Chi tiết gia đình
Là con của: Đăng Đàn
Đời thứ: 13
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
Cụ Bùi Xuân Nghi:
Cụ là con thứ cụ Đăng Đàn do cụ thứ thất sinh ra
Vì khó khăn về đời sống, cụ thân sinh và thân mẫu phải dời làng sang Đôn Lương buôn bán nhỏ, ở Đôn Lương làm ăn cũng không được thuận lợi nên 2 cụ đã phải đổi nơi ở mấy lần, tuy gia cảnh khó khăn nhưng 2 cụ quyết nuôi con ăn học nên người.
Năm 11, 12 tuổi cụ Đốc theo học chú ruột cụ Đăng Đài ở xã Thần Quy, huyện Phú Xuyên, cụ Đài làm thuốc ở đây.
Năm 13 tuổi, cụ lại theo học cụ Đồ họ Vũ ở làng Đại Kiều. Năm 14 tuổi cụ về quê Canh, ở với cụ Tổ cô ở thôn Hậu Ái (1835). Ngày ngày cùng bạn cắp sách đi học cụ đồ họ Lý Trần ở thôn Kim Hoàng
Năm 17 tuổi, cụ lại theo học cụ nguyên Giáo thụ phủ Tiên Hưng là cụ Lê Hoàng Đàm (cụ về hưu mở trường tư dạy học ở Hội Vũ Hà Nội).
Trong hoàn cảnh khó khăn, đi học các nơi có ngày đói, đêm đến thiếu dầu thắp phải bắt đom đóm thay đèn
Năm thứ 3 đời vua Thiệu Trị, cụ đã 22 tuổi, sau khi trúng 2 kỳ thi khảo sát, cụ được dự khóa thi Hương đầu tiên, lần đầu cụ đỗ Tú tài, cũng năm này cụ kết duyên với cụ bà là con gái thứ 2 Thày dạy học (cụ Lê Hoàng Đàm), cụ nhạc không có con trai, 3 năm sau cụ nhạc mất, cụ bà mở cửa hàng bán thuốc lào, trầu, cau ở Hàng Bông. Cụ ông bắt đầu dậy học tư, chưa bao lâu sau cụ bà thân mẫu ở Đôn Lương ốm, cụ vội về đón mẹ lên Hà Nội để trông nom thuốc men và phụng dưỡng mẹ già, không được bao lâu cụ thân mẫu mất, cụ vẫn dậy học và tiếp tục học thêm để thi nữa. Năm 27 tuổi cụ dự thi lại đỗ Tú tài.
Tới đây, được tin thâm phụ ở quê, đời sống thiếu thốn do anh cả gặp khó khăn không thể nuôi nổi bố, cụ liền đón thân phụ ra Hà Nội để phụng dưỡng.
Cụ ông vừa dậy vừa học, cụ bà bán hàng mà gia đình vẫn túng, con còn nhỏ, cụ bà lại hay yếu đau
Năm cụ 31 tuổi (1852) cụ lại dự thi lần thứ 3, lần này trong 3 bài đầu được điểm cao, bài thứ 4 hơi kém lại chỉ được đỗ tú tài, tuy nhiên tiếng tăm đã nổi trong hàng khoa mục
Năm 33 tuổi cụ thân sinh mất (1854), hồi này về kinh tế gia đình đã hơi khá hơn một chút
Năm 37 tuổi cụ lại đi thi, kỳ này lại bị phạm trường quy (bỏ sót 2 chữ đầu bài), lại phải đứng xuống tú tài, các Quan trường đều tiếc
Năm 38 tuổi, cụ mở trường dậy học, đông tới mấy trăm học trò
Năm 40 tuổi cụ lại đi thi, lần này hỏng ngay kỳ đầu
Năm 43 tuổi đi thi lại đỗ tú tài, như vậy trước sau là 5 lần đỗ tú tài
Năm 47 tuổi, năm Đinh mão (1867), đời vua Tự Đức thứ 20, cụ đỗ cử nhân thứ 2, tức Á nguyên, lần này nếu không gặp Quan trường phúc khảo là tay học rộng thì cụ lại chỉ đỗ tú tài và xếp thứ 2
Cụ cũng dự mấy kỳ thi hội nhưng không đỗ, tuy chỉ đỗ cử nhân, tiếng tăm cụ cũng đã nổi lắm, Quan án sát bản tỉnh Vũ Lập đón cụ về dậy học cho các con. Quan tổng đốc, tuần thủ bố chánh cũng cho con tới theo học cụ. Vốn học rộng, dậy giỏi và chăm, người lại có đạo đứcm không cầu cạnh việc gì nên các Quan bản tỉnh quý mến lắm. Có lần 1 chân Tri huyện khuyết, các Quan Tỉnh muốn cho cụ đi Tri huyện, cụ không nhận, vì cụ không ưa làm chính Quan, về sau chân giáo thụ phủ Thường Tín khuyết, quan trên cử cụ đi, cụ xin nhận.
