Phả ký gia sử
Bản hoa phả của dòng họ có truyền lại rằng: Tổ tiên vốn gốc ở phường Kim Liên - huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, kế cận phía nam Kinh Thành Thăng Long (nay đổi là tỉnh Hà Nội).
Đời Thiệu Bình thời Lê (1434 - 1442) Lê Thái Tông, kinh đô mở rộng lấn sang vùng đất này nên đã cho phép dân cư đi tới các tỉnh khác, xem chỗ nào có thể khẩn điền lập ấp được thì được làm ăn ở đấy. Tiên tổ ta đã lần lượt thay phiên nhau tìm đến trấn An Bang (nay đổi là Yên Hưng - Quảng Ninh). Thấy ở phía nam trại Yên Hưng có dải đất dọc bờ sông Bạch Đằng, cây sú vẹt mọc rậm rạp, bốn mặt có sông nước mặn lên xuống theo thủy triều, nhưng ở giữa có gò đất cao và rộng lớn, nước mặn không tới được, nên đã quyết định ở lại đây.
Lúc bắt đầu công việc khai khẩn thì có ba anh em: Anh cả là Vũ Nhất Công, thứ là Vũ Song, em út là Vũ Tam Tỉnh cùng di cư đến miền biển đông này hợp sức khai hoang đắp đê, mở rộng đất đai. Ở được ba năm thì Vũ Nhất Công trở về Thăng Long, còn lại Vũ Song ở thôn Phong cốc, Vũ Tam Tỉnh ở thôn Yên Đông. Đến thời Hồng Đức (1470 - 1497), đời Lê Thánh Tông thì hai vị Thủy Tổ đã cùng với 15 vị Tiên Công và hai vị Tiên Công quê gốc ở Trà Lý - Phủ Thái Bình tên là Hoàng Long và Hoàng Linh khai khẩn biến đất mặn thành đất ngọt, khai báo cơ nghiệp, nộp thuế lập thành một xã bốn thôn. Xã đã có chung đền thờ ở đất thôn Cẩm La, hàng năm cứ ngày 7 tháng giêng thì mở hội tế lễ.
Đến thời Duy Tân triều Nguyễn, trải qua năm trăm năm, số đinh đã có hơn 2000, điền thổ có hơn 4000 mẫu, cả một vùng đất phồn thịnh đã có ranh giới rỗ ràng nhân dân đông đúc.
Ngày 15 tháng 9 năm Khải Định thứ nhất (1916) cháu 12 đời là thí sinh Vũ Đình Thể tiếp chép quyển tộc phả mới này, thuật lại gốc tích dòng họ cho sáng tỏ như gương soi vậy.
Phả có truyền lại rằng: Thiếu Tổ Văn Lang đêm nằm mơ thấy có Rồng bay xuống nhà, sáng hôm sau ra đường thấy có quân lính đến đón, được tôn là La Bằng Vương cùng một người con trai là Vũ Văn Giám đi theo, tiến đến xã Phú thị, huyện Gia Lâm đánh giặc. Cả hai cha con đều bị tử trận, được tôn là Phúc Thần nơi đó. Còn lại người con trưởng là Vũ Tích Đức ở lại nhà, đến nay hậu duệ của người đã rất đông đúc (có phả ghi riêng).
Từng nghe: Nghìn cành muôn lá gốc Kim Liên đất Bắc xuân tươi, muôn nhánh nghìn dòng, nước Nhị Hà chẩy về, chẩy về Nam tươi mát cho nên thưởng hoa nhớ cây, biết từ đâu dài cành xanh lá, uống nước nhớ nguồn, có nay nhớ xưa, ơn đức không bao giờ quên vậy. Kính cẩn tường thuật gốc tích, ghi chép hoa phả cho đầy đủ rõ ràng. Tổ Tiên ta ở đất Long Biên tôn kính, ở Phủ Hoài Đức giàu lòng nhân, trải nhiều đời bồi đắp đát đai ở miền Đông, công lao ở đất Hà Nam thật rạng rỡ.
Mười bẩy vị Tiên Công có công lao lớn nhất, mở đầu khai phá từ đời Thiệu Bình nhà Lê, các vị cùng nhau mở mang cương vực, hương thôn mới, bồi đắp xây dựng vùng đất nổi Hà Nam tạo nên ruộng vườn tươi tốt. Công đức của các vị thiêng liêng như dấu tích kỳ lân, cơ nghiệp ban đầu lóng lánh như mầu lông chim phượng. Con cháu đời sau mãi mãi ngợi ca.
Vị Tổ thứ hai giương cao cờ khởi nghĩa được tôn hiệu là La Bằng Vương.
Vị tổ thứ tư là nhà khoa bảng là một trong bốn vị đứng hàng đầu trong khoa thi được xếp liền sau Hoàng Khắc Xương, được ban bào hốt, vinh hiển dài lâu. Họ ta thật là đất "Địa linh nhân kiệt" (Đất thiêng, người tài).
Tổ Khắc Thường là người đức độ cao dày, là tấm gương cổ vũ cho con cháu đời sau. Ba chi của dòng họ đều là các chi Khoa giáp Thư Hương, trải qua nhiều đời không chịu nhường ai vậy.
Chỉ sợ rằng tên tuổi từng người, thứ bậc từng thế hệ, hoặc sẽ bị quên đi, hoặc xẽ bị lẫn lộn nên phải chép rõ tên tuổi, chi phái, quan hệ gần xa, tránh sự mập mờ sai lạc, ấy chính là mây choàng áo gấm, nắng sáng đường hoa, rộng rãi đường mây danh thơm không đổi.
