiện.
2. Sự cần thiết khách quan có tộc ước
- Giai đoạn không có gia phả gọi là "Huyền Phả", dòng họ ta chỉ có gia phả, Phả
hệ như hiện nay gọi là "Sơ phả". Nếu có thêm Tộc ước, Phả ký, ngoại phả, phụ khảo mới gọi là bộ gia phả hoàn chỉnh. Gia phả hoàn chỉnh được ghi kỹ hơn, toàn diện hơn, phản ánh đầy đủ, trung thực thực thể dòng họ, đặc biệt là là các quy ước (Tộc ước) quy định các hoạt động cơ bản của Gia đình, Dòng tộc. Trong cuốn sách "Cách dựng bộ gia phả hoàn chỉnh" do nhóm chuyên viên thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM biên soạn có ghi: “Đất nước trong giai đoạn không có sử gọi là huyền sử. Nhà không có phả gọi là huyền phả, tức tổ tiên, truyền thống dòng họ, con người, sự việc ở đây chỉ dựa vào ký ức và truyền khẩu, do vậy lâu ngày bị mai một. Có gia phả, mọi việc sẽ rõ ràng, chính xác, bền vững, khả năng lưu truyền mạnh mẽ, mau lẹ và đi xa hơn. Người “mất gốc”, không biết mình do ai sinh ra và gốc gác ở đâu, đây là hoàn cảnh đáng thương cô độc và quạnh quẽ. Người có gia phả sẽ tự tin, tự hào về truyền thống tốt đẹp, sáng lạng của dòng họ mình để củng cố niềm tin, vững bước đi lên trong mọi hoàn cảnh...”.
- Gia phả đã quan trọng như vậy, nhưng dòng tộc nếu thiếu tộc ước có thể ví như
là chúng ta có đường đi nhưng thiếu luật giao thông, đi thế nào cũng được, hoặc người có quần nhưng không có áo, mũ thì không đủ lệ, bộ… Đâu đó đã có hiện tượng trên bảo dưới không nghe, già bảo trẻ không tin, người biết bảo người không biết chưa phục, hoặc đùn đẩy cho người cao tuổi quyết định những vấn đề nhạy cảm (Hôn nhân trong dòng tộc, bốc mộ, cải táng…). Tất cả vì chúng ta không có cơ sở khoa học và niềm tin chắc chắn, hoặc tiền lệ. Nhà nước Việt Nam không có luật lệ về vấn đề tín ngưỡng, tâm linh; Dòng họ ta chưa có Tộc ước hoặc bất cứ dòng ghi chép nào quy định về dòng tộc, nếu có chỉ là truyền khấu, mệnh lệnh mang tính chất gia trưởng, đốc đoán, hiệu lực mệnh lệnh thấp hoặc làm theo mệnh lệnh nhưng tâm không phục, bức xúc. Không có quy ước của dòng tộc bằng văn bản (quốc pháp không có, gia pháp thì không), dân trí, tộc trí đa phần mù mờ, suy diễn, nhầm lẫn không phân biệt được tín ngưỡng, tâm linh với mê tín, dị đoan.
+ Ví dụ 1: Cho rằng nếu kiêng không đủ 2 năm người mới chết, thì người mất
trước đó là bao lâu cũng không được bốc mộ, nếu bốc thì xẩy ra trùng tang (Vậy tại sao không phải kiêng 1 năm hay 3 năm, mà lại là 2 năm, ai quy định, luật pháp hay gia pháp, không ai trả lời được). Từ chỗ nhận thức không đầy đủ đã nảy sinh cấm đoán tùy tiện, thậm chí một bộ phận không nhỏ thành viên họ tộc buông ra những câu thần bí, dọa nạt, kiểu như: “Nhà mày mà cứ bốc mộ, sẽ không có ai đến, hoặc nếu làm mà có ai chết thì đừng nói là không bảo trước” – nói vậy ai dám làm, Các cụ cũng chẳng giám quyết. Chung quy là do việc ma chay, tang lễ, bốc mộ, cải táng là vấn đề phong tục, tục lệ của mỗi địa phương, luật pháp không quy định cải táng, sách báo không viết rõ ràng, mỗi địa phương mỗi kiểu, mỗi chi họ, dòng họ một phách và nếu có sách viết về vấn đề đó cũng không phải là luật lệ, vì vậy không có lý do gì bắt ta phải thực hiện một cách quá khắt khe. Hơn nữa trong mỗi chúng ta đã thực hiện luật lệ khác có nghiêm đâu, ví dụ: ra đường không đội mũ bảo hiểm, nguy hiểm đến tính mạng của người chúng ta, hoặc nấu rượu nậu, biết độc hại mà ta vẫn uống...)
Vì vậy một số thành viên tự nghĩ và tưởng tượng ra, rồi đề xuất mang tính chất cá nhân nhiều hơn, dấn đến nguy cơ tiềm ẩn, mâu thuẫn gia đình, anh em họ hàng, dòng tộc, còn người dưới mộ thì không được cải táng, thân chủ thì lo lắng bất an…). Trong năm 2012 như trường hợp khi cụ Nguyễn Bá Phương đời 7.2 mất mà phải hết 05 năm mới cải táng được, vì một số thành viên của chi họ mất liền kề. Và việc cải táng cho cụ cũng phải làm chạy…tang giữa mùa mưa, may mà trời thương nên việc đó chót lọt…Thử làm bài toán nếu sau này đời em cụ Phương trong chi có tới khoảng 20 người ngang tuổi cứ mất liền kề 3 năm một người, không kể dòng họ có người “bất đắc kỳ tử” thì sao làm được việc cải táng cho các cụ... Tại sao chúng không nghĩ bốc mộ, cải táng là việc chuyển nhà cũ sang nhà mới là nguyện vọng của cả người sống và người chết, hơn nữa chết có số rồi, “sinh có hạn tử bất kỳ” cho nhẹ lòng...
+ Ví dụ 2: Cưới xin chỉ cần qua 3 đời là được (luật hôn nhân gia đình) cớ sao con của cái họ Bá qua đến 4 đời rồi lại khômg được lấy nhau. Vậy ai cấm, ai quy định nếu không phải là tộc ước hay chỉ là quy ước ngầm định của dòng họ, giả sử là ngầm định thì quy định thế nào? Quy định đó có vi phạm luật hôn nhân gia đình hay gia pháp không, hiệu lực đến đâu ?
