Phả ký gia sử

I. LƯỢC SỬ PHẠM TỘC - QUẢNG TỪ.

    Nguồn gốc từ xa xưa các bậc Tiền Nhân, Cao Cố, Tổ Tiên họ Phạm đã ở làng Khang Dụ nay thuộc xã Yên Phong, huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình.Đến giữa thế kỷ XVII, ông bà cụ tổ di cư đến ở cánh đồng Lái Bầu(Trại Đông Quảng Từ) bên sông Phương và sông Vạc, ven con đê Hồng Đức để sinh cơ lập nghiệp, chủ yếu là làm ruộng. Khi con cháu phát triển đông thì dãn dần lên ở trên làng trong con đê Hồng Đức (đê Hồng Đức - con đê lấn biển dắp năm 1475). Sau năm 1943, Việc đào vét sông Phương để vận chuyển chiến lược vào Thanh Hóa, khúc sông này được nắn thẳng cắt cánh đồng đó về phía nam giáp thôn Trung Đồng, xã Yên Nhân cho nên mãi đến sau năm 1945 các gia đình họ Phạm mới di chuyển hết lên ở trên làng Quảng Từ trong con đê Hồng Đức; năm 1967 mộ Tiền Nhân các gia đình để ở cánh đồng đó cũng được bốc hết về sau làng. Riêng phần mộ Tổ và mộ các Tiền nhân đứng đầu bốn chi, từ trước đã được để ở gò Giới và gò Lão giáp thôn Xuân Đồng (Yên Từ) còn để nguyên vẹn ở các gò đó, đặc biệt mộ Tổ ở gò Giới để song huyệt (1750) đã được Họ xây tháng 12-1999. Phần nhà thờ đại tôn là nhà thờ hợp tộc công đồng của bốn đại chi, được xây đựng trên mảnh đất gần một sào, thời kỳ Hoàng triều Bảo Đại lục niên (1930-1931) trên thượng lương ghi bằng chữ nho còn đậm nét rõ ràng, do cố Trần Thị Hùy là vợ cố Phạm Văn Thể, là con dâu hàng thứ tư phân chi thứ bốn, chi một cúng cho Tổ Tiên toàn họ được ghi gia phả lưu truyền (cố Thể mất trước khi chưa có nhà thờ họ).Năm 1947 Họ tổ chức thành nhà thờ hợp tộc cộng đồng, dùng linh xa dước bát hương cùng đồ thờ tự gia tiên các gia đình về nhà thờ đại tôn, xuân thu nhị kỳ chọn ngày tháng giêng, tháng tám đôi mươi , cộng đồng cúng giỗ tộc người cõi âm, thanh minh lễ tết ngày rằm các hệ con cháu hương đăng tổ đường. Từ năm 1994 ngày 27 tháng 7 (ngày thương binh liệt sỹ) nhớ thương các hệ con cháu lễ đường viếng thăm dâng hương tưởng niệm mười bốn anh hùng liệt sĩ của Họ đã được tôn vinh định vị tại đây. Trải quan thăng trầm về thời gian và chiến tranh chống Pháp, cánh cửa và đồ thờ tự bị mất gần hết, đến nay nhà thờ đã được sửa sang ba bộ cánh cửa, đồ thờ tự đã được mua sắm đầy đủ bốn bàn gồm: Thủy Tổ, Tổ Cô, Gia Tiên bốn chi và bàn thờ mười bốn anh hùng liệt sỹ do con cháu trong Họ tiến cúng và đóng góp tương đối đầy đủ nghiêm trang. Quảng Từ đất tổ quê hương,nhà thờ đại tôn cùng với phần mộ Tổ Tiên là cốt lõi tâm linh và nhắc nhở cội nguồn.Từ ông bà cụ tổ: Vẹn tròn hạnh phúc Tiền Nhân Họ Phạm đông dân hưởng phần phúc sáng Tùng Bách vững cành nhờ cội lớn Cháu con bền nhánh nhớ người xưa Kế thừa tiền nhân, hàng đầu tiên tứ đại chi kế tiếp hình thành và nhân lên nhiều ngành các hàng con cháu tiếp nối. Đời nối đời, đến nay đã phát tiriển mười hàng thế hệ con cháuvà luôn bình sinh tự nhiên năm hàng thế hệ. Đương thời, Họ có gần 600 người, một phần sinh sống ở địa phương, một phần sinh sống và làm việc trên mọi miền đất nước. Với nền nếp gia phong truyền thống, đạo lý tình nghĩa người xưa được con cháu kế thừa và tăng thêm nhiều nét mới là hiếu học, dũng cảm ngoan cường, có tinh thần yêu nước cao, có phong trào cách mạng sớm. Từ xưa Họ đã có năm Thày đồ nho dạy học và làm thuốc nam, thuốc bắc. Cụ Phạm Phác - con cả cố Hùy ở trên đã tiến cúng ba sào đất để xây dựng trường tiểu học Nọn Khê (Ecole Plein Exercice de Nộn Khê) là trường duy nhất của toàn Huyện Yên Mô thời Pháp thuộc, để con cháu trong Họ và ngoài làng được học văn hóa mở mang tri thức và từ sau cách mạng tháng tám đến nay Họ Phạm có vài chục người có bằng đại học chuyên ngành, Họ đã có quỹ khuyến học để thưởng, khuyến khích cho con cháu học tốt, cùng với quỹ tình nghĩa để mừng thọ, thăm hỏi và phúng viếng ... Họ có hơn năm mươi Đảng viên cộng sản, đặc biệt có bốn Đảng viên lão thành cách mạng từ 1930-1935-1936. Họ có hàng trăm nông dân một đội quân chủ lực, hàng trăm công nhân viên chức Nhà nước, hàng trăm bộ đội cụ Hồ, có chín thương binh và mười bốn anh hùng liệt sỹ. Họ đã góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, của dân tộc trong sự nghiệp chiến đâu, bảo vệ và xây dựng đất nước, bảo vệ quê hương cũng như trong sự nghiệp đổi mới hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội. Quá trình đó, Họ đã được Nhà nước tặng thưởng cho các con cháu trong họ gần hai trăm Huân, Huy chương các loại.

