Chi tiết gia đình
Là con của: LƯƠNG ĐỨC TRÍNH
Đời thứ: 7
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
VI.1.2.1- Quê :
Thôn Cốc Tràng 谷場 xã Chiến Thắng, thường gọi là làng Cốc 廊谷, cách làng Hương chừng 1,5 Km qua làng Hạ và một cánh đồng. Đây là thôn có từ xa xưa và nằm phía Đông Nam của xã. Cư dân ở đây gồm 17 họ nhưng đa phần là họ Phạm. So mặt bằng chung thì làng Cốc khá giả hơn và có cả người đi Lương lẫn người theo Đạo. Giữa 2 làng thì các họ Đào, Phạm, Lương nhiều nhà thông gia với nhau. Đây là làng cuối xã, có cả Chùa và Nhà Thờ và những năm 2000 là nơi có phong trào khuyến học khá.
VI.1.2.2- Họ Phạm:
Họ Phạm là một họ phổ biến ở Việt Nam. Đây cũng là một trong các họ của Trung Quốc. Theo “Nguyên Hà Tính Toản” và “Lộ Sử” thì gốc từ họ Lưu của Lưu Luy. Về sau do thăng trầm của thời cuộc sau con cháu nhận tên Đỗ 杜 làm tên họ rồi lại đổi thành họ Sĩ 士 rồi hậu duệ đổi họ Sĩ ra họ Phạm. Dòng họ Phạm 范 phát triển mạnh tại tỉnh Sơn Tây (TQ). Thuyết khác nói: có một ông quan nhà Thương không chịu thần phục nhà Chu (周,Zhou, 1122–256 tCn) đã lên một nơi núi cao rừng sâu, lấy gỗ rừng làm nhà cửa và phát hoang trồng trọt để lấy lương thực nuôi sống gia đình. Sau khi phát hoang trồng trọt và khơi nguồn nước từ núi cao để trồng trọt và sinh hoạt thì Sông Dĩ vốn cạn khô bỗng có đầy nước. Nhìn dòng sông , ông nói: “Dĩ Hữu Thuỷ” (已有水,Sông Dĩ đã có nước), rồi lấy 3 chấm thuỷ 氵đặt cạnh chữ Dĩ 已 trên có bộ thảo 艹, gọi là chữ Phạm 范 để đặt tên cho dòng họ của mình tách ra sinh sống tại đây. Bởi vậy ở Từ đường nếu viết 已有水 thì cũng có nghĩa như: 范族祠堂 “Phạm Tộc Từ Đường”.
Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam là Phạm Tu 范須 (476- 545), được truy phong là Long Biên hầu, đặt thuỵ là Đô Hồ, phong làm Bản cảnh thành hoàng.
Hiện nay ở xã Thanh Liệt có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu, đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực nằm ở xóm Vực, miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng thánh phụ Phạm Thiều và thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Viễn Tổ Phạm tộc Cốc Tràng là Phạm Ngũ Lão (范五老, 1255-1320) người làng Phù Ủng 扶擁, Đường Hào 唐豪, Hải Dương , một tướng tài và là con rể (chồng Anh Nguyên Quận chúa) của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Phạm Ngũ Lão lập công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (1285 và 1288), bốn lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao, hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành. Ông mất ngày 1 tháng 11 năm 1320, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 3 ngày. Ông được nhân dân dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ và cũng được phối thờ tại đền thờ Trần Hưng Đạo ở Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương.
Tổ khai sáng Phạm tộc Cốc Tràng là cụ Phạm Đình Khanh 范廷牼. Cụ là hậu duệ đời thứ 16, 17 của Phạm Ngũ Lão và là người con thứ tư của Thượng tổ Phạm Công Quý 范公貴. Cụ từ Đường Hào sang lập nghiệp ở Cốc Tràng, Cao Mật năm Bính Thân, 1716. Cụ mất ngày 09 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ nhất (Canh Thân, 1740). Đời sau suy tôn là Cụ Tổ họ Phạm ở đây 范皋密肇祖 . Xuân Canh Dần 2010 tiến hành Giỗ Tổ lần thứ 270 có đủ Tế, Lễ.
Trong phong trào chung, 12/3/2003 (10/2/Quý Mùi) đã khởi móng xây Nhà thờ Họ . Nền là do đất của các bà vợ ông Kiểm, Kiển cung tiến. Tiền do con cháu xa gần đóng góp theo xuất đinh, các cháu ngoại thì tuỳ tâm, chủ yếu tiền của vợ chồng PV Lãm. 27/Chạp Quý Mùi (01/2004) hoàn thành. Từ đường 3 gian xây, lợp ngói, cọt, xà đổ bê tông, đắp xi măng giả gỗ, có sân rộng, cạnh đường, phía trước có ao nên thế đẹp. Ngày 09 tháng Giêng Giáp Thân (19/2/2004) nhân giỗ Tổ kết hợp khánh thành từ đường .
