GIA

PHẢ

TỘC

HẬU
DUỆ
VUA
MINH
MẠNG
Gia phả  Phả kư  Thuỷ tổ  Phả hệ đồ  Tộc ước  Hương hỏa  H́nh Ảnh 
TỘC ƯỚC - GIA PHÁP

LỜI NÓI ĐẦU

 

AI SINH RA TA??                       CHA & MẸ

AI SINH RA CHA ME TA??          ÔNG & BÀ

Cứ thế chúng ta truy tầm măi lên th́ đến gốc, đó là TỔ TIÊN của một GỈNG TỘC

 

Bởi vậy:                 Cây th́ phải có gốc

                             Người th́ phải có TỔ TIÊN

Cây được nhiều cành lắm lá, đó là nhờ gốc tốt.

Một GỈNG TỘC lắm con, nhiều cháu cũng nhờ PHÚC ĐỨC của TỔ TIÊN

Tục ngữ có câu:      Uống nước nhớ nguồn

                             Ăn trái nhớ kẻ trồng cây

Con người được đề cao và tôn trọng hơn muôn loài là nhờ có  L‎ư trí, Danh dự, và biết Tự trọng, biết Bảo tồn cùng việc THỜ PHỤNG TỔ TIÊN.

Vả lại chúng ta là Hậu duệ thuộc GỈNG TỘC ĐẾ VƯƠNG, chúng ta nên theo gương Trung hiếu của TỔ TIÊN, đó mới thật xứng đáng là Con Gịng Cháu Giống, đồng thời chúng ta nên sống làm sao để không tủi thẹn với lương tâm, hầu noi gương tốt cho Hậu duệ sau này noi theo.

Có như thế mới khỏi bị đời mai mĩa, VONG TỔ , MẤT GỐC.

                   Trăm năm bia đá th́ ṃn.

                   Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ

                                      Mong thay và mong lắm thay

 

                             oooooooooOOoooooooo

 

 

 

Ngài THỌ XUÂN VƯƠNG là con thứ ba của ĐỨC THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ, Cuộc đời và sự nghiệp của Ngài gắn liền với lịch sử nước nhà  và Gịng Tộc.

Ngài đă gánh vác những trọng trách vào những giai đoạn vẻ vang cũng như đen tối nhất của LỊCH SỬ NHÀ NGUYỄN.

 

Nhờ đức độ lớn lao, không những Ngài đă chu toàn trách nhiệm mà khiến cho mọi việc trở nên tốt đẹp, trăm họ an vui.

 

Lúc sống được mọi người ngưỡng mộ, lúc mất đi đầy nỗi mến thương, luyến tiếc. Ngài là biểu hiện cho sự phúc lành của Đất nước.

 

Sinh được 78 Công Tử, 66 Công Nữ, số con cái đă vượt trội Đức Thánh Tổ, và chẳng trái với ĐỨC HIẾN TỔ khi ban cho BỘ THUỶ để đặt tên cho con cháu cũng như nước của Bể cả.

 

Ngài HƯỜNG CÁC, là con thứ 7 được Tập Tước THỌ XUÂN QUẬN CÔNG, kế đến con là ƯNG HÀO đă thay nhau giữ quyền CHỦ TỰ, đồng thời đều giữ những chức vụ quan trọng trong TÔN NHƠN PHỦ.

Đến đời thứ 4, ông BỬU LỘC, tập tước KỲ NGOẠI HẦU, nhưng không có con nối dơi, anh em lại ly tán, Đến năm Ất Dậu 1945, bán căn nhà đang ở cho ông Ưng Giáp, đồng thời xin trả lại chức CHỦ TỰ cho PH̉NG, rồi tha phương lập nghiệp.

 

Các Chi khác ngự trong phủ, qua đến đời thứ 4 chẳng c̣n lại là bao, một phần không có thừa kế, một phần v́ chiến tranh ly tán, kẻ NAM, người BẮC, sống thác chẳng hay, số c̣n lại tại HUẾ, t́m cách sinh sống ngoài phủ. Con cháu c̣n lại trong phủ phần nhiều thuộc chi 3 và chi này thay nhau nắm việc quản lư Phủ thờ.

 

Đến năm 1992, Phủ Thờ bị sập đổ ḥan toàn v́ cơn băo. Đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của Dượng PHẠM HỮU QUẾ chồng cô CÔNG TẰNG TN NGHIÊM H̉A. Chú BỬU THÙ và cô Công Tằng TN CẨM THƯỢNG thuộc chi 61 Nhánh 3 của ông ƯNG KHƯƠNG, đạ mạnh dạn đứng ra đóng góp tài lực gởi về để Dưọng QUẾ cùng bà con phục hồi tạm thời nơi THỜ PHỤNG TỔ TIÊN năm 1993 và kế tiếp Sùng tu lăng Ngài THỌ XUÂN VƯƠNG, tại CẦU LIM, đang bị xuống cấp trầm trọng vào năm 1994. Đến năm 1996, một lần nữa Cô CẨM THƯỢNG lại động viên con cháu thuộc nhánh 3 đóng góp công cũng như của để sung tu đợt 2 với những công tŕnh như sau: Tu sửa Chánh Điện, nhà Vơ Cua, Thượng Tứ Linh, làm thêm mái hiên, thay 3 bộ cửa, đúc 4 trụ trước Chánh Điện bằng ximăng cốt sắt có chạm rồng nổi, tu sửa Tam Quan và làm mới 4 câu đối, làm mới Lưỡng Long Cầu Nhật trên bức b́nh phong, có sự hổ trđắt lực của:

VĨNH ĐÀO, VĨNH TÙNG (con chú BỬU THÙ). Riêng ở Huế th́ có sự đóng góp cuả cô CTTN CHÁNH THÀNH (em chú THÙ): 1.000.000đ – Chú BỬU TRÍ Chi 54: 1.000.000đ – chị CHTN THỊ TUỆ và BẢO MỄ chi 3 : 1.000.000đ – BẢO LỰC chi 3: 200.000đ – TÔN NỮ THIỆN CHI Chi 3: 200.000Đ,  tiếp theo là sung tu Lăng đức

Tổng chi phí cho 2 lần sung tu Phủ Thờ và trùng tu 2 Lăng của Chi 61, nhánh 3 đă đóng góp trên ba chục triệu đồng.

