Chi tiết gia đình

Là con của: LƯƠNG ĐỨC TRÍNH

Đời thứ: 7

Người trong gia đình

Tên
Lương Thị Thị (Nữ)
Ngày sinh
1914
Ngày mất
06/G
An táng
Khánh Địa, Sơn Hải, Bảo Thắng, Lào Cai

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

6.2.1- Cuộc đời : 梁氏巿 Sinh năm Giáp Dần, Duy Tân thứ 8 (1914). Tóc dài, mỗi lần gội đầu phải kê ghế để đứng chải tóc. Lớn lên trong khốn khó, khong được học hành, phải cùng mẹ bươn chải nuôi em từ nhỏ. Người đảm đang, có trách nhiệm với việc họ, việc làng, hơi “khó tính”, ít hợp với con cái . Vất vả đường chồng con. Năm 1962 từ Mĩ Đức, cùng gia đình con gái lên khai hoang ở Sơn Hải , ở Đội An Lão. Hoàn cảnh “mẹ goá con côi” nên dù có ở quê mới vẫn không mấy khá giả. Khi các gia đình ở Chiến Thắng, Mỹ Đức lên lập HTX An Phong bên Phong Niên đã tích cực giúp giống rau, ngô, sắn. Năm 1966 chuyển sang Phong Niên . Đến khi con rể (Phạm Bá Ruân) tái ngũ lại về Khánh Địa, Sơn Hải (khi ấy thuộc Nông trường Hà Nội) ở cùng con và cháu. Nông trường Phú Xuân đắp đập làm hồ nước dâng cao đường vào khó khăn. Khi con trai lấy vợ, ở riêng thì bà vẫn sống một mình. Thu nhập chủ yếu là rau và hoa quả trong vườn, có ít ruộng. Mất 5 giờ 30 sáng 06-Giêng, Nhâm Thân (Chủ nhật 9/02/1992) sau mấy tháng ốm dài. Hôm cúng 49 ngày có cả Sư thày từ Nam Hà lên làm lễ . Mộ táng tại Khánh Địa, Sơn Hải gần nhà con trai ở. Ngày 27/12/2007 (đêm 18 rạng 19/11 Đinh Hợi): gia đình thực hiện việc cải táng cho cháu Nguyễn Văn Toàn đã kết hợp chuyển Lương Thị Thị ra nghĩa địa chung của thôn. 6.2.2- Có 2 đời chồng : 6.2.2.1- Đời chồng trước : Người làng Yên Tử, Tiên Lãng, đi lính (làm tới Cai, tục gọi là Cai Tề) và chết trận ở Cao Bằng (kị 23/8). Do kinh tế khó khăn, hoàn cảnh xa quê nên họ mạc ở quê còn ai gia đình con cháu sau này cũng không biết được. Với ông này, bà sinh nhiều bận , đến trưởng thành còn 1 là Phường. Khi ông Cai Tề mất, LTT đem con về bên ngoại (Làng Hương) buôn bán với mẹ đẻ . Khi tái giá đem theo con gái về Lang Thượng . 6.2.2.2- Đời chống thứ hai : Ông người Lang Thượng, Mĩ Đức, An Lão, tên là Nguyễn Văn Khuể (Đườn) . Mất 27 tháng Giêng năm Ất Mùi (19/02/1955). Sinh nhiều nhưng lớn lên chỉ còn 1 nam là Tầu . 6.2.3. Các con: 6.2.3.1- Con gái: Nguyễn Thị Phường: Sinh năm 1945, có chồng là Phạm Bá Ruân, bộ đội phục viên người cùng làng. Năm 1962 lên Sơn Hải, Bảo Thắng. Đến 1967 P.V. Ruân tái ngũ và hi sinh năm 1969. Từ năm 1995 chuyển từ Khánh Địa ra An Tiến, Sơn Hải đến 11/2008 BCHTW Đoàn và xã tặng tiền xây nhà tình nghĩa. Được 6 con: +Mường (chồng là Lý Tài Nguyên, người Dáy ở Bản Cầm, Dược sĩ Đại học) có 1 trai (Trung-SN 1985), 2 gái (sinh đôi). Hai vợ chồng đều làm ở BV B.Thắng. +Miền: Hai đời chồng (1LS, 1 bỏ) được 2 gái, mẹ con ở Sơn Hải. +Tiến: Vợ là Ngạn, được 3 con ở Khánh Địa, Sơn Hải. Trước từng lái máy ủi ở Công trình tuyển quặng, sau nghỉ việc. Mất 22/9/2008 (23 tháng 8 Mậu Tý) sau một thời gian dài nằm viện do rối loạn chức năng gan. +Quân: mất năm 1991 do bệnh cột sống +Trường: Vợ là Tâm được 2 con ở Khánh Địa, Sơn Hải đã mất 1. +Vinh: Vợ là Hường được 1 trai, 1 gái, nhà ở Khánh Địa. 6.2.3.2- Con trai: Nguyễn Văn Thanh: * Nguyễn Văn Thanh, SN 1949, thủa nhỏ mọi người trêu là “ngố tầu” và thành tên là Tầu, lớn đổi là Thanh. Hồi nhỏ học kém. Do đó học đến lớp 4 là bỏ . Từng đi TNXP, Bộ đội nhưng chỉ làm lính. Tháng 12 năm1975, xuất ngũ về Nông trường Phú Xuân, khi NT giải tán làm ruộng tại Khánh Địa, Sơn Hải. Đông con, vụng tính nên cũng chật vật. Tốt bụng nhưng đôi lúc quá “vô tư”, hay “bốc”. Tháng 6/2000 cùng con đi khai thác đá thuê cho X 80 ở Sa Pa. Nổ mìn bị tai nạn bị gẫy 8 Xương sườn, điều trị mãi mới tạm ổn. Cùng ngày còn em vợ Thắng chết tại chỗ, Toàn bị chấn thương sọ não hết BV tỉnh đến BV Việt Đức, rồi về nằm tại BV huyện, cứ hôn mê thế rồi mất . * Vợ N.V.Thanh là Nguyễn Thị Đê, con ông Đa người Tiên Lãng vốn đã từng lên khai hoang ở Khánh Địa, Sơn Hải đến 1976 về lại quê. * Sinh 5 con, các cháu đều ít được học hành: +Thắng: đi BĐ đảo ngũ đã có vợ (Lan-con ông ở cùng Đội) được 3 gái, nhà ở Khánh Địa, Sơn Hải +Toàn: Vợ tên Thắm người thôn Lạng, Thái Niên (đối diện với Khánh Địa qua sông Hồng) đã có 1 con, sống ở Khánh Địa. Toàn tử nạn tháng 6/2000 để lại vợ và 1 con trai. Vợ Toàn tái giá và được 1 gái (sinh 2007). +Toản: Đi bộ đội, khi về lấy vợ tên là Nhận người Tuyên Quang, dân tộc Cao Lan. Ban đầu định lập nghiệp tại đó đến 2000 lại chuyển lên Khánh Địa.Tới 2004 lại về Tuyên Quang rồi 2007 lại quay về Khánh Địa. +Sen: Chồng là Gần. Được 2 con, sống ở Xuân Quang (cùng huyện Bảo Thắng). +Tuyến: vợ là Hợp, được 1 trai, nhà ở Khánh Địa.

Các anh em, dâu rể

Con cái

Không rõ