Trưởng Chi Phạm gia tộc Đời thứ 13 là hậu duệ Cụ Tu (anh trai cụ Siêu). Nhưng thực ra vai trò đôí ngoại thường do do P.Như Hướng (Hấng) có bố là Thiêm , ông là Thỗn, cụ là Thiều, em gái là Đậng đảm trách. Vì là dòng trưởng (thế) nên tộc họ yêu cầu lấy vợ làm ruộng để ở nhà lo phần “hương khói”. Vợ là Nhỡ (người làng Hầu). Đi bộ đội CMCN. Thương binh phục viên về làm ở Nhà máy Khoá Việt-Tiệp. Năm 1998 nghỉ hưu tại quê. Có 3 con trai (Thưởng-Thủy, Thụy-Châu, Lũy).
VI.1.2.3- Cha mẹ:
Nhạc phụ Phạm Văn Nhạc (范文樂, 1888-1936) chiếu từ Đệ Nhất đại Tổ xuống là đời thứ 10: 1. Đình Khanh - 2. Đình Uân - 3. Đức Khôi - 4. Đức Hoành - 5. Đức Nghiệp - 6. Đức Toàn - 7. Huy Siêu (thứ hai trong 4 Nam) - 8. Huy Triệu (con cả trong 4 Nam) - 9. Huy Thiều (Nam duy nhất trong 3 người con) - 10. Văn Nhạc (là út trong 3 trai, 2 gái) . Như thế thuộc dòng trưởng ngành 2. Gia đình vào diện khá giả, kị 14/Chạp.
Cụ bà Đào Thị Thẩn (1885-1947), người làng Hạ, Kị 18/Chạp. Mộ cụ ông đặt tại nghĩa trang làng Cốc, còn mộ cụ bà lại đặt ở bên Hạ . Cả 2 mộ đã được xây lại, khắc bia vào năm 2006 (Bính Tuất).
Ông bà sinh 2 trai (Kiểm, Kiển) và 3 gái (Uyển, Ương, Tương).
Tương truyền nhà ở vào thế đất “nghịch” nên phải rước ông Bạch Hổ và Hắc Hổ về thờ phụng.
VI.1.2.4- Anh, em :
1. Phạm Văn Kiểm (范文檢, 1908-1991). Kị ngày 16/6, từng tự hoạ chân dung mình, đan lát giỏi. Hồi KC từng nuôi nhiều cán bộ trong nhà.Vì khá giả, được học hành nên có ý không trọng một số lãnh đạo thôn kém chữ, do đó hồi CCRĐ bị qui là Địa chủ, còn bị nhốt trên UB. Sau được minh oan nhưng ức, bất mãn, khoá hết sách vở lại và không tham gia công tác xã hội nữa . Ông lấy 2 vợ:
* Bà cả Đặng Thị Bè nổi tiếng căn cơ, sinh 2 gái là P.T. Bộn , P.T. Mọn . Vì không sinh trai nên bà tìm cách lấy vợ hai cho chồng. Nhưng bà đầu hơi đần không chịu ngủ với chồng nên lại tìm bà khác.
* Bà hai: Đặng Thị Huân, người làng Hầu, đã có chồng con , nhưng chồng mất. Chục năm đầu vẫn ở lại làng Hầu, sau chuyển về ở cả Cốc. Sinh P.V. Mót (Phạm Công Bình) và P.T. Bòn .
* Trưởng nam: Phạm Công Bình sinh ngày 5/01/1959. Tốt nghiệp Khoa Kinh tế tổ chức vận tải Ô tô, trường Đại học Giao Thông Vận Tải năm 1983. Vào nhận công tác tại Sở Giao thông vận tải Lâm Đồng, đến 1989 chuyển sang Xí nghiệp Đại lý vận tải ô tô, năm sau về Phòng Xây dựng giao thông TP Đà Lạt, đến 1994 chuyển ra Bến xe Nội thành sau đó lên Sở Giao thông Vận tải (1996 – 2000) rồi lại về Trường lái xe đến 2004 chuyển về là Phó Giám đốc Trường Kỹ thuật Đà Lạt. Gia đình ở Khu 4 thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vợ là ; được 1 gái (Phạm Thị Bảo Trâm) và 1 trai (Phạm Công Khang).