Hoặc chính sách con nuôi, con cháu xin gia nhập họ...hoặc gia phả chưa lý giải rõ ràng sự ra đời 5 chi, hương ước, mộ tổ... Hoặc hội đồng gia tộc chưa được chính thức thành lập, hoạt động mang tính tự phát, hiệu quả chưa cao, dẫn đến nghi ngờ, mất tín… Rõ ràng dưới sự điều hành của dòng tộc hiện nay trong dòng tộc có không ít vấn đề tồn tại, có những tồn tại mang tính chất nghiêm trọng như kể trên. Tất cả cần có Tộc ước - đó là “bản hợp ca” của một dòng tộc, của một tập thể chứ không phải chỉ của một, hai cá nhân nào, dù cho cá nhân đó là ai?
*Vậy có tộc ước là đòi hỏi chính đáng, thực tiễn và khách quan. Điều kiện xây dựng Tộc ước đã chín muồi, đặc biệt qua 2 năm sóng gió 2011, 2012 của Gia tộc Họ Bá tại Chi 2. Nó có hiệu lực chỉ sau các thể chế, pháp chế của một chính Đảng, một dân tộc. Nước có quốc pháp nhà có gia pháp thì dòng tộc mới luôn đoàn kết, mới có sức mạnh và mới trường tồn.
B.-NỘI DUNG TỘC ƯỚC
Chương 1: TỔ CHỨC HỌ TỘC
Điều 1: Thành viên họ tộc.
Mọi người, không phân biệt con gái trai dâu rể, cháu nội ngoại, có chung Thuỷ Tổ Nguyễn Bá Tiến đều là thành viên họ tộc Nguyễn Bá. Thứ bậc trong họ tộc theo Gia phả, phả đồ của dòng họ Nguyễn Bá .
Điều 2: Nhập họ, khai trừ họ.
Khi thành viên trai của họ tộc sinh con trai hay gái và khi con trai cưới vợ, con gái cưới (gả) chồng đều phải có lễ thắp hương tại bàn thờ gia tiên vào ngày sinh, ngày cưới và có thẻ hương đến Nhà thờ họ (Nhà từ đường Họ Bá hoặc Nhà thờ, bàn thờ họ tại các Chi) vào dịp Tết Nguyên Đán hoặc ngày giỗ tổ trong năm sinh để kính báo và cầu mong tổ tiên chứng giám, phù hộ. Trường hợp con ngoài giá thú, con nuôi, con riêng nếu gia đình chấp thuận làm con, cho nhập và ghi tên họ Nguyễn Bá trong giấy khai sinh, chứng sinh thì được làm lễ nhập họ trong năm nhận con.
Nhập họ Nguyễn Bá có ý nghĩa giáo dục ý thức đạo hiếu, biết cội nguồn và nhớ đến tổ tiên, giáo dục ý thức sống có bổn phận với dòng họ, với mọi người trong dòng họ và cộng đồng xã hội.
Khi thành viên hoặc con cháu của thành viên vi phạm nghiêm trọng các quy định của tộc ước này, như tự ý đổi họ, không tham dự các sự kiện của dòng tộc từ 3 năm trở lên, vi phạm đạo đức dòng tộc nghiêm trọng như kết hôn với người trong dòng tộc, trái luật, trái đạo, hoặc có hành vi gây nguy hiểm nghiêm trọng đến sự tồn vong của dòng tộc như: Tuyên truyền, kích động gây chia rẽ, mất đoàn kết , bất mãn với dòng tộc… mặc dù đã được họ tộc, hội đồng gia tộc nhắc nhở, khuyên giải nhưng vẫn không sửa đổi mà còn tái phát nghiêm trọng hơn thì thành viên đó bị HĐGT truất quyền tham dự các sự kiện của Dòng tộc, không được mọi thành viên của dòng tộc tham gia các sự kiện của gia đình, thành viên đó.
Trưởng chi và Trưởng tộc ghi vào sổ bổ sung các trường hợp nhập họ, khai trừ họ vào Gia phả và báo cáo Hội đồng Gia tộc, Tổ soạn thảo bổ sung vào gia phả sau này.
Điều 3: Khai tử.
Khi thành viên họ tộc mất (già trẻ, trai gái, dâu rể) thì Tang chủ có trách nhiệm báo cho Trưởng chi và Trưởng chi báo cho Trưởng tộc. Trưởng chi Trưởng tộc có trách nhiệm báo cho các gia đình thành viên họ tộc Nguyễn Bá biết để tổ chức phúng viếng, đưa tang, đồng thời ghi chú, bổ sung vào Gia phả sau này.
Điều 4: Tộc họ, Thủy tổ, chi họ.
Tộc họ bao gồm tất cả các thành viên của họ tộc; Thủy Tổ là Cụ Nguyễn Bá Tiến; đứng đầu Tộc họ là Tộc trưởng. Tộc họ thờ cúng các bậc tiền linh của dòng họ Nguyễn Bá.
Chi họ bao gồm các thành viên trực hệ thờ cùng các bậc tiền linh từ đời thứ 3 (Chi 1, 3, 4, 5) và đời thứ 4 (Chi 2) trở xuống. Từ năm 1980 cuối thế kỷ XX theo như các bậc Tiên sinh của Dòng họ quen gọi 05 nơi thờ cúng tổ tiên của Dòng họ Nguyễn Bá là 05 chi, nay chúng ta cũng gọi theo các bậc Tiên sinh dòng họ Bá có 5 Chi: Chi 1 thờ Cụ Nguyễn Bà Liễn đời thứ 3.1 con cả Cụ Nguyễn Bá Tám (Do Nguyễn Bá An đời thứ 6.1 là trưởng Chi, kiểm Trưởng tộc), Chi 2 thờ cụ Nguyễn Bá Vi, đời thứ 4.1 con cả Cụ Nguyễn Bá Cửu đời thứ 3.1 (do Nguyễn Bá Trước, đời thứ 8.1 là Trưởng Chi), Chi 3, thờ cụ Nguyễn Bá Cửu, đời thứ 3.1 (Do Nguyễn Bá Mạnh đời thứ 8.4 là Trưởng Chi), Chi thứ 4 thờ Cụ Nguyễn Bá Trường, đời thứ 3.2 (Do Nguyễn Bá Tơ đời thứ 7.1 là Trưởng Chi). Chi Thứ 5 thờ Cụ Nguyễn Bá Toán, đời thứ 3.4 (Do Nguyễn Bá Tuấn, đời thứ 6.6 là Trưởng Chi).
Điều 5: Trưởng tộc.
