1/ Về họ Nguyễn: - Sau thời Ngô Vương Quyền ( 939-944)là thời của 12 sứ quân cát cứ, trấn giữ các vùng (945-968)... Trong 12 vị đó có 3 ông họ Nguyễn, đó là: 1. Nguyễn Khoan ( Nguyễn Thái công), trấn giữ vùng Tam đới - Vĩnh Tường 2. Nguyễn Thủ Tiệp (Nguyễn Lịnh công), trấn giữ vùng tiêu du - Bắc Ninh 3. Nguyễn Siêu ( Nguyễn Hữu công, trấn giữ vùng Tây Phù Liệt - Thanh Trì-Hà Đông Cả 3 ông này đều nghe theo lời Định Quốc công Nguyễn Bặc ( Chức Thái Tể dưới triều Đinh Tiên Hoàng) mà giúp cho Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh thông nhất giang sơn, lập thành nghiệp đế nhà Đinh vào năm Mậu Thìn (968) với Quốc hiệu là Đại Cồ Việt...
- Đời Trần Thái Tông, năm Nhâm Thìn (1232), sau khi đã đoạt ngôi nhá Lý, Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ lấy lý do tổ nhà Trần tên là Lý, đã bắt tất cả những người họ Lý (dòng họ của vua vừa bị thoái vị) sống trong lãnh thổ Đại Việt, phải đổi làm họ Nguyễn ...
- Họ Nguyễn đến Giao Châu từ khi nào....??? Tấn Vũ đế Tư Mã Viêm, sau khi lật đỗ nhà Nguỵ của họ Tào, thu phục Tây Thục với Đông Ngô và làm Hoàng Đế Trung Hoa. Vị Hoàng đế này rất mến danh sĩ Nguyễn Tịch (là một trong bảy hiền sĩ phái Trúc Lâm ) và muốn kết thông gia với ông ta. Ngài Nguyễn Tịch không chịu và hậu quả là con cháu của ngài phải đi đến vùng Lĩnh Nam xa xôi... làm thứ sử và ông ta đã sống và lập nghiệp tại mãnh đất này, con cháu của ông có trước tác cuốn "Giao Châu địa dư chí" nhưng không rỏ thất lạc khi nào và ở đâu...
2/ Nguồn gốc tộc Nguyễn Đức Họ Nguyễn của chúng ta từ tỉnh Nghệ An vào ở tại làng Chánh Hội, Cát Chánh, Phù Cát, Bình Định, dùng chữ ĐỨC làm chữ lót và lưu truyền mãi mãi cho con cháu đời sau phải giữ lấy, hầu tránh sự nhầm lẫn dòng tộc nếu có sự thất lạc.
Hai Ông Bà (không nhớ tên) vào ở nơi đây đã sinh hạ 5 người con trai và 2 người con gái. Sau đó 3 người con trai lớn di dời qua ở tại xứ Ô Phi, tức thôn Chánh Đạo,xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định bây giờ. còn 2 người con trai nhỏ và 2 người con gái ở tại Chánh Hội, Phù Cát. Từ đó đến nay đã gần 11 đời. Trong quá trình tiến hoá hoà nhịp với cuộc sống, 5 người con trai này đã đủ tách thành 5 chi, để cho con cháu tiện việc lo ngày giỗ cúng, mồ mã, giảm sự đi lại xa xôi. Tuy nhiên tộc của chúng ta cũng đặt ra ngày hiệp tiếu cứ 8 năm thì cả họ (5 chi) đều tập họp đông đủ tại từ đường để cúng tế tổ tiên. Nhưng sau năm 1945 chiến tranh bùng nổ và kéo dài 30 năm lưu lạc kẻ Nam người Bắc, cái lệ hiệp tiếu cũng bỏ qua luôn.
Nói qua 5 người con trai chia thành 5 chi và sau này trở thành 5 phái: - Phái I con trai trưởng tức là phái của chúng ta. - Phái II con trai thứ 2 tức phái nhà Tào,Tồ ở Đồng Mét, Cát Tường, Mỹ Thọ, Phù Mỹ, Bình Định - Phái III con trai thứ 3 tức nhà ông thầy Bốn, ông Bồng(giờ là ông Năm Hiến ở Chánh Đạo) - Phái IV và Phái V là hai người con trai út ở Chánh Hội, Cát Chánh, Phù Cát, Bình Định.
Hiện tại Phái II đã xây Từ Đường ở Đồng Mét, Cát Tường. Phái III đã xây Từ Đường ở Chánh Đạo để lo phụng sự cho từng phái.
Mặc dù chia thành 5 phái, tuy nhiên cũng từ một ông tổ ở ngoài Bắc và lấy chữ ĐỨC làm chữ lót
|