| Người trong gia đình |
| Tên |
ĐỖ HUY NHIÊU (Nam) |
|
| Tên thường |
|
| Tên Tự |
Phong Thục |
| Là con thứ |
2 |
| Ngày sinh |
Cụ sinh giờ Tuất 1/4/canh thân |
| Thụy hiệu |
|
|
| Ngày mất |
2 tháng 8 năm Kỷ Tỵ 1869 |
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
| 9 - 24. Tổ đời thứ 9 là: cụ Bản tổng cai tổng Đỗ thứ Công, tự là Phong Thục, thụy là Khiết Trực phủ quân, húy là Nhiêu, trước húy là Án, cụ là con thứ của cụ Học sĩ công, là em của cụ Tuần phủ công. Cụ sinh giờ Tuất ngày mồng một, tháng tư nhuận năm Canh Thân(1800), thủa nhỏ theo anh học, lớn lên lại theo đuổi nghề nông, tính ưa nhàn tản ẩn dật, giản dị giữ mình, thương người ngèo khổ. Năm Nhâm Thìn (1832) người anh bảo dựng nhà ở đây, tức 8 thước ở khu Bắc Tây phiên nhà đất của cụ Ngoại tổ để phụng thờ Ngoại tổ. Cần cù tích lũy, gia nghiệp dần dần giầu có lên, đất cát nhiều dần, nhưng về mặt sinh nở thì thật khó khan. Cụ nuôi một người con của ông anh là Thị An làm con. Đến năm Bính Thân(1836) thì sinh được một người con gái là Thị Bảy. Năm cụ gần tứ tuần, tưởng chỉ sinh được một người con gáy ấy mà thôi, nhưng đến vụ nước lụt năm Canh Tý, một chiếc bài vị của thôn Đại Duyệt trôi vào vườn nhà cụ, cụ vớt đặt lên bàn rồi khấn lễ cầu sinh con trai. Đến năm Tân Sửu thì sinh được người con trai đặt tên là Dư. Hai cụ ra sức cấy cày để nuôi con ăn học. Năm Tự Đức thứ hai (1849), mùa xuân, cụ lại làm Cai tổng bản tổng, thân tuy tham chính, mà tâm chỉ muốn vui với việc canh nông. Tháng 4 ngày mồng một năm Nhâm Tuất (1862), bà chánh thất tạ thế, mà con trai chưa thành gia thất, quan Biện Lý có câu đối viếng rằng: Gia thất vị thành, Dư tuế trưởng Điền viên thùy trợ, thúc niên cho. Tạm dịch: Gia thất chưa thành, Dư đã lớn. Ruộng vườn ai giúp, chú già nua. Năm Giáp Tý(1864), tháng 8, dựng năm giáp chính đường, hướng Đông. Cha thì cần kiệm, con thì cầy cấy học hành, gia tư dần dần khấm khá hơn trước. Năm Bính Dần(1866) cầu hôn cho con, đến năm Mậu Thìn (1888) thì sinh được đứa cháu đích tôn, công đặt tên là Quý.Ngày mồng 2 tháng 8 năm Kỷ Tỵ (1869), giờ Mão cụ mất, thọ 70 tuổi. Bấy giờ ruộng đất tổng cộng gồm 24 mẫu có lẻ, chưa kịp chia đều. Cụ di chúc cho Quan Biện lí lập chúc thư, đặt ruộng hương hỏa là 1 mẫu 3 sào 2 thước 2 tấc, cho riêng người con nuôi là Thị An 2 mẫu ruộng vườn. Hôm đưa ma, quan Biện lí làm đôi câu đối viếng rằng: Bất thương huynh chi liêm, thân tự lập thân cần thả kiệm Kí xử diệt hữu phận, tử giai kì tử ái nhí quân. Tạm dịch: Chẳng thương anh thanh liêm, có thân phải tự lập thân, đã cần lại kiệm Cư xử cháu có phận, con nào cũng là con vậy, quý cả chia đều. Còn lại cụ chia cho trai gái như nhau. Người con trai là cụ Dư được chia 10 mẫu 5 sào một thước, người con gái là cụ Bảy được chia 10 mẫu 8 thước 5 tấc. Mộ cụ trước kia chôn ở xứ Vườn Gội, nay cải táng về xứ Đồng Thôi, tiểu Mộc tinh, tọa Tốn hướng Càn (tức hướng Đông Nam-Tây Bắc) kiêm Thìn Tuất, ta đi thăm thấy bình an. Phía trước mộ là chữ Nhất làm án, phía sau là Thổ tinh làm gối, bên tả là Thổ tinh, bên hữu là Trường can mộc. Sau này con cháu không được thay đổi. Cụ bà hiển tỉ trước là chính thất của cụ cai tổng bản tổng Đỗ thứ công, là người họ Trần, hiệu là Từ Lương Nhụ Nhân (húy là Đoan), là con gái của cụ Trần Trọng Công tự là Hoằng Nhân, người xã An Hạ, là em gái của tú tài hai khoa Trần Đức Vịnh, cụ sinh giờ Tí, ngày 4 tháng 3 năm Tân Dậu(1801). Cụ là người tâm tính hiền lành, chất phác, sinh ra trong một gia đình danh gia, thế mà trong cư xử không ưa sự lòe loẹt, về với cha tôi, trước sau chung thủy. |
|
| Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình |
|