Tuân theo phong tục truyền ngôi, kế vị của Tổ Tiên quy định: Người con trai mang tên dòng họ Nguyễn Bá đứng đầu chi họ trưởng (Chi Cả) là Trưởng tộc (Trưởng chi), nếu người đó mất thì con trai trưởng của người đó được kế vị Trưởng tộc (Trưởng Chi). Trường hợp nếu người đó mất mà không có con trai thì Người con trai (em trai của trưởng tộc, trưởng chi) kế vị Trưởng tộc (Trưởng Chi).
Điều 6: Trách nhiệm của Trưởng tộc.
1) Chủ lễ cúng tế của họ tộc: ngày Tế Tổ, ngày lễ, tết.
2) Thắp hương, đèn, khấn Tổ tiên trong ngày sóc, vọng (Mồng Một, Rằm) hàng tháng.
3) Trông coi bảo quản hàng ngày Nhà Thờ (Từ đường) của họ tộc.
4) Thay mặt họ tộc, Hội đồng gia tộc hiếu hỷ, thăm viếng đối với trưởng Chi, trưởng chi họ và các bậc lão cao tuổi từ 80 trở lên khi các cụ ốm đau bệnh tật.
5)Trưởng tộc có thể ủy nhiệm cho người trong Chi (Chi 1) của mình thực hiện các nhiệm vụ từ 1 đến 3. Người được ủy nhiệm phải có khả năng thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên và được Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Bá đồng ý.
6) Có trách nhiệm thu thập thông tin, ghi chép báo cáo với HĐGT, Ban soạn thảo các sự kiện hiếu, hỉ, công đức, đỗ đạt … của con cháu Dòng họ trong Chi mình để bổ sung cho gia phả họ Nguyễn Bá sau mỗi 10 năm theo quy định tại điểm 4, điều 9 dưới đây.
Điều 7: Hội đồng gia tộc.
Hội đồng gia tộc gồm thành viên hiển nhiên và thành viên bầu chọn của họ tộc. Thành viên hiển nhiên gồm: Trưởng tộc, trưởng các Chi. Thành viên bầu chọn Hội đồng gia tộc bao gồm: Lão thành am hiểu họ tộc, người có tín nhiệm của họ tộc, người am hiểu họ tộc, xã hội và có tâm, đức, không nhất thiết phải là: “Phú vi Trưởng, Quý Vi trưởng”. Số lượng thành viên của Hội đồng gia tộc tuỳ từng thời điểm để chọn nhưng tối thiểu là 9 thành viên. Hội đồng gia tộc bầu Chủ Tịch HĐGT để điều hành gia tộc, 01 Phó chủ tịch HĐGT để thay mặt chủ tịch HĐGT khi chủ tịch HĐGT vắng mặt.
Điều 8: Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng gia tộc.
Chức năng: Thay mặt họ tộc điều hành mọi hoạt động sự kiện của Họ tộc, chấn chỉnh, giáo dục lớp con cháu của họ tộc.
Nhiệm vụ:
1) Chuẩn bị nội dung, chương trình họp họ tộc và kế hoạch hoạt động trong năm của họ tộc (Ngày giỗ của Cụ tổ Thượng Ông, cụ tổ thượng Bà, ngày tế lễ khai trương, khánh thành …).
2) Nắm tình hình thực tế của họ tộc: Lão, sinh, tử, di chuyển chỗ ở, thuận lợi, khó khăn, những mâu thuẫn không giải quyết được trong phạm vi gia đình, chi họ của các thành viên họ tộc trong cuộc sống và xử lý theo quy định của tộc ước.
3) Chỉ đạo và giám sát các ban: Tài chính, Lễ nghi, lễ tang, Soạn thảo
4) Đề xuất khen thưởng gương tốt trong họ tộc (học giỏi, làm ăn giỏi, v.v…); khuyên, hòa giải đối với cá nhân, nhóm cá nhân có nhiều thiết sót, manh động gây bất hòa, bất hiếu, bất an … ảnh hưởng nặng nề đến dòng tộc và Xã hội.
Các cuộc họp Hội đồng gia tộc để quyết định các vấn đề như: Chỉnh sửa gia phả , tộc ước, sửa chữa từ đường, nhà thờ chi họ, xây dựng mộ tổ, nhập họ, xin con nuôi…được triệu tập và tổ chức khi có quá 50% thành viên hội đồng gia tộc. Nội dung cuộc họp được ghi vào số “Nghị quyết họ tộc” để thực hiện.
Điều 9: Các ban của họ tộc.
9.1.Ban Tài chính: Ban tài chính có nhiệm vụ quản lý, đề xuất mức góp và quyết toán công khai tài chính của họ tộc hàng năm. Ban Tài chính do họ tộc lựa chọn, tối thiểu là 3 người.
9.2.Ban Nghi lễ, tang lễ, tổ chức: Hội đồng gia tộc cắt cử Ban nghi lễ, ban Tổ chức luân phiên hàng năm để quét dọn nhà thờ vào dịp cúng tế; chuẩn bị lễ vật: hương, đèn, hoa quả, trầu, rượu để thờ cúng tại Nhà Thờ Họ (Từ Đường); chuẩn bị bữa ăn sau buổi cúng tế, buổi họp mặt HĐGT và cho con cháu họ tộc về dự họp, dự lễ… Đề xuất những vấn đề sửa chữa, xây dựng nhà thờ, đề xuất khen thưởng lớp con cháu. Ban nghi lễ, tang lễ tối thiểu là 03 người.
Khi có thành viên họ tộc mất, phối hợp với Trưởng chi trực hệ và gia quyến , Ban lễ tang địa phương, tổ chức mai táng theo tục lễ. Ban nghi lễ, tang lễ có trách nhiệm thông báo cho các thành viên trong các chi họ và các thành viên chi họ khác để tổ chức phúng viếng và đưa tang.
9.3.Ban soạn thảo, bổ sung tộc ước gia phả: Là những người được mỗi chi đề cử, tối thiểu mỗi chi có 01 người, điều kiện là có hiểu biết gia phong, lệ tục địa phương và xã hội; ít nhiều hiểu biết công nghệ, văn phạm, quan trọng hơn là có thành tâm luôn hướng và cội nguồn, tổ tiên:
-Để đóng góp tài năng, trí tuệ hiểu biết của mình để hoàn thiện gia phả, tộc ước; bảo tồn và giữ gìn và phát huy truyền thống của dòng tộc đã được ghi trong gia phả, tộc ước…
-Để cập nhật các thông tin và sự kiện của dòng tộc cũng như sự điều hành thống nhất của gia tộc, ban soạn thảo bầu 01 thành viên vào ban gia tộc để giúp việc cho HĐGT.
