Nói tới văn hoá Đại Việt mà một trong những khởi đầu là văn học thời Lý - Trần, với những tác phẩm có giá trị, ngay từ khi đất nước vừa mới Gianh được độc lập, tự chủ, đó là những tác giả và tác phẩm thời Bắc thuộc. Các tác phẩm và tác giả quá ít ỏi so với những thời kỳ sau đó, nhưng nó mang một dấu ấu riêng biệt, mở đầu cho nhiều thể loại văn học sau này. Một trong số những tác giả đó phải nhắc tới Khương Công Phụ. Khi nước Việt Nam ta còn bị nhà Đường ở phương Bắc đô hộ, đã có một người Việt Nam đỗ thủ khoa trong kỳ thi Hán học của nhà Đường, đó là Khương Công Phụ. Ông sinh năm 793 ở làng Sơn ơi, xã Cổ Hiển, tổng cốt Hải, huyện Yên Định (nay là làng Tường Vân, xã Định Thành, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hoá). Ông là một trong 8 vị cống sĩ xứ Giao Châu trúng tuyển, được cử đi thi Hội ở Tràng An (Trung Quốc), sau đó nhà Đường lại mở thêm khoa Chế, ông đỗ xuất sắc với bài "Đối trực ngôn cực gián" cùng với người em là Khương Công Phục mà đương thời cũng rất nổi tiếng, đã đem lại danh dự và uy tín cho người Việt ở phương Nam. Con người và tác phẩm của anh em họ Khương cũng đã được giới thiệu trong nhiều sách vở của Trung Quốc cũng như Việt Nam như: Từ điển văn hóa Việt Nam (phần Nhân vật chí) Nxb Văn hoá Thông tin, 1993; hay trong Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đồng Chí, hay trong Toàn Đường văn, Q.446.
Song về Cội nguồn, dòng họ thế thứ, nhất là hậu Duệ của hai cụ thì chưa có sách vở nào đề cập đến. Thật may, trong một chuyến đi điền dã về thôn Yên, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây chúng tôi được tiếp xúc với cuốn Gia Phả của dòng họ Khương Công Phụ, Làm anh trưởng tộc dòng họ Khương cung cấp. Trước hết, chúng tôi xin điểm qua tình hình văn bản:
Hiện tại, PHÁ GIÁ họ Khương không có một cuốn nào được lưu giữ ở Viện Hán Nôm, như chúng tôi được biết đây là cuốn Phả có quy mô nhất, dầy dặn nhất. Trong dân gian cũng có một vài cuốn, nhưng chúng tôi thấy chúng về nội dung đều chép một phần từ cuốn này phá.
Đây là cuốn gia Phả viết bằng chữ Hán xen Nôm. Chữ viết rất đẹp đến, rõ ràng trên giấy dó khổ 17 x 25cm, dày 70 trang, mỗi trang khoảng 150 chữ.
Về nội dung:
Vì đây là cuốn gia Phả rất dày nên chúng tôi chỉ xin điểm qua phần ghi thế thứ.
- Cụ thể đời thứ 1: Khương quý công, tự là Chính Tâm, hiệu là Phúc Tùng; cùng cụ bà.
- Cụ tổ đời thứ 2: Thượng tướng quân kiêm Trị thuỷ bộ, được phong tặng Quốc tổng quốc chính Đại tướng quân, Thiếu bảo Quận công, Khương công tướng, tự Vũ Nghị, thụy Khánh Thì Nhậm; cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 3: Khương quý công, tự là Phúc Cương; cùng cụ bà.
- Cụ tổ đời thứ 4: Trước là Quan viên tôn, Hiệu sinh bản phủ Khương quý công tự là Đức Vĩnh, hiệu là Huyền Chân; cùng cụ bà.