Trong khi làm Giáo thụ phủ Thường, cụ được cử đi chấm sơ khảo khóa thi Hương, Quan chánh chủ khảo khoa thi này là quan Tỉnh, đỗ tiến sỹ, đầu bài thi do chủ khảo ra, nhưng kỳ này quan chánh chủ khảo mời cụ ra đầu bài thi, các vị đi chấm thi đều lấy làm ngạc nhiên, vì từ trước tới nay chưa hề có, thật là 1 điều vinh dự cho cụ. Ông Nguyễn Hữu Độ. lúc đó cũng làm Giáo thụ sau khi thi xong tìm đến chơi và kết bạn với cụ.
Ở phủ Thường, trong những buổi giảng bài, quan phủ thường sang nghe giảng, ông Phủ này người Nghệ An, đỗ thủ khoa là tay học giỏi. Một hôm giảng xong, ông đứng dậy nói trước mặt học trò: “ Quan giáo thụ giảng bài, không những học trò được nhiều điều bổ ích, ngay như tôi cũng được ôn tập lại”
Cụ tiến sỹ Dương Khuê, người Vân Đình không ngớt lời khen ngợi cụ: “Về văn sách, được lời thì hỏng ý, được ý thì hỏng lời, chỉ có văn sách của cụ Canh Đình được cả lời và ý”
Coi những lời phát biểu trên nhận thấy sức học của cụ Đốc ít người sánh kịp
Năm 1879, cụ 58 tuổi, chân đốc học Sơn Tây khuyết, thường ra các
Quan tỉnh phải đề cử 5 người đều là tiến sỹ để chọn, lần này cụ Trần Minh Tăng là nhà Đại khoa có tiếng giỏi cử cụ nhà ta xung chức ấy. Danh sách đề cử đệ vào kinh, vua Tự Đức xem xét và phê: “Người mà Trần Minh Tăng đề cử, tuy chỉ có cử nhân, tất phải là người có đủ sức đảm nhiệm chức ấy”. Thế là cụ được cử vào chức Đốc học Sơn Tây, tuy làm đốc học, năm nào cụ cũng phải khảo sát lại, năm nào cụ cũng được ưu hạng.