2. Phạm Văn Kiển (范文繭, 1918-1997). Kị ngày 22/6 . Ông nổi tiếng học giỏi và hay chữ nhất vùng.
Vợ là Trần Thị Chút (Sinh năm 1920).
Ông bà sinh 4 gái (Khiên, Nhiên, Nhiễn, Nhiện-trong đó P.T. Khiên nổi tiếng hát hay nhưng lại vất vả về đường chồng con) sau sinh tiếp 4 trai (Triển, Lãm, Lạm, Hởi). Không có ai xây dựng gia đình và lập nghiệp tại làng (Triển , Lãm ở Hải Phòng, Lạm , Hởi ở Lâm Đồng).
3. Phạm Thị Ương (范氏央, 1927-198?) Lấy ông Vũ Văn Miêu ở Văn Khê, cách làng Cốc 1, 5 Km qua một cánh đồng. Đây là làng có nhiều người theo Đạo và đã di cư vào Nam năm 1954. Nhà thờ cũ vẫn còn có tháp chuông cao từ cách xa vẫn thấy rõ. Ông bà đều mất do bệnh tật khi các con còn nhỏ. Có 2 gái, 3 trai (Loan, Ruệ, Sen, Chuân, Chi).
4. Phạm Thị Tương 范氏襄 sinh năm Tân Mùi, 1931. Thủa nhỏ ở với anh chị, thường gọi là Tí con, có được học hành, là người sắc sảo, khoẻ mạnh .
* Người chồng đầu là Lương Hoàn Nhâm ở thôn Hạ. Nhưng do vai vế thấp nên bà tự ái mà bỏ.
* Người chồng sau là Ngô Văn Trân ở Kim Trâm, Mỹ Đức, An Lão. NVT công tác bên ngành vật liệu. Ông bà sinh ra N.T. Lai, N.V. Quí, N.T. Hoà, N.V. Phúc. Từ khi sinh Hoà 2 người đã trục trặc nhau . Đến khi có Phúc thì căng hẳn, ông bà li dị, bà đưa các con về tá túc bên ngoại (làng Cốc). Đến tháng 6/1974 đưa Lai, Hoà, Phúc lên An Phong, Phong Niên cạnh nhà chị gái. N.V. Trân đưa Quí đi Hà Bắc ở nhà máy gạch gần Sen Hồ có thời gian chuyển vào Nam đến năm 1985 về hưu sống với người vợ hai và 3 con bà này tại Bắc Giang.
* Các con của P.T.Tương ở Phong Niên, Bảo Thắng, Lào Cai là:
Ngô Thị Lai : Từng là ĐV sau bỏ sinh hoạt, chồng là Lương Đức Tràng.
Ngô Thị Hoà: Học xong THPT, đi may Xuất khẩu ở Yên Bái. Khi tách tỉnh (1991) ở lại YB và lấy chồng là Thọ ở Cổ Phúc, Trấn Yên, Yên Bái. Năm 2004 ly dị về lại Lào Cai. Chưa con. Do phải mổ tắc ruột từ nhỏ nên sức khỏe yếu, ăn uống kiêng khem.
Ngô Văn Phúc: Học xong PT ở nhà lấy vợ (Vũ Thị Toan, em ruột Vũ Văn Hoàn , GVMG dạy ngay tại thôn). NVP nhanh nhẹn, công tác nhiệt tình nhưng không khéo cư xử mấy. Từ năm học 2002-2003 học tại chức ĐHNL tại Lào Cai. Sinh một trai (Đức), 1 gái (Phượng). KT tạm đủ. Năm 2003 kết nạp Đảng sau bao trục trặc. 2004 trúng HĐND xã và là Phó Chủ tịch UBND xã PN, có đóng góp nhiều cho sự phát triển của thôn trong những năm đầu Thế kỉ XXI.
VI.1.2.5- Phạm Thị Uyển:
范氏婉 Sinh năm năm Khải định thứ 9 (Giáp Tí-1924). Tuy có được học nhưng chậm lại bận bịu suốt ngày nên gần như mù chữ . Bà tính lành, nhường nhịn, có trách nhiệm với chồng con và gia tộc nhà chồng . Chính vì tính ham làm chịu khó nên tuy chống bận công tác suốt, ít tham gia việc đồng áng, con cái đông nhưng kinh tế cũng không đến nỗi. Sau khi chồng mất vẫn ở lại một mình trên nhà cũ, không lên Tx ở với con cái.
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
- LƯƠNG ĐỨC THÂN (Nam)
Các anh em, dâu rể
- Lương Thị Di (Nữ)
- Lương Thị Thị (Nữ)
- LƯƠNG ĐỨC DẬT (Nam)