- Cụ tổ đời thứ 5: Khương quý công, tự là Đức Thịnh, hiệu Phúc Tiên, trước làm Thập lý hầu, cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 6: Khương quý công, tự là Đức Quý, hiệu là Phúc Hảo, trước làm Thập lý hầu, cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 7 Khương quý công, tự là Đắc Danh, hiệu là Phúc Đạt; cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 8 Khương quý công tự Nhạc Như, hiệu là Phúc Thọ; cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 10 Khương quý công tự là Đức Thiện, hiệu là Phúc Thái; cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 11 Khương quý công tự là Thanh Lãng, hiệu là Đôn Lương; cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 12 Khương quý công tự là Thanh Thứ, hiệu là Bái Từ; cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 13 Khương Thế Lợi, hiệu là Phúc Cần; cùng bà cụ.
- Cụ tổ đời thứ 14 Khương Văn Chế; cùng cụ bà ...
Và tiếp sau đó cuốn Phả ghi tên tuổi, ngày giờ, cùng phần mộ của 140 cụ ông, cụ bà.
Gia Phả ghi tiếp 1 chi tại thôn Chàng bắt đầu từ cụ Nguyễn quý công tự là Đức An, hiệu là Phúc Hưng, là con thứ của cụ Quảng Phúc (cụ phân chi này từ cụ con thứ hai của cụ Quảng Phúc, lấy bà họ Nguyễn, rồi đổi theo họ vợ), chi này ghi tiếp tên tuổi, ngày giờ, phần mộ của 60 cụ ông cụ bà họ Nguyễn, hiện nay con cháu vẫn còn sống tại thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, con cháu nay mang họ kép là Nguyễn Khương.
Mở đầu là lời tựa của gia Phả ghi ngày tốt tháng 3 năm nhuận niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1899), khẳng định: Muôn vật đều có gốc và giới thiệu nguồn gốc dòng họ Khương từ cụ Khương Văn Đĩnh làm Huyện thừa Tiến sĩ, cụ sinh ra Khương Công Phụ - Trạng nguyên và Khương Công Phục - Tiến sĩ.
Và bài thơ Tam giáp đồng Tiến sĩ Tổng hợp đốc Biện tá Thái học sĩ, chí sĩ Nguyễn Văn Bân người xã Hữu Bằng bái Vịnh và khảo cứu về truyện Khương Công Phụ.
Nam hiền Bắc Khải dụng tiền đồ
Yên Định xuất giang sơn tướng nho
Bá trọng cao khoa tiên nhị Tống
Văn chương đại nhã tự tam Tô
Khương gia chi phái truyền tư ấp
Đường Tể Huân danh diệu BỊ TRẮC
Trung hiếu thần tiên thiên cổ tại
Dục tương tân bút thành đồ hoạ.
Chúng tôi tạm dịch:
Người tài ở phương Nam được tin dùng phương Bắc
Nơi đất Yên Định, sông núi xuất hiện tướng nho.
Anh em đỗ đạt cao trước cả hai ông họ Tống,
Văn chương nho nhã tựa ba ông họ Tô.
Chi phái họ Khương nay vẫn truyền lại ở ấp ấy,
Tể tướng nhà Đường công danh sáng rực kinh đô cả [nhà Đường].
Trung hiếu thần tiên ngàn năm vẫn còn đó,
Muốn đem ngọn bút mới tả lại công nghiệp tổ tiên.
Sau đó, Pha ghi toàn văn bài "Bạch vân chiếu xuân hải phú", của Khương Công Phụ. Đây là bài phú được giới nghiên cứu văn học sử, có người đánh giá là một tác phẩm mở đầu của nền văn học chữ Hán Việt Nam, và là bài sớm nhất trong các bài phú hiện còn của nước ta. Bài phú hiện còn 318 chữ, lấy các từ "không", "bích", "tiên", "kính", "hải", "xuân" làm vần. Bài phú đã ca ngợi sự kết hợp giữa mây và biển với vai trò chủ thể của người con, mây trắng tượng trưng cho sự trong sạch thanh cao của trời đất, biển xanh tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên một cách sống động hùng vĩ , như bài phú đã diễn tả:
"... Chim Liềng rộn ràng,
Cá bơi đúng đỉnh,
Vật nào cũng vậy: Hội dạ hởi lòng.
Thoả tình thoả thích...".