Trong khi đó thì giặc Pháp xâm chiếm miền Bắc, các Quan tỉnh cử cụ chống giữ cửa Tây, là 1 cửa trọng yếu, đương thời kỳ chuẩn bị cụ lại nhận được lịnh ở Huế đòi vào kinh tu thư
Biết tin cụ có lịnh gọi về Huế, 600 sỹ tử làm đơn xin lưu cụ lại vì tin phục cụ, song không được. Làm việc ở Huế ít lâu, cụ thấy yếu, đệ đơn xin về nghỉ hưu trí. Cũng là lúc nhà Nguyễn ký hòa ước với Pháp. Ông Nguyễn Hữu Độ được cử làm kinh lược Bắc Kỳ, các hàng Tổng đốc, tuần phủ tới lễ mừng đều bỏ giầy ngoài xa, đi chân đất tới lạy mừng trước mặt. Một hôm tình bạn cũ, cụ cùng con thứ hai tới mừng, ông Độ cùng mời ngồi sập bên và trò chuyện ít câu, một lúc sau ông nói: “ tôi với ông là bạn cũ, nay tôi có thể bổ ông đi làm tổng đốc cũng được, làm như thế người ta sẽ dị nghị, vậy ông hãy nhận tạm chức tuần phủ, sang năm sẽ đi tổng đốc cũng chưa muộn”
Cụ nhà ta đứng dậy nói: “ Chúng tôi già yếu, không đủ sức đảm nhiệm trọng trách ấy, xin quan kinh lược miễn cho”, ép mãi không được, ông Độ liền chỉ vào cụ con và bảo: “ông không nhận vậy tôi cho cậu này đi làm Tán tường quân vụ ngay”, cụ nhà ta lại từ chối, lấy cớ cháu còn ít tuổi, việc nước là việc lớn, e cháu làm lỡ việc của nhà nước. Chẳng hiểu ai dèm pha gì, một lần ông gập cụ Đốc, ông liền nói : tôi vì nước phải ra cáng đáng, không phải vì lợi riêng”
Tới khi ông Nguyễn Trọng Hợp làm kinh lược lại cho mời cụ Đốc đến làm thương biện tòa Kinh lược, cụ từ chối ngay
Làm Quan thì không làm, về lại dậy học tư ở bên Đình Bảng, sau ở quê nhà, trong khi đó biết bao nhiêu người cầu cạnh làm quan không được, có thể nói cụ nhà ta là một nhà nho đạo đức, cụ không muốn cho cả con cháu làm việc với giặc. Cũng vì có tiết tháo như vậy, trong hàng quan lại và khoa cử thời ấy đều biết tiếng cụ, hàng các cháu về sau vào chơi trong vùng quê ở Sơn Tây, Hà Đông cứ tự giới thiệu là cháu cụ Đốc Canh là được tiếp đãi rất tử tế.
Cụ sống rất đơn giản, ăn cũng như mặc, việc họ, việc làng, việc xã hội cụ rất tích cực tham gia, cụ thể như:
Cụ bỏ hàng trăm quan tiền để giúp đỡ dân công đi làm công việc tải lương. Nhà thờ Đại tôn bị mất, cụ bỏ hàng trăm quan tiền và hô hào trong họ góp tiền, góp sức xây dựng lại nhà thờ. Cụ bỏ hàng ngìn quan tiền để xây dựng nhà thờ Tiểu tôn, nhà Bái đường xây gạch lợp ngói do sự đóng góp của hàng các cụ đời thứ 15 về sau.
Cụ nhạc không có con trai, cụ bỏ tiền ra và hô hào đồng môn đóng góp, tu bổ sửa sang nhà thờ, đặt các giỗ, tứ thời bát triết đèn nhang, hương khói.
Cụ cúng ruộng vào nhà thờ Yên Thọ, cũng gần 100 quan tiền để tu sửa Đình làng
Tiền ở đâu ra, xin mời xem tiểu sử cụ bà sẽ rõ.
Mộ cụ để ở Mỏ Sẻ giáp hàng rào thôn An Trai, xây gạch có bia, hàng năm cụ Thuần bà (Bùi Thị Trang) vẫn về thăm. Khoảng năm 1972, khu ấy có người làm nhà và rào lại, nơi có mộ cụ đào rãnh dài. Năm sau về thăm không thấy đâu nữa, họ đem đi đâu hay vẫn để ở đấy không rõ. Trong vườn nhà mà họ rào lại cũng còn một số mộ khác.
Nông thôn ngày một mở mang, con cxháu không có ai ở nhà, nhất là mộ lại ở các thôn khác, có thông báo cũng không hay biết
Nhà thờ Tiểu tôn, trải qua bao nhiêu kỳ loạn vẫn còn nguyên vì có người trông coi. Nhà ở cụ Đốc ở Hàng Bông, năm 1873, tỉnh thành có loạn, gia đình chyạ về quê, khi quay về đồ đạc mất sạch, nhà thờ cụ có gần 100 câu đối hoành phi, năm loạn cờ đen bỏ đi lánh nạ, cờ đen phá, đun hàng 50 đôi câu đối. Năm 1954, nhà trưởng (Cụ Chánh hội Tiềm) bỏ đi Nam hết chẳng có coi sóc, đồ đạc, câu đối, đồ thờ mất hết.
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
Các anh em, dâu rể
- Đình Tấu (Nam)