-Tư vấn giúp việc cho Hội đồng gia tộc, ghi chép bổ sung các nội dung được HĐGT thông qua về gia phả, tộc ước. Làm việc với mỗi chi trưởng…để lấy ý kiến thông qua phiếu bố sung, trưng cầu ý kiến đến mỗi gia đình về việc hoàn thiện gia phả, tộc ước…
-Soạn thảo bổ sung, lưu trữ và bảo quản an toàn mọi tài liệu liên quan đến gia phả, tộc ước. Tạo tài khoản, hướng dẫn mọi thành viên trong dòng tộc nếu có điều kiện được tra cứu tư liệu gia phả họ tộc Nguyễn Bá Tiến trên mạng Internet.
9.4 Ban Hòa giải, thăm hỏi, ngoại giao: Là những thành viên có tài ăn nói, hiểu biết dòng tộc xã hội, có uy tín trong dòng tộc, xã hội có khả năng khuyên giải thành công, ngoại giao tốt với địa phương và với tộc họ khác…
-Làm trung gian hòa giảiquyết những trúc trắc của các gia đình, cá nhân không tự giải quyết được trong cuộc sống, hoặc khuyên giải những gia đình cá nhân đã và đang vi phạm đến tộc ước này quy định tại điều 2.
-Thay mặt dòng tộc thăm hỏi, dộng viên những thành viên trong họ tộc khi gặp các trường hợp quy định tại điều 17.
-Làm việc, ngoại giao với các tổ chức chính quyền địa phương và các cá nhân liên quan khi gia tộc phát sinh các trường hợp, như: xây dựng, sửa chữa nhà thờ, mộ tổ, hoặc tổ chức các sự kiện lớn của dòng tộc như khánh thành nhà thờ, hoặc tham dự các cuộc lễ bái hội hè… do địa phương, dòng tộc khác trực tiếp mời gọi tham gia.
Chương 2: THỜ PHỤNG, LỄ NGHI CỦA HỌ TỘC
Điều 10: Nhà thờ tổ họ, tổ chi, bàn thờ gia tiên.
Nhà thờ tổ thượng, tổ chi (từ đường) là nơi thờ cúng tổ tiên, ông bà. Nơi xây cất nhà thờ phải chọn nơi cao ráo, xa đường sá để tránh ồn ào. Kết cấu nhà thờ vững chắc, hình thức trang nghiêm, cổ kính, 3 gian (gồm: 1 gian chinh và 2 gian phụ). Trong nhà thờ thiết lập 3 dòng, một dòng chính và hai dòng phụ. Bàn thờ và các đồ thờ trang nghiêm, sách sẽ, bền lâu.
Bàn thờ ông bà, cha mẹ đã mất được thiết lập ở nhà con trai trưởng, trong trường hợp các con trai ở xa cách nhau, đi lại khó khăn thì các con trai thứ có thể lập bàn thờ vọng. Nơi đặt bàn thờ là gian (phòng) chính, nghiêm trang, sạch sẽ.
Điều 11: Thờ phụng.
Chết chưa phải là hết, thể xác tiêu tan nhưng linh hồn thì bất diệt, linh hồn vẫn còn, vẫn hằng lui tới với gia đình, với người thân. Linh hồn người đã mất luôn gần gũi, theo dõi, nâng đỡ con cháu hàng hàng ngày. Con cháu thờ cúng Tổ tiên, ông bà, cho mẹ và những người đã mất là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm, mỗi giao lưu giữa con cháu hậu duệ đương thời với Thủy Tổ, Tổ Tiên, tiền linh, ông bà, cha mẹ đã quá cố. Thờ cúng Tổ tiên là Đạo Hiếu, uống nước nhớ nguồn. Họ tộc còn tồn tại chỉ khi hậu duệ còn thờ cúng Tổ Tiên; gia đình được vững bền chỉ khi con cháu biết thờ cúng tưởng nhớ Công lao cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Thờ cúng là một nghi lễ vô cùng quan trọng, bởi qua đó, con cháu nhớ đến ông bà tổ tiên bởi tấm lòng thành kính đối với vong linh người đã khuất. Tấm lòng thành kính không phụ thuộc vào vật tế lễ lớn hay nhỏ, những lúc khó khăn, thờ cúng chỉ với nén hương, chén nước, quả trứng cũng giữ được đạo hiếu.
Trải qua bao thế hệ, các vị Tiên tổ của dòng họ chúng ta đã dày công vun đắp, xây dựng gia tộc lớn mạnh như ngày hôm nay. Vì vậy con cháu Tộc Nguyễn Bá phải luôn hướng về cội nguồn; dù cho sinh sống, làm ăn ở phương trời nào, đến ngày Tế Tổ hãy quy tụ về nơi thờ phụng Tổ tiên, nơi mai táng thi hài người đã khuất với tấm lòng thành kính, nén hương thơm, hoa trái tươi lành, chén nước trong sạch để dâng lên linh hồn Tổ tiên chứng giám và phù hộ, độ trì cho thế hệ con cháu đương thời. Đó là đạo hiếu mà dòng HỌ NGUYỄN BÁ gìn giữ bao đời nay; đó là phúc đức cho con cháu để lưu truyền nòi giống muôn đời sau; đó là sự trường tồn của họ tộc.
1)Tế tổ: Ngày mà cả họ tộc tập trung về Nhà thờ từ đường của Cụ Tổ để Tế Thủy tổ, Tiên tổ, tiên linh và tất cả linh hồn người của họ tộc đã mất.
Ngày Tế Tổ là ngày mà con cháu hậu duệ trên dương thế tri ân Tiên Tổ, thắp nén hương thơm tưởng nhớ người đã khuất. Là ngày để Anh em, ông Con, Cha chú trong dòng tộc gặp nhau, tay bắt mặt mừng, uống chén rượu nhạt nói những lời nhẹ nhàng, thân thiện nhất. Cùng ôn lại quá khứ, chia sẻ ngọt bùi, động viên nhau vượt qua gian khó và có những nghĩa cử mang nặng tình người và bộc lộ những tình cảm thiêng liêng nhất.
Ngày Tế Tổ, giỗ tổ là ngày do con cháu họ tộc chọn; đó là ngày có ý nghĩa đối với phần âm và cũng là ngày tương đối thuận lợi cho con cháu dương thế về dự lễ. HỌ NGUYỄN BÁ của chúng ta chọn ngày 02/09 âm lịch hàng năm làm ngày Tế Tổ (ngày mất thủy tổ: Nguyễn Bá Tiến)
2)Tế Chi: Mỗi Chi có ngày tế riêng do con cháu trong từng Chi chọn, việc chọn này nên trùng vào ngày giỗ cụ Tổ của Chi đó. Tuy nhiên để con cháu của Chi có thể về dự đông đủ nếu ngày giỗ không trùng vào ngày nghỉ thì có thể tổ chức giỗ vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ (thứ 7, chủ nhật) trước ngày giỗ cụ tổ Chi không quá 03 ngày.