Trong cuốn gia Phả có câu nói "An Nam duy nhất Khương thị" (nước Nam chỉ có một họ Khương) cho nên 18 chi phái họ Khương phân bố cả nước trong thời bây giờ đều được ghi rõ ràng ra sau đây:
Cụ thuỷ tổ Tiến sĩ Khương Công Đĩnh - người xã Sơn oi - Cửu Chân, huyện Yên Định, con trưởng là Khương Công Phụ, con thứ là Khương Công Phục, người xã Cẩm Cừu, tổng Hải cốt.
* Một chi ở xã Cẩm Dũng, tổng Bút Sơn, huyện Hoằng Hoá.
* Một chi ở thôn Yên, xã Quân Yên, huyện Yên Định.
* Một chi ở xã Doanh Xá, tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phân chi ở xã Cẩm Dung.
* Một chi ở xã Phù Dực, tổng Bút Sơn, huyện Hoằng Hoá. Có nhà từ đường của cụ Khương Công Phụ.
* Một chi ở huyện Dương Lôi, có Khương Bá Đĩnh trước làm Huấn đạo ở huyện Bát Bất.
* Một chi ở thôn Yên, xã Thạch Xá, tổng Thạch Xá, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây.
* Một chi Chàng ở thôn, bản thuộc xã, phân chi này là con trai thứ 2 của cụ Quảng Phúc, theo họ vợ nên đổi thành họ Nguyễn.
* Một chi ở xã Hải Lãng, huyện Đại Yên; phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là chi của cụ Phụ quốc Đại tướng quân Khương Văn Tĩnh, Lê Triệu.
* Một chi ở xã Đôn Thư, tổng Kim Chu, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Nội.
* Một chi ở thôn Tuấn Dị, huyện Gia Lâm; phủ Thuận Thiên, tỉnh Bắc Ninh [Hưng Yên].
* Một chi ở thôn Tam Dị, huyện Gia Lâm; phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
* Một chi ở thôn Tân Thượng; tổng Xuân Cầu, tỉnh Hưng Yên là chi của Cử nhân Khương Văn Định - Triệu Nguyễn niên hiệu Đồng Khánh.
* Một chi tại xã Văn Ấp tỉnh Thái Bình.
* Một chi Quyết tại thôn Sơn Hạ, tổng ... huyện Chương Mỹ.
* Một chi tại xã Tòng Lệnh, huyện Bất Bát, tỉnh Sơn Tây.
* Một chi tại xã Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương: Hoàng giáp Khương Thế Hiền Triều Lê.
* Một chi tại xã Tràng Lạt; phủ Nghĩa Hưng [tỉnh Thái Bình].
Do vậy, các chi họ Khương ở rải rác khắp nơi, có thể căn cứ vào đây để có thể tìm về Cội nguồn. Đọc đến đây! Trong phần này sau phần mộ của một số cụ có những bài thơ viết cách đặt mồ mả, nơi an táng bằng chữ Hán và chữ Nôm có quan hệ đến địa lý phong thuỷ và tôn giáo, phản ánh quan niệm của người xưa, có những bài thơ phản ánh ước mơ, ca ngợi tuổi thọ và cuộc sống hạnh phúc ở nông thôn xưa.
Chúng tôi chỉ đơn cử đôi ba bài. Cụ tổ đời thứ nhất Khương quý công hiệu Phúc Tùng mất, hợp táng với cụ bà, có bài thơ chữ Hán.
Thượng tổ quân gia Phách biến thần
Sơn căn tư tưởng phần bài hát mộ
Kim lôi pháp tống dư tặc binh
Vạn sự bình ninh vượng nhân vật
Hương hoả thiên thu tồn chính cựu
Căn bản vạn có làm như tân
Nhất phiên Uông khởi danh lưu hậu
Khuyến quân tu yếu hữu niên xuân.
Tạm dịch:
"Đức Thượng có nhà ông hồn Phách đã hoá thần,
Nơi chân núi suy ngẫm về hai ngôi mộ bên nhau.
