GIA

PHẢ

TỘC

NGUYỄN
VĂN
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ
PHẦN I

Nguyễn
Là tên họ phổ biến nhất của người Việt, khoảng 40% dân số Việt Nam mang họ này. Họ Nguyễn cũng xuất hiện tại Trung Quốc dù ít phổ biến hơn.
Có những dòng họ lớn có lịch sử lâu đời mang họ Nguyễn. Nhiều triều vua của Việt Nam mang họ này, như nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.

Độ phổ biến
Theo một số nghiên cứu, khoảng 40% người Việt có họ này.Ngoài Việt Nam, họ này cũng phổ biến ở những nơi có người Việt định cư. Tại Úc, họ này đứng thứ 7, là họ không bắt nguồn từ Anh phổ biến nhất. Tại Pháp, họ này đứng thứ 54. Tại Hoa Kỳ, họ Nguyễn được xếp hạng thứ 57 trong cuộc Điều tra Dân số năm 2000, nhảy một cách đột ngột từ vị trí thứ 229 năm 1990, và là họ gốc thuần Á châu phổ biến nhất. Tại Na Uy họ Nguyễn xếp hạng thứ 62[8] và tại Cộng hòa Séc nó dẫn đầu danh sách các họ người ngoại quốc.


Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều trường hợp và sự kiện mang nhiều người đến với họ Nguyễn.
Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ta đã giết rất nhiều con cháu của dòng họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.
Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu của họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc. Trong luật của triều đại nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng, và vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt.

Một số nhân vật nổi tiếng

Nguyễn Bặc: Công thần khai quốc nhà Đinh
Nguyễn Hiền: Trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử Việt Nam
Nguyễn Cảnh Chân: danh tướng chống quân Minh đời Hậu Trần
Nguyễn Cảnh Dị: danh tướng chống quân Minh đời Hậu Trần, con trai của Nguyễn Cảnh Chân
Nguyễn Trãi: Công thần khai quốc nhà Hậu Lê
Nguyễn Xí: Công thần khai quốc nhà Hậu Lê
Nguyễn Trực: Lưỡng quốc trạng nguyên
Nguyễn Nghiêu Tư: Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Quang Bật: Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Giản Thanh: Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Đức Lượng: Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Thiến, Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Kim, Công thần nhà Hậu Lê, cha của chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Ngoài.
Nguyễn Quyện, danh tướng nhà Mạc
Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn đầu tiên
Nguyễn Hy Quang, danh thần nhà Hậu Lê
Nguyễn Kỳ, Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Lượng Thái, Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Xuân Chính, Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Quốc Trinh, Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Đăng Đạo, Trạng nguyên Việt Nam
Nguyễn Hữu Nghiêm, Thám hoa, danh thần nhà Hậu Lê
Nguyễn Hữu Dật
Nguyễn Hữu Cảnh, quan của chúa Nguyễn, có công mở cõi miền Đông Nam Bộ, lập phủ Gia Định(Thành phố Hồ Chí Minh)
Nguyễn Huệ-Nguyễn Nhạc-Nguyễn Lữ (là 3 anh em nhà Tây Sơn)
Nguyễn Ánh tức vua Gia Long của nhà Nguyễn
Minh Mạng tức Nguyễn Phúc Đảm, là vị vua anh minh nhất của nhà Nguyễn
Nguyễn Du
Nguyễn Văn Thoại
Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Tri Phương
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Sinh Sắc thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nguyễn Sinh Cung (tên khai sinh của Hồ Chí Minh)
Nguyễn Khắc Hiếu
Nguyễn Thái Học
Nguyễn Văn Thiệu: Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
Nguyễn Cao Kỳ: Phó Tổng thống, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa.
Nguyễn Văn Cừ: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương.
Nguyễn Đức Cảnh: thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên
Nguyễn Xiển: Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam
Nguyễn Văn Linh: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Lương Bằng: Phó Chủ tịch nước Việt Nam
Nguyễn Sơn: Lưỡng quốc tướng quân
Nguyễn Chí Thanh: tướng lĩnh chính trị của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Nguyễn Hữu Thọ: Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
Nguyễn Duy Cống tức Đỗ Mười: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Văn An:Chủ tịch Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam.
Nguyễn Minh Triết: Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Nguyễn Tấn Dũng: Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam
Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam
Nguyễn Lân: Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, nhà biên soạn từ điển, Học giả nổi tiếng của Việt Nam.
Văn Cao tức Nguyễn Văn Cao: nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của Tiến quân ca, quốc ca của Việt Nam
Nguyễn Đình Chiểu: nhà thơ, nhà văn hóa trung đại
Tô Hoài : Tên khai sinh là Nguyễn Sen
Nguyễn Đình Thi: là một nhà văn và nhạc sĩ Việt Nam thời hiện đại.
Hoài Thanh và Hoài Chân: tức Nguyễn Đức Nguyên và Nguyễn Đức Phiên
Tố Hữu: tên thật là Nguyễn Kim Thành

PHẦN II
NGUỒN GỐC HỌ NGUYỄN VĂN
(Làng Kẻ Trảy, Tri Lễ, Sơn Tiến, Hương Sơn, Hà Tĩnh)

