Chi tiết gia đình

Là con của: MẬU TÀI *

Đời thứ: 8

Người trong gia đình

Tên
MẬU QUẾ * (Nam)
Ngày sinh
1688
Ngày mất
Mồng 9 tháng 11.....(1762)

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

 

VIII- THẾ THỨ TÁM:

 

Ông Tổ Khảo:

MẬU QUẾ:

         

         

Thuần Tín công thần, Bố chính dinh ký lục Tấn dực hầu, tặng quan Tấn thận lộc Đại phu Chính trị thượng khanh, Lại bộ thương thơ Gia bình hầu Trần đoan hậu hiếu hưu, gia phong Dực Bảo trung hưng linh phò tôn thần, tên Mâu Quế.(1688-1762) Ngày kỵ: Mồng 9 tháng chạp….(1762)

 

Sự tích:

 

          Ngài sinh gặp ngày mồng 4 tháng chạp năm Mậu Thìn (1688) vua Anh Tôn nhà Lê, ngài bẩm tính thông minh hoà thuận, cùng với anh là Mậu Thọ du học, Ông Hàn lâm Giám Trang tiên sinh là thầy, Ngài chăm lo học tập, tiếng nói rừng nho. Khoa Mậu tí (1708) anh em đều đậu Nhiêu học ( Cử nhân), năm ấy ngài 21 tuổi, năm Vĩnh Thạnh thứ 9 nhà Lê (1714), vua Hiển Tôn bổ chức Huấn đạo thuộc cơ trung tượng, theo dinh chánh làm việc. Năm thứ 10 (1715) thăng Tri huyện, Huyện Quảng Điền ; Năm Bảo Hòa thứ 10 nhà Lê (1729) vua Túc Tôn thăng chức Tri phủ Phủ Gia Định. Lúc bấy  giờ nước Cao-Mên gây họa, ngài đánh dẹp có công, năm Vĩnh Khánh thứ 3 nhà Lê (1731) thăng chức Tri phủ Phủ Thăng Ba, vì cớ còn lão phụ ở nhà dâng sớ xin về nuôi. Năm Vĩnh Khánh thứ 5 nhà Lê (1733) cải bổ chức Tri phủ Phủ Triệu Phong (Thừa thiên) để tiện bề phụng dưỡng thân phụ. Năm Long Đức thứ 4 nhà Lê(1735) lựa vào Viện Hàn lâm, Năm vua Lê Vĩnh Hữu thứ 3 (1737) sắc thăng chức Trấn Biên dinh ký  lục, năm Lê Cành Hưng thứ nhất (1740) ông thân sinh ngài mất xin về tang, mới giáp năm gặp lúc bờ cõi có loạn, Vua Thế Tôn chỉ đòi điều khiển việc quân, sáy bảy năm  trời dẹp yên quân giặc, vừa thân mẫu ngài mất (1748) xin về để tang; Lại gặp Cao-Mên quấy rối chỉ triệu đánh ngót 23 năm tròn. Năm ngài 70 tuổi (1757) viện lệ xin về hưu, chưa đủ tháng, lại gặp Bố chánh hà biên có giặc; Năm vua Cảnh Hưng thứ 20 (1759) phụng sắc phong chức Bố chánh dinh ký lục, lập tức đem quân dẹp giặc. Giặc giã dẹp yên, ngày 9 tháng 11 năm Lê Cảnh Hưng thứ 23 (1762) mất ở dinh bố chánh. Làm quan 50 năm thọ 75 tuổi. Ngài mất,thầy tìm đất 3 năm không được, hốt nhiên đêm lại nằm thấy ông già cầm cái gậy quăng xuống đất mà bảo rằng :

- Cứ chỗ cái gậy này nằm theo hướng tây mà phân kim tức là hiệp đó.Tỉnh dậy còn nhớ lời mộng, đến chổ ấy lấy đất bói, quả được điềm lành bèn táng tại xứ Súc Nét, tọa Quý hướng Đinh kiêm Sửu Vị. mộ xây vôi, lập miếu thờ tại phe nhì. Năm Gia Long thứ 14 (1815) mong vua Thánh tổ Minh Mạng lập nhà thờ, thờ tại án tả nhì ; Năm Minh mạng thứ 2 (1821) mong truy thăng chức trên này ; năm thứ 18 (1837) gia ân mộ được xây lăng đồng niên cúng tế đều có quốc điền.

 

Con: Trai và gái:

         

 

---

Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình

Các anh em, dâu rể

Con cái