Phép kim lôi đã quét sạch binh giác,
Muôn việc bình yên, người và vật đều thịnh vượng.
Hương lửa nghìn năm vẫn tồn tại chính khí,
Gốc rễ muôn đời lâm liệt như mới.
Một lần để tiếng Tăm lại mai sau,
Ong khuyên hãy giữ lại mùa xuân mãi mãi.
Lại có bài thơ Nôm Đường luật của một vị trong họ là Khương Miên làm lễ phổ độ cho tổ chi vào năm Đinh Mao:
"Căn bản vốn nhà ta hãy còn
Còn trời còn nước, còn không phải
Cũng nên mở mặt cùng vua chúa
Không lẽ ôm trăng mấy bố con
Vui mấy câu không ai đắp khéo
Chơi cùng nước biết cảnh không mòn,
Gặp buổi hội này còn thực hỏi,
Trăng còn chưa tỏ truyền cùng con ".
Hoặc bài thơ Lục bát ca ngợi cảnh vui thú của nhà nho.
"... Bút mây ghi lại Nho hào,
Vi mộ tổ tiên mà ngao hỡi tình.
Biết bao lá rụng chi là chiết cành,
Bây giờ mới tỏ tâm tình hư thực,
Cũng là địa vận thiên cơ,
Lòng tràn đến nỗi chân ngư đó mà.
Xét trong thử mộ nhà ta...".
Đặc biệt trong cuốn này Phả có nhiều đoạn thơ giáng bút, ca ngợi họ Khương có nhiều người tài giỏi phù giúp vua Đường, mang lại vẻ vang cho họ Khương và dân tộc. Trong phần như có chép; Khương tướng công giám Hữu làm đàn có nói: "Ta đã ở đây 3, 4 năm muốn có người biết chữ để cùng chuyện thơ văn, là hận không có lấy một người để trò chuyện Nay có quan. Tổng hợp đốc người Hữu Bằng có thể thuật rõ họ tên, công nghiệp của ta Nay ta. hoạ một bài thơ để đáp lại tấm thịnh tình của ông ta, giao cho môn sinh là Minh Tĩnh, theo ý nguyện của ta mà sửa chữa " .
Thơ rằng:
Thuỳ nhân vi ngã thức Khương danh
Hạnh hữu phát minh công bằng thử
Phủ Bỉ hy Triều quân thịnh hội
Tiền tướng Bắc quốc ngã thời Đinh
Đường Ngũ phục kiến quang nhật thiên
Chu tử văn nhân mãn ngọc đình
Bà con thử nhân đồng nhất dạng
Duy quân dữ ngã tư hữu thành.
Tạm dịch:
"Ai là người vì ta mà biết được tiếng Tăm họ Khương
Có thể minh công là người có tấm lòng ấy.
Phò giúp cho đời thịnh trị nhà Đường, có vua giỏi
Là người nước ta làm tướng phương Bắc
Lại thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ đời Nghiêu Thuận.
Từng nghe người mặc áo đỏ, áo tía ở đầy trong hiên
Tôi cùng ông đều mặc áo đội mũ làm quan
Chỉ có tôi và ông là cùng một tấm lòng ".
Ở nước ta có những dòng họ rất lớn, gọi là vọng tộc với nhiều danh nhân như họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần ... Sách vở đã đề cập nhiều, nhưng còn họ Khương ở nước ta, sách vở đề cập đến còn quá ít, nên ít người biết tới. Chúng tôi giới thiệu cuốn gia Phả này hy vọng có thể góp phần nhỏ bù vào những chỗ trống hãy còn ít bàn đến, để làm tài liệu cho giới nghiên cứu tham khảo. Tìm hiểu gia Phả họ Khương, một dòng họ nhỏ và đã sản sinh ra danh nhân Khương Công Phụ, một tác gia Hán học ít ỏi thời Bắc thuộc mà cuốn Gia Phả họ Khương này đã cung cấp tư liệu từ thời Bắc thuộc, xưa hơn thời Lý, Trần, Lê. Hẳn đó là một cuốn gia Phả đáng được chúng ta lưu ý.