Nghĩ rằng: Con người sinh ra có hình có khí, nhưng quan trọng nhất là đạo cương trường, dẫu chết đi rồi thì vẫn còn lại tinh thần lớn lao tôn quý. Dòng họ ta người như cây ngọc cành vàng cũng có, người như cây tùng cây bách cũng có. Phàm những gì là cái quan trọng nhất của họ ta, thì phải chí chính, chí công mà gìn giữ lấy. Phải cùng nhau giữ đạo trời, dòng dõi liền mạch ghi vào sử sách, để nghìn năm sau con cháu hiểu rõ, biết gốc, biết cành. Ghi lòng tạc dạ họ hàng thân thích vẫn là một nhà. Giữ nghĩa đồng bào không hề hiềm khích, để cho các chi phái cháu con nối dõi lâu dài, liên kết với nhau như một lưới bền chặt. Dòng họ ta là dòng họ lớn phong độ tốt đẹp, cháu con phải tỏ ra xứng đáng không được coi thường.
Hôm nay ngày lành tháng tốt, lòng dạ lo sợ muôn phần, xin tấu với tổ tiên cho chép lại tộc phả để khắc chữ vàng bia đá về sau.
Cụ đời thứ 6 Hiệu sinh Vũ Đình Lân chép bản thực lục mới này.
Cụ đời thứ 6 Giám sinh Vũ Đình Thường Tăng bổ
Cụ đời thứ 7 Giám Thụ Vũ Đình Sách Tăng san
Cụ đời thứ 9 Vũ Viết Hằng Tăng tiệp
Cụ đời thứ 9 Vũ Đình Đĩnh Viết thêm
Cụ đời thứ 10 Hàn Tổng Vũ Đình Quang Kế tiếp
Vũ Đình Vịnh Viết nối
Ngày 6 tháng 4 năm Duy Tân thứ 8
Cụ đời thứ 11 Vũ Đình Truật ngoài 80 tuổi đã cùng các con tiếp nhận tộc phả để truyền cho con cháu. Cpn cả Vũ Đình Phong cùng với các con khác là: Thí sinh Vũ Đình Thể, thí sinh Vũ Đình Diệm, tiên chỉ hương trưởng chánh hội, chánh cừu phẩm Vũ Đình Lễ cùng vâng mệnh.
Ngày 15 tháng 9 (năm Khải Định thứ nhất 1916) thí sinh Vũ Đình Thể cháu 12 đời, vâng mệnh chép lại. Kinh khoa điệt lão Vũ đỉnh giao tăng san.
Ngày 1 tháng 9 năm Bảo Đại thứ 5. Nguyên phó lý trưởng xã Phong Lưu, Vũ Đình Thọ lại viết bổ sung, có cơ binh Vũ Đình Hoán thửa tả. Thí sinh Vũ Đình Thể vâng mệnh chép.
Đến ngày 8 tháng 2 năm Giáp Tý (1983) toàn thể gia tộc đề nghị các cụ nên chuyển gia phả từ chữ hán sang chữ việt để con cháu sau này mới hiểu biết.
Các cụ nhất trí thành lập ban chuyển dịch gồm:
1. Thập nhất đại Vũ Đình Vững
2. Thập nhất đại Vũ Đình Chiêu
3. Thập Tam đại Vũ Đình Cam
4. Thập Tam đại Vũ Đình Kiếm
5. Thập Tứ đại Vũ Đình Lai
6. Thập Tứ đại Vũ Đức Địch
7. Thập Tứ đại Vũ Huy Du
8. Soạn thảo từ chữ hán sang chữ việt
Thập Tứ đại Vũ Đình Năng
9. Tổng hợp thống kê: Thập Tam Đại Vũ Đình Thơm
10. Biên tập: Thập Tam Đại Vũ Đình Thái
11. Biên tập: Thập Tam Đại Vũ Đình Nết
Mùa xuân năm Tân Tỵ (2001) năm khởi đầu thế kỷ thứ 21, thiên niên kỷ thứ 3.
Thể theo nguyện vọng của chi tộc ngành Vũ Viết, để mãi mãi về sau con cháu biết về Hoa quả gia tộc và gia phả chi tộc. Được các cụ trong chi tộc nhất trí.
Tiểu ban soạn thảo, sưu tầm lập gia phả chi tộc gồm:
1. Sưu tầm, soạn thảo Thập tứ đại Vũ Đình Năng
2. Chủ biên Thập tứ đại Vũ Đình Xoan
3. Tham gia hoàn chỉnh Thập tứ đại Vũ Viết Bẩy
4. Tham gia hoàn chỉnh Thập tứ đại Vũ Đình Ty
5. Tham gia hoàn chỉnh Thập tứ đại Vũ Đình Nghĩa
6. Tham gia hoàn chỉnh Thập tứ đại Vũ Đình Hồng
7. Tham gia hoàn chỉnh Thập tứ đại Vũ Đình Mong
8. Tham gia hoàn chỉnh Thập tứ đại Vũ Đình Chức
9. Tham gia hoàn chỉnh Thập tứ đại Vũ Đăng Nhung
10. Biên soạn Thập ngũ đại Vũ Viết Toàn
11. Biên soạn Thập ngũ đại Vũ Đình Hậu