II- LƯU BIÊN VỀ GIA PHẢ.

    Gia phả họ Phạm Quảng Từ được các Tiền Nhân viết để lưu lại nguyên bản gốc bằng chữ nho, được Cụ Phạm Văn Hoàn sinh năm 1886 ở hàng thứ năm ngành thứ tư chi một sưu tầm năm - sáu năm, đã trực tiếp đọc và chỉ đạo Ông Phạm Nhật Tân (Mấn) sinh năm 1931 hàng thứ sáu - con cháu Cụ Hoàn, viết chuyển sang quốc ngữ trong dịp ông Tân ở bộ đội đi học chuyên môn được nghỉ hè, ông viết liên tục một tháng tại nhà Cụ Hoàn ở thị xã Ninh Bình và hoàn thành vào tháng tám năm 1962. Đến nay, năm 2002, trải qua bốn mươi năm các hàng thế hệ con cháu chắt của Tổ Tiên đã có nhiều chuyển biến và phát triển đông. Ông Tân đã nghỉ hưu về địa phương, được Họ cử là phó ban kiến thiết phụ trách quản lý ngân quỹ của Họ và là trưởng ban Khánh tiết, hàng năm cùng với các thành viên trong Ban, tổ chức tốt các ngày giỗ hai mươi tháng giêng, hai mươi tháng tám, Thanh Minh, và ngay hai bảy tháng bảy dâng hương cho các anh hùng liệt sỹ của Họ, đã được khắc vào bia đá ghép trong khung kính tôn vinh định vị tại đây như một đài tưởng niệm tại quê hương đất Tổ. Ông Tân lại trực tiếp sưu tầm bổ xung tiếp vào gia phả, đến nay đã tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh được tái bản phô tô thành nhiều tập gửi tới các phân Chi. Trong gia phả từng gia đình đều có những trang để trống lưu không để ghi chép bổ sung các hàng hậu duệ kế tiếp, làm cơ sở cho con cháu có chỗ ghi bổ sung tiếp cho từng gia đình được đầy đủ hơn. Khi có điều kiện sẽ cho đánh máy vi tính, in gửi tới các Ngành. Đây là di sản văn hóa, ghi chép lịch sử truyền thống cội nguồn của họ Phạm - Quảng Từ, mọi người có trách nhiệm bảo quan và bổ sung tiếp vào gia phả kịp thời đầy đủ, lưu truyền cho hậu thế, đời nối đời.