3)Ngày giỗ ông bà, cha mẹ, anh em: Ông bà, Cha mẹ hoặc người anh, em nào đó đã mất thì con trai, con gái, anh chị em phải làm giỗ cho Ông bà, cha mẹ anh chị em đã mất hàng năm vào ngày mất (ngày âm lịch).
Mục đích giỗ kỵ là để tưởng nhớ công ơn ông bà cha mẹ, anh chị đã mất, ôn lại cuộc đời, ân đức để nhắc nhở con cháu nhớ và noi gương tiền nhân, đó là “Phúc Đức lưu Tử Tôn”.
4)Tết Nguyên Đán và ngày sóc vọng:
Con người sống trong thế giới tự nhiên bị chi phối bởi quy luật của tự nhiên, trong đó ngày giờ, năm tháng là từ quy luật chuyển động của quả đất, mặt trăng và mặt trời. Trong đó, ngày Tết Nguyên Đán là ngày đầu của một vòng quay quanh mặt trời của quả đất (theo lịch âm); ngày sóc là ngày đầu của một vòng quay quanh quả đất của mặt trăng (ngày tối trăng); ngày vọng là ngày mặt trăng được mặt trời chiếu sáng trọn vẹn. Để cảm tạ trời đất, từ ngày xưa, Tổ tiên, chúng ta đã bày soạn bàn thờ để cúng trời đất, các vị thần linh đó che chở, phù hộ cho cuộc sống của chúng ta. Cộng với tế trời đất và các vị thần linh, những ngày này, con cháu cũng bày soạn bàn thờ cúng Tổ tiên, ông bà, cha mẹ để tưởng nhớ người đã mất và cần sự phù hộ đối với cuộc sống gia đình.
Với truyền thống văn hóa tốt đẹp đó, con cháu HỌ NGUYỄN BÁ cần duy trì và phát huy, làm cho con người gắn bó với thiên nhiên, tưởng nhớ tới tiên tổ, ông bà, cha mẹ và người đã khuất. Theo phong tục địa phương và truyền thống của Dòng tộc Họ Nguyễn Bá vào ngày cuối năm âm lịch người con trai trưởng mỗi gia đình Họ Bá phải ra mồ mả Ông bà, cha mẹ, anh em mình đã mất để thắp nén hương kính mời tổ tiên về nhà cùng hưởng lộc của con cháu tế lễ. Sau đó thông thường là hết 03 ngày tết cổ truyền thì con cháu trong mỗi gia đình trước khi bước vào một năm mới (đi làm ăn, đi học tập công tác…) phải làm lễ tạ tổ tiên (Ông bà ta gọi “nôm na” là ngày tạ ông Vải hay ngày “cất mâm”).
Điều 11a: Nghi lễ tế tổ theo bài cúng bằng chữ quốc ngữ (theo mẫu bài cúng), trưởng tộc chuẩn bị và đọc to và rõ ràng. Trang phục theo điều kiện hiện thời của gia tộc. Các con cháu đến dự lễ tế tổ ăn mặc trang trọng, mỗi người thắp nén hương thơm bày tỏ tâm nguyện và cầu mong tổ tiên phù hộ, độ trì cho bản thân và gia đình được hưởng hồng phúc, lộc thọ và gặp may mắn trong đường đời.
Điều 11b: Nhà thờ họ tộc phải có diện tích khuôn viên bằng sổ đỏ. Ghi rõ là nhà Từ đường Họ Nguyễn Bá Tiến hoặc nhà thờ tổ các chi (nếu có) là sở hữu lâu dài của họ tộc. Mọi giá trị nhà từ đường được hình thành do công đức của con cháu được ghi nhận công đức trong bia công đức và gia phả.
Điều 12: Tang lễ.
Sinh tử là một quy luật của tự nhiên, không ai tránh khỏi.
Khi người ốm yếu, già cả sắp mất, biết mình phải từ giã cuộc đời, xa lìa cuộc sống, xa lìa người thân, khi đó sự có mặt của người thân, của anh em họ hàng ở bên cạnh là niềm an ủi lớn lao, giúp cho người sắp về với tiên tổ có thể nhắm mắt bình an, thanh thản ra đi.
Đối với người mất thường có các lễ: Lễ mộc dục (tắm gội, thay quần áo), lễ phạm hàm (gửi gạo, muối và đồ vật), lễ hạ thổ (tiếp âm) là những lễ tẩy trần và chuẩn bị cho người mất trước khi khâm liệm; lễ khâm liệm, lễ nhập quan, lễ triệu tịch điện, lễ thiết linh, lễ thành phục là những lễ chuẩn bị trước khi đưa tang.
Lễ tang cho người mất là thể hiện sự kính trọng, thương tiếc của con cháu trong gia đình, họ hàng, làng xóm. Điếu văn trong tang lễ là lần cuối ghi nhận thân thế, sự nghiệp, công lao của người đã mất đối với gia đình, họ tộc và xã hội để con cháu luôn luôn ghi nhớ, mọi người biết.
Lễ yết cáo để tổ tiên biết có người mất về chầu tiên tổ.
Lễ phát dẫn, an táng (hạ huyệt) để hoàn tất chôn cất người đã mất.
Lễ tế ngu (3 ngày), lễ chung thất (50 ngày), lễ tốt khốc (100 ngày) là các lễ sau khi chôn cất.
Nơi an táng là nghĩa địa của địa phương hoặc của chi họ nơi người vừa khuất bóng. Phần mộ ghi rõ mộ chí (Ghi rõ tên tuổi người mất, ngày mất trên mộ chí) hàng năm người thân phải ra thăm viếng vào các ngày giỗ, tết để vun đắp mộ chí, tránh trường hợp sạt lở, mất bia, nấm.
Tùy theo phong tục địa phương, một số lễ nghi, thủ tục có thể giảm chước.
Người đời dạy: “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Việc tang gia là việc nghĩa sau cùng đối với người mất, là tình cảm tận hiếu đối với bậc con cháu, là chia sẻ đau thương của tình làng nghĩa xóm.
Khi trong chi, tộc họ có người qua đời, Hội đồng gia tộc và mọi người trong tộc họ có bổn phận phối hợp với cơ quan, đoàn thể, đơn vị, địa phương và gia đình tang chủ tổ chức phúng viếng, tiến hành tang lễ, an táng người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng bảo đảm chu đáo, trang trọng. Không bày vẽ, hình thức và thực hiện những hủ tục xưa cũ.