Riêng họ Nguyễn ta theo gia phả Đại Tộc thì có nguồn gốc từ Thanh Hóa nhưng không rõ huyện nào của tỉnh Thanh(?) Làng Kẻ Trảy thôn Tri Lễ xã Tuần Lễ nay gọi là Lệ Tiến_ Sơn Tiến_ Hương Sơn_ Hà Tĩnh. Trong đó có Nguyễn Văn ta theo từ Thanh Hóa vào Nghệ Tĩnh (tức là Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) đã cùng họ Nguyễn Khắc và quân lính đào hào đắp lũy quanh núi Thiên Nhẫn xây lục niên thành. Có thể họ đã đem vợ con vào vừa sản xuất khai hoang lập địa lương thực tự túc lập ấp xây làng chiến đấu lâu dài vì vậy mới có sự kiện dân làng Kẻ Trảy có ruộng ở Kẻ Bạ thuộc Nam Đàn_ Nghệ An. Từ xa xua để lại (?) nay dân làng ta vẫn sản xuất qua đời con cháu.

Qua sử liệu sưu tầm làng Kẻ Trảy do con cháu ông cụ Độ họ Nguyễn. Trong đó có ông Nguyễn Quyền và ông Nguyễn Văn Lường là bạn bè đồng hương theo Nguyễn Huệ từ Thanh Hóa vào trấn giữ ở Nghệ Tĩnh theo ông Nguyễn Mai (Sn 1920) kể lại địa danh Trạng Đình xưa có ngôi đình làng và cây đa Trạng Đình, một sử liệu chứng tỏ làng Kẻ Trảy có từ lâu. Thời Lê Lợi khởi nghĩa khoảng vào thế kỷ XVI thứ XVII (?) gì đó.

Họ Nguyễn ta lúc đầu định cư ở đâu không rõ nhưng theo lịch Triều Hiến chương loại chi của Ngô Gia Phái có đoạn nói rú Bằng . Theo ông Nguyễn Duyệt (con chau ông Đoàn Tuyên) nói rằng tổ tiên họ Nguyễn ta từ lâu theo Lê Lợi vào Nghệ Tĩnh đã ở Rú Bằng vì dòng dõi là con cháu nhà tướng lĩnh nên được thừa hưởng cánh đồng Kẻ Bạ đội cây trồi địa danh Nghệ An.

Theo gia phả đại tộc ông tổ Nguyễn Văn Lường là tì tướng của ông Nguyễn Hữu Chỉnh (tỳ tướng là phó tướng) về sau có sự bất đồng nên không theo ông Chỉnh vào Nam mà một lòng ở lại xứ Nghệ theo đường sông Lam, sông La về Ngàn Phố (Nguyễn Hữu Chỉnh là tướng giỏi về thủy quân nên có nhiều ghe thuyền) và dừng chân ở Cồn Bàng (chợ Cồn Bàng ở Sơn Thịnh) theo hói con lập làng rú (núi) Thó eo bồng Cầu Gôm sát địa phận Sơn Hòa , Thung, nhà Lau, đồng Cựa, mỏm rú (núi) Đụn…vv

Vào thế kỷ thứ XVIII (1790_1860 họ Nguyễn Văn ở làng Kẻ Trảy có 10 xóm lúc đó gọi là làng Tri Lễ xã Tuần Lễ tổng an ấp huyện Hương Sơn, phủ Đức Thọ_ Nghệ Tĩnh. Xưa kia chỉ gọi là họ Nguyễn không có tên lót. Ông tổ họ Nguyễn Văn ta mộ an táng tại Đạo Lường xà trú cầu Đọng hàng năm con cháu vẫn tạo mộ tham viêng. Đó là Ông Tổ Nguyễn Văn Lường (1790_1860). Từ đó đại tộc họ Nguyễn Văn ta sinh cơ lập nghiệp con cháu nối giõi kế thừa truyền thống đến bây giờ…//

PHẦN II
HỌ NGUYỄN VĂN TA QUA CÁC ĐỜI

Ông tổ họ nguyễn là Nguyễn Văn Lường theo sử liệu thì không nói rõ họ tên mà chỉ gọi là ông tổ. Nhưng theo ông Nguyễn Mai sinh năm 1920 thì ông tổ Tên Nguyễn Văn Lường (1790_1860) khoảng vào thế kỷ XVIII theo gia phả đại tôn ông quê ở Thanh Hóa không rõ xã, huyện nào? Ông đã làm quan thời Nguyễn Huệ cùng với ông Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Quyền được Nguyễn Huệ phân vào trấn giữ ở Nghệ An Hà Tĩnh khi có sự bất đồng gì đó với tướng Nguyễn Hữu Chỉnh nên ông không theo vào trong nam. Từ đó ông tổ Nguyễn Văn cũng có một ít ghe thuyền ngược theo dòng sông Lam, sông La về Ngàn Phố cùng con cháu đầu tiên dừng lại đất Văn (Thịnh Văn) Cồn Bàng nay là chợ Cồn Bàng và sau đó phát triển rộng ra sinh cơ lập nghiệp vùng lân cận.

Ông Nguyễn Văn Lường có 2 con:
1. Con Trưởng: Nguyễn Văn Cao (1810_1880)
2. Con Thứ: Nguyễn Văn Hoàn (1812_1882)
Gia phả không nói rõ đến vợ chắc mất sớm. Mộ Ông táng tại Đào Lường (xà Trú Cầu Đọng).
Gia Phả NGUYỄN VĂN
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc NGUYỄN VĂN.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc NGUYỄN VĂN
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.