III- TÓM TẮT VÀ KẾT LUẬN.

    Từ xưa, các bậc Tiền Nhân Cao Tổ, Tổ Tiên họ Phạm đã ở làng Khang Dụ (nay thuộc xã Yên Phong, Huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình). Đến giữa thế kỷ XVII, ông bà cụ Tổ di chuyển định cư ở làng Quảng Từ bên sông Phương và sông Vạc ven con đê Hồng Đức. Vẹn tròn hạnh phúc Tiền Nhân Họ Phạm đông dân hưởng phần phúc sáng Tùng Bách vững cành nhờ cội lớn Cháu con bền nhánh nhớ người xưa Kế thừa Tiền Nhân bốn đại Chi kế tiếp hình thành và được nhân lên nhiều lần các hàng hậu thế. Với nền nếp gia phong, truyền thống tốt đẹp, đạo lý tình nghĩa người xưa. Con cháu kế thừa thêm nét mới là dũng cảm, ngoan cường, có tinh thần yêu nước cao, có phong trào cách mạng sớm, từ những năm 1930-1936 Họ đã có bốn Đảng viên cộng sản lão thành và nối ghót cha anh có hơn năm mươi Đảng viên, góp phần tiếp bước. Họ có hàng trăm nông dân, hàng trăm công nhân viên chức Nhà nước, hàng trăm bộ đội cụ Hồ, có chín thương binh và mười bốn anh hùng liệt sỹ, anh hùng liệt sỹ đã được khắc bia tôn vinh định vị tại nhà thờ Đại Tôn, trang nghiêm như một đài tưởng niệm. Trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong sự nghiệp đổi mới, Họ đã góp một phần vào sự nghiệp chung của đất nước, của dân tộc trong sự nghiệp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nên đã được Nhà nước tặng thưởng cho con cháu họ Phạm gần hai trăm Huân, Huy chương các loại... Với đạo lý uống nước nhớ nguồn Với nỗi niềm nhớ người thân dòng họ Với tinh thần yêu nước là kính Tổ Tiên Nhà thờ đại tôn được xây dựng từ những năm 1930 thời kỳ Hoàng triều Bảo Đại lục niên, Quý Đông, Tân Mùi hoàn thành, cùng với phần mộ Tổ Tiên được xây dựng tháng 12 năm 1999 là di sản văn hóa truyền thống của dòng họ, là cốt lõi tâm linh nhắc nhở cội nguồn mà gia phả này được ghi lại lưu truyền cho hậu thế đời đời ghi nhớ. Trong nhà thờ Đại Tôn có bức đại tự được treo ở gian chính giữa bên trên cỗ Khám Gian nơi bàn thờ Thủy Tổ là: ĐỨC LƯU QUANG Hai bên có hai câu đối là:

TIỀN NHÂN CÔNG ĐỨC LƯU THIÊN CỔ HẬU THẾ KẾ TRUYỀN PHÚC VẠN NIÊN

TỔ TIÊN CÔNG ĐỨC THIÊN NIÊN THỊNH TỬ HIẾU, TÔN HIỀN VẠN ĐẠI XƯƠNG