Tùy theo phong tục truyền thống và quy định của địa phương, nhưng yêu cầu việc tang ma trong dòng họ cần tuân thủ theo nếp sống văn hóa và đảm bảo hợp vệ sinh; không tổ chức ăn uống linh đình trong các lễ mai táng, lễ ba ngày, lễ năm mươi, lễ một trăm ngày.
Điều 13: Cải táng, di dời mồ mả.
Sau từ 3 đến 4 năm (nơi đất khô ráo cần lâu hơn) làm lễ Cải táng. Đó là việc đưa hài cốt người mất đem táng ở nơi khác. Cát táng hay cải táng phải chọn một ngày thích hợp, không nên xung khắc với người mất và thân chủ. Trước khi cát táng, cúng Thổ thần Thiên địa nơi đào mộ lên, rồi lại cúng Thổ thần Thiện địa nơi đem chôn cất hào cốt xuống. Khi hoàn tất cát táng, cần “thắp hương cáo khẩn” tại bàn thờ gia đình và chi họ để linh hồn người được di dời mồ mả và tổ tiên, ông bà biết.
Thực tiễn con cháu họ Nguyễn Bá ở khá tập trung thuộc 2 thôn Chu Quyến và Chu Châu, có phân tán ít nhiều, hiện nay địa phương đó có quy hoạch, nên mỗi chi họ nên có khu mộ để cải táng về một nơi để thuận tiện cho con cháu đi thăm viếng. Các bậc tiền bối, tổ thượng Hạ từ đời thứ 5 trở về trước dòng họ Họ Nguyễn Bá, theo các cụ truyền lại đều được mai táng ở khu đồng Đình, thuộc Thôn Chu Quyến, song phần lớn đều mất nấm, không xác định được triền, khi có điều kiện dòng họ ta nên quy tập về một khu mộ hoặc xây khu mộ tượng trưng để thờ cúng vong Linh tiên tổ.
Người xưa tâm niệm và giáo huấn: “Sống cái nhà, già cái mồ”. Mồ mả tổ tiên dòng họ, chi họ là nơi tôn nghiêm, bất khả xâm phạm; con cháu trong dòng họ, chi họ phải thường xuyên thăm viếng, trông nom, chăm sóc, bảo vệ.
Việc cất bốc mồ mả trong chi, họ tộc rất hệ trọng, mang yếu tố tâm linh, ảnh hưởng đến cuộc sống tinh thần. Thông thường là sau 3 đến 4 năm phải được cất bốc, tùy từng gia đình, có thể chọn ngày tiết trời phù hợp, không xung khắc với người mất và thân chủ để tiến hành cất bốc. Tuy nhiên tuyệt đối không cất bốc khi trong Chi họ có người vừa mất chưa đoạn tang (ngày đoạn tang là ngày sau ngày lễ “tốt khốc” 100 ngày) hoặc chậm hơn là sau ngày giỗ đầu (01 năm sau). Việc cất bốc, di dời mồ mả của tổ tiên dòng họ cần được tổ chức vào ban đêm, mọi thủ tục phải xong trước 6h sáng. Trừ trường hợp đặc biệt, người con trai trưởng hoặc thứ hoặc cháu hoặc là người anh em ruột của người mất phải trực tiếp thực hiện việc bốc xương cốt. Công việc này được mọi người trong chi họ tham gia, tộc họ Nguyễn Bá được thông báo tổ chức phúng viếng theo đúng nghi lễ tập tục địa phương.
Điều 14: Dựng vợ, gả chồng, cưới hỏi.
Mọi người nam, nữ dòng HỌ NGUYỄN BÁ đến tuổi trưởng thành đều có bổn phận, nghĩa vụ lập gia đình riêng nhằm bảo đảm sự phát triển, duy trì nòi giống dòng họ và dòng tộc.
Khi yêu, chọn vợ, chồng phải thực hiện theo Luật hôn nhân; trước khi có ý định xây dựng gia đình cần xem trong Gia phả HỌ NGUYỄN BÁ để tránh hôn nhân cùng huyết thống. Trong nội tộc không được kết duyên xây dựng vợ chồng cho dù cách xa nhau nhiều đời. Theo phong tục xưa nay của đại phương và dòng tộc Nguyễn Bá, còn nhận ra có quan hệ máu mủ, họ hàng thì không xây dựng gia đình vợ chồng với nhau.
Người chuẩn bị lập gia đình riêng có bổn phận đến nhà thờ chi, tộc họ làm lễ cáo trình tổ tiên về việc bản thân xin lập gia đình với người mình yêu và bày tỏ lời cầu mong tổ tiên phù trợ cho vợ chồng sức khỏe, sinh con đẻ cái, gia đình hòa thuận, đoàn kết, ấm no, hạnh phúc.
Việc tổ chức cưới cần tổ chức thật sự có ý nghĩa, trang trọng, vui vẻ, tiết kiệm, theo phong tục và quy định của địa phương, không quá khả năng tài chính làm ảnh hưởng cuộc sống sau đó.
Điều 15: Tân gia.
Khuyến khích mọi người trong họ tộc tích lũy tài chính để xây dựng gia đình mình căn nhà vững bền để an cư mà lạc nghiệp. Khi làm nhà mới nên báo cho anh em họ tộc biết để hỗ trỡ, giúp đỡ lẫn nhau. Khi hoàn thành nhà mới tổ chức nhẹ nhàng để chia vui với nhau.
Điều 16: Mừng thọ.
Người xưa dạy “Ngũ phúc thọ vi tiên”. Tuổi thọ là phúc đứng đầu trong năm phúc lớn của con người. Tùy theo điều kiện của mỗi gia đình và phong tục tập quán của địa phương mà gia đình cùng với Hội đồng gia tộc tổ chức mừng và chúc thọ cho những người cao tuổi từ 70, 80, 85, 90, 95, 100, thật sự chu đáo, trang trọng và tiết kiệm. Việc tổ chức mừng thọ cần thật sự có ý nghĩa giáo dục ý thức tôn trọng người cao tuổi, qua đó xác định bổn phận của người cao tuổi sống có ích, vui vẻ và gương mẫu để con cháu noi theo.
Điều 17: Thăm viếng.
