Chi tiết gia đình
Là con của: PHÚC CẦU
Đời thứ: 2
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
II- THẾ THỨ HAI:
Ông Tiên tổ:
PHÚC TƯ.
Tiên tổ trước Triều Nghi đại phu Hàn lâm viện Học sĩ Đô Long Bá, phong tặng Trung thuận đại phu Tán trị doãn Hàn lâm viện, Thị độc học sĩ Trần Hầu, tên thụy Uyên Mục Phổ Chiếu, gia phong Dục Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần, tên chữ Phúc Tư.
Ngày kỵ: 19 tháng 2 tại nhà thờ Dũ Khánh.
Sự tích:
Năm Mậu Ngọ nguyên niên đời vua Anh Tông (1558) theo Đức Thái Tổ Gia Dũ Hoáng Đế vào Thuận Hóa khai cơ (khoảng năm 1558). Ngài khí tiết cao siêu, diện mạo hòa nhã, theo vua lâu ngày nhiều công khó nhọc, được thăng chức Hàn Lâm Viện trực học sĩ. Từ đó ngài lập làng khai canh điền thổ chỉnh đốn việc làng. Ngài mất táng tại xứ Cồn Am tọa Tân, hướng Ất kiêm Dậu Mão, làng truy niệm công đức lập miếu thờ ở Bàu Sứ. Năm Gia Long thứ 14 (1815) mong đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế gia ân lập đền thờ tại làng, sắc tứ Trần Công Từ. Đến năm Tự Đức (1847-1883) sắc cải là Dũ Khánh Từ, thờ vào án giữa, làm ông Tổ Thủy Tiên.
Ngày 11 năm Minh Mạng thứ 5 (1824) truy phong Trung Thuận đại phu Tán trị doãn, Hàn lâm viện thị độc học sĩ, tên thụy Uyên Mục Trần Hầu; năm Duy Tân (1908-1916) phong Dực vận Trung Hưng linh phò tôn thần, đồng niên cúng tế đều có quốc điền, việc cúng kỵ đồng niên có của nhà nước. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834) trùng tu lại miếu, tọa Thân hướng Dần kiêm Khôn Cấn.
Con:
1. Ông Long Lãnh tiên sinh, tên Phúc Cư.
Bà Tiên tổ:
thụy Trang Ý cung nhơn.
--- šš¯›› ---
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
- Trang Ý (Nữ)
Các anh em, dâu rể
- PHÚC NHƯNG (Nam)