Thăm hỏi, chia sẻ, giúp đỡ người đau ốm, bị hoạn nạn, khó khăn là việc đạo nghĩa, là sự biểu thị tình huyết thống, tình anh em của một chi họ, họ tộc. Tùy vào điều kiện mà thăm hỏi, giúp đỡ là lời an ủi, động viên, lời khuyên chân tình, cũng có thể là sự giúp đỡ vật chất, tài chính, hoàn lại hay không hoàn lại để người bị đau ốm có điều kiện chữa bệnh, người gặp hoạn nạn vượt qua được khó khăn. Hội đồng gia tộc, chi họ thông báo cho dòng họ biết và vận động hỗ trợ với những trường hợp đau ốm hoặc gặp tai họa lớn.
Chương 3: QUAN HỆ HỌ TỘC - XÃ HỘI.
Điều 18: Nếp sống của họ tộc.
Gia đình là nền tảng cơ bản của dòng họ, là tế bào của xã hội. Mỗi gia đình hòa thuận, tôn trọng và nhường nhịn nhau, chung sức chung lưng đắp xây hạnh phúc tốt đẹp thì cả dòng họ mới tốt đẹp.
Gia đình phải có gia phong: con cháu có bổn phận hiếu thảo, kính trọng ông bà, cha mẹ, người trên; ông bà, cha mẹ phải làm người tốt để con cháu noi theo; mọi thành viên trong gia đình chăm chỉ học hành, tích lũy kiến thức, siêng năng lao động, tinh thông nghề nghiệp; rèn luyện phẩm chất, đạo đức, tránh xa thói hư tật xấu. Mọi người luôn có ý thức: về nhà tuân thủ gia phong, ra xã hội tuân thủ pháp luật, “nước có quốc pháp nhà có gia phong”.
Anh em trong chi họ, họ tộc Nguyễn Bá phải biết tôn trọng, thương yêu, nhường nhịn, giúp đỡ nhau. “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, anh em cùng huyết thống dù trực hệ hay chi khác, nhánh khác đều là ruột thịt của nhau, phải đùm bọc, thương yêu nhau.
Dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào người họ Nguyễn Bá phải luôn giữ khuôn phép, từ tốn; cởi mở mà đứng đắn đoan trang, vui vẻ, khôi hài mà không sàm sỡ lỗ mãng; Yêu cầu kiên quyết nhưng không tỏ thái độ bức xúc, gay gắt, khùng nộ.
Người họ Nguyễn Bá có bản lĩnh, sống tự tin, lòng tự trọng nhưng biết lấy “chữ Nhẫn” làm đầu, tránh đụng độ vô ích. Trong điều ăn tiếng nói cần biết phép tuân theo ngôi thứ bậc trong chi tộc họ để xưng hô; kiêng kỵ việc xưng hô mày, tao chi tớ theo kiểu “cá mè một lứa”.
Điều 19. Hoà giải mâu thuẫn nội bộ dòng họ:
Tộc ước dòng họ Nguyễn Bá chủ trương khuyến khích, vận động mọi người trong dòng họ nếu gặp khi xẩy ra có tranh chấp, bất đồng chính kiến trong nội bộ dòng họ thì trước nhất mỗi người biết tự giác kiềm chế, không nói lời làm gây thêm sự nóng bức xúc, làm trầm trọng mối bất hoà trong nội bộ dòng họ. Khuyến khích các bên tự nhìn nhận đúng sai của chính mình, khuyến khích sự nhường nhịn giúp đỡ nhau, tôn trọng sự thỏa thuận hoà giải có tình, có lý của các bên. Khi hai bên không thống nhất quan điểm thì khuyến khích mời người có tâm đức, uy tín trong chi, tộc họ hoặc Hội đồng gia tộc làm trọng tài trung gian hoà giải mâu thuẫn tranh chấp. Không nên đưa khiếu kiện, giải quyết tranh chấp khiếu kiện việc nội bộ trong dòng họ bằng biện pháp ra công đường.
Điều 20: Tình làng nghĩa xóm.
Gia đình là tế bào của dòng tộc và cũng chính là tế bào của xã hội. Để có một tộc họ tốt, xã hội tốt thì trước hết phải xây dựng từng gia đình thật tốt.
Trong quan hệ xã hội phải tăng cường tình làng nghĩa xóm, luôn luôn gần gũi yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau khi tối lửa tắt đèn. Người đời dạy “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, trong cuộc sống hàng ngày sự quan tâm, giúp đỡ của láng giềng gần gũi, của bạn thân, của cộng đồng dân cư có ý nghĩa quan trọng, sâu nặng vì đó là những việc làm cần thiết, kịp thời, hiệu quả.
Mỗi thành viên trong gia đình là một người dân của đất nước. Cuộc sống của một con người không thể tách rời khỏi môi trường sống thiên nhiên và xã hội. Vì vậy, con người phải chịu sự chi phối bởi quy luật tự nhiên, ràng buộc bởi pháp luật của đất nước, quy định của cộng đồng.
Chương 4: XÂY DỰNG TRUYỀN THỐNG HỌ TỘC
Điều 21: Tình yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.
Tình yêu thương của ông bà, cha mẹ đối với con cháu là lẽ thường tình như nước trong nguồn chảy ra. Tình yêu thương không chỉ là nâng niu, chiều chuộng, mà việc lớn hơn, sâu nặng hơn đó là nuôi lớn khôn, dạy thành người.
Anh em ruột thịt “đạp đầu nhau mà ra” là huyết thống đậm đặc nhất, cùng chung cha mẹ, cùng sống trong một nhà, cùng vui, cùng buồn. Khi trưởng thành không phải mọi anh em ruột thịt đều thành đạt như nhau, vì cơ hội và sự nỗ lực của mọi người khác nhau “mỗi cây một loại hoa, mỗi nhà một hoàn cảnh”. Điều cơ bản là phải biết thương nhau, giúp đỡ nhau “em ngã chị nâng”, không tỵ hiềm, ganh đua, cay cú, tranh chấp đó mới là ruột thịt, đó mới là anh em.
Anh em dòng tộc là cùng chung huyết thống, cùng chung Thủy tổ, cùng chung cội nguồn. Anh em dòng tộc thương yêu, gần gũi quây quần nhau là biểu hiện nhớ ơn tổ tiên, bảo tồn tộc họ, có như thế thì “một giọt máu đào” mới hơn “ao nước lã”.
Điều 22: Đạo hiếu gia đình:
Gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng cơ bản của dòng họ. Gia đình hòa thuận, tôn trọng và nhường nhịn nhau, chung sức chung lòng đắp xây hạnh phúc tốt đẹp thì dòng họ mới tốt đẹp.
"Không tình yêu nào vĩ đại như tình yêu của mẹ. Không sự quan tâm nào to lớn bằng sự quan tâm của cha". Con cháu dòng họ Nguyễn Bá có bổn phận luôn giữ đạo hiếu thảo, kính trọng ông bà, cha mẹ, người trên; kính trọng người có phẩm hạnh đạo đức và tri thức.
Bổn phận của bậc làm cha mẹ phải biết hy sinh vì tương lai con cháu.
Bổn phận của các anh chị em là nhường nhịn giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ người gặp khó khăn hơn.
Sự quan tâm chăm sóc cho ông bà, cha mẹ là làm tấm gương sáng mẫu mực để giáo dục, thế hệ trẻ mai sau.
Dâu hiền, rể thảo, biết quan tâm chu đáo, bình đẳng nội ngoại hai bên.
Anh em, chồng vợ hoà thuận, sống bình đẳng, biết nhường nhịn, biết chờ đợi và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện tốt các tiêu chí nếp sống gia đình văn hoá.
Điều 23: Hiếu học, học giỏi.
Cổ nhân nói “Nhân bất học bất tri lý, ấu bất học bất thành nhân”, nghĩa là người không học thì không có lý trí, trẻ không học thì không nên người. Bậc cha mẹ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm cho con đi học.
Là con cháu họ Nguyễn Bá phải chăm học và cố gắng học giỏi. Chăm chỉ học tập, miệt mài học tập dù không thành vĩ nhân thì cũng thành người có nghề nghiệp, tự lập cuộc sống “có công mài sắt, có ngày nên kim”. Con người có học mới biết tạo ra cuộc sống và hưởng thụ cuộc sống, chất lượng cuộc sống đưọc nâng cao. Không tự ti, tự mãn trong học tập, thiếu ý trí phấn đấu vuốn lên dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Học tập và phấn đấu suốt đời.
Họ tộc xây dựng quỹ khuyến học để khuyến khích con cháu họ Nguyễn Bá chăm học, học giỏi. Phả tộc Nguyễn Bá ghi danh người học giỏi, đỗ đạt. Lập danh sách con cháu trên đại học và cứ 10 năm bổ sung vào danh sách trên đại học. Lập bia ghi tên người có tài cao, đức lớn tiêu biểu.
Điều 24: Giỏi tay nghề, cuộc sống ấm no.
Dù lao động chân tay hay lao động trí óc điều cốt lõi là phải có chí trau dồi, chuyên tâm, tìm tòi và phát huy mặt mạnh của mình “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.
Con cháu họ Nguyễn Bá, mỗi người tìm và chọn lấy một nghề làm ăn phù hợp với trình độ, sở thích, điều kiện của mình để xây dựng và tích lũy kinh tế cho mình và gia đình mình. Khuyến khích người ho Nguyễn Bá tạo lập doanh nghiệp, cơ sở dịch vụ tại quê hương, ở trong nước và nước ngoài để phát triển kinh tế, thu hút và sử dụng lao động của dòng họ, làng xóm, đất nước.
Họ tộc tôn vinh và ghi danh vào Phả tộc những người họ Nguyễn Bá có học hàm học vị, nghệ nhân, doanh nhân thành đạt, có tay nghề cao, làm kinh tế gia đình giỏi, thu nhập cao.
Chương 5: TÀI CHÍNH CỦA HỌ TỘC
Điều 25: Quỹ của họ tộc.
Mục đích xây dựng quỹ: chi các hoạt động của dòng họ: tu sửa, mua sắm nhà thờ Từ đường; quy tập, xây dựng, tu sửa khu mộ chi mộ tổ (nếu có) ở Thôn Chu Quyến; thăm hỏi người ốm nặng, bệnh tật hiểm nghèo, tai họa, khuyến học, khen thưởng.
Nguyên tắc huy động quỹ:
-Đóng góp bình quân theo đinh (con trai dương thế).
-Tự nguyện (con gái dương thế)
-Công đức theo hảo tâm.
Mức đóng góp bình quân: Hội đồng gia tộc căn cứ nhu cầu kinh phí hàng năm đề xuất mức huy động, Họ tộc quyết định vào ngày giỗ tổ 02/09 âm lịch hàng năm.
Hàng năm, vào ngày giỗ tổ, Ban tài chính có trách nhiệm báo cáo quyết toán chi tiêu tài chính năm trước và lập kế hoạch tài chính cho năm sau.
Chương 6: HIỆU LỰC THI HÀNH
Điều 26: Sửa đổi tộc ước, hiệu lực thi hành.
Tộc ước HỌ NGUYỄN BÁ bao gồm 06 chương, 26 điều, 14 trang đã được lấy ý kiến từ mỗi gia đình trong dòng tộc được các đại diện chi họ, các bậc cao niên, hội đồng gia tộc, Ban soạn thảo thảo luận trên cơ sở những phong tục, quy định, thực tế hoạt động của họ tộc xưa nay và họ tộc địa phương để hình thành nên bản Tộc ước này. Trong ngày Tế Tổ 02/09/2013, toàn thể con cháu HỌ NGUYỄN BÁ đồng tình, nhất trí thông qua và ban hành để thực hiện.
Khi có điểm nào, điều nào không phù hợp với thực tế, Hội đồng gia tộc tổ chức gặp mặt, thảo luận và thống nhất chỉnh sửa, bổ sung và thông qua theo điều 8 trên đây vào trước ngày tế tổ (02/09 âm lịch) hàng năm.
Việc thực hiện Tộc ước là ý thức hướng về Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, ý thức bảo tồn dòng tộc, ý thức xây dựng gia đình vững bền của mỗi thành viên họ tộc; là tâm nguyện của mỗi người con trước linh hồn Tổ tiên, là trách nhiệm với con cháu để duy trì nòi giống. Chúng ta có quyền tự hào vì có dòng tộc chưa hoàn tất được gia phả, làm sao họ nghĩ đến tộc ước, thì chúng ta đã làm thành công được bộ gia phả, tộc ước hoàn chỉnh - đó là niềm tin, sự hãnh diện, thể hiện sự văn minh của một dòng tộc, văn minh của nước Việt đang ngày càng đổi mới trên mọi phương diện.
Xin cúi đầu bái lạy Tổ tiên dòng họ, cầu mong tổ tiên phù trợ thức tỉnh mọi người con cháu phát tâm tự nguyện, đồng tâm, đồng thuận thi hành bản tộc ước này./.
Chu Minh, ngày 02/09/năm Quý Tỵ 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GIA TỘC


Nguyễn Bá Tăng
Gia Phả Nguyễn Bá Tiến
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc Nguyễn Bá Tiến.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc Nguyễn Bá Tiến
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.