 

Người chịu trách nhiệm thi công đợt 2 là Ông PHẠM HỮU QUẾ Chi 61 và Ông VĨNH TÙNG Chi 37

Liên tiếp 2 lần sung tu Phủ Thờ, tu sửa Lăng mộ vào năm 1993, 1994 và năm 1996 tốn kém như thế, nhưng cũng chỉ là đóng góp nhỏ nhoi đối với quy mô của Phủ Thờ cũ.

 

Với ước muốn của người viết Phả cũng như tâm nguyện của đa số Bà con có định đem người tốt việc tốt lên giấy trắng mực đen, không ngoài mục đích nêu gương HIẾU THUẬN của những Bà con, Hậu duệ thuộc THỌ XUÂN VƯƠNG Pḥng đă phát huy tinh thần Uống nước Nhớ nguồn, Chim có Tổ  - Người có Tông, đồng thời là Ngọn Đuốc Soi Sáng Lương Tri cho những Thế hệ hiện nay và mai sau tiếp bước noi theo (trong khi đó người xấu việc xấu cũng không ít, nhưng người viết phả chỉ mong muốn thể hiện Tinh Thần Huyết Tộc để cùng nhau Đoàn kết chung lo Hiếu sự nên không ghi vào).

Việc lập lại Phả Hệ của Pḥng THỌ XUÂN VƯƠNG  là việc làm hết sức cần thiết, mục đích là thắt chắt T́nh Huyết Thống giữa các Chi để cùng nhau giữ ǵn những ǵ c̣n lại của TỔ TIÊN.

Tuy nhiên việc này cũng hết sức nan giải:

Thứ nhất: Là không thể t́m lại hết những bà con trong các chi, có một số chi không biết có c̣n lại Hậu Duệ hay không.

Thứ Hai: Là Một số Chi, hoặc không muốn cung cấp những Tư liệu Gia đ́nh, hoặc v́ dễ phát giác ra điều không hay thộc đời trước, hoặc v́ không có tấm ḷng muốn quay về cội nguồn, hoặc v́ có những bất đồng khó hàn gắn.

Thứ Ba: Tuy có nhiếu Chi lập Phả riêng, nhưng chỉ rời rạc khó nối kết, những tài liệu khác về Pḥng Thọ Xuân Vương, qua thời gian dài đă mất gần hết,

Thứ Tư: Dù đông người nhưng chưa tập họp thành nhóm, để những người có tâm huyết cùng khả năng lập chung một cuốn Phả của Pḥng.

 

Tuy khó khăn và phức tạp như thế, nhưng ước nguyện của người lập Phả cũng phải ḥan thành, dù đơn sơ một cuốn Phả của Pḥng, Tự đi t́m hiểu liên hệ, biết đến đâu th́ ghi đến đấy. Trong thời gian từ 1994 đến 1999 mục đích là để lại cho những bà con, hậu duệ có nhiều Tâm huyết, có thể dựa vào đó làm sườn mà soạn cho kỹ càng hơn.

 

Đồng thời cũng là điều mong muốn sau cùngcủa người viết là mong sao cuốn Phả này đến tay bà con hậu duệ th́ xin bà con bổ sung những phần thiếu sót ngoài ‎ư muốn của tác giả đến Ban Điều hành Phủ Thờ Thọ Xuân Vương, để nơi đây gom góp những tư liệu để ghi tiếp vào cuốn Phả cho được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.

Là một pḥng lớn trong HOÀNG TỘC NGUYỄN PHƯỚC , cộng thêm vào đấy Danh Vọng của NGÀI THỌ XUÂN VƯƠNG vượt trội đương thời, chúng ta phải có bổn phận và trách nhiệm làm cho con cháu hiểu rơ mà giữ lấy Nề Nếp, Gia Phong, để Ân đức Ngài thấm nhuần trong mọi tầng lớp , các thế hệ về sau.

 

Riêng người viết phả, xin chân thành cảm ơn chú VĨNH ĐÀO đă tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện cuốn Phả theo như mong ước từ nhiều năm nay.

 

Việc làm Phả của Pḥng chẳng ngoài mong ước này.

 

Viết xong mùa Xuân năm Kỷ Măo

 

Sài g̣n, ngày 01 tháng 04 năm 1999

Người viết Phả:

 

VĨNH TÙNG

Chi 37 Nhánh 2


Tiểu Sử   NGÀI THỌ XUÂN VƯƠNG

 

          TUỔI TRẺ VÀ TÀI NĂNG

 

Thọ Xuân Vương tự MINH TỈNH, Hiệu Đông Tŕ ban đầu được Thế Tổ Cao Hoàng Đế (Vua Gia Long) ban cho tên YẾN. Năm Minh Mạng thứ 4 có Ngự chế Kim sách về Đế Hệ Thi, nên được ban cho tên như hiện nay là MIÊN ĐỊNH.

 

Vương là con trai thứ ba của Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (Minh Mạng). Mẹ là gia phi họ Phạm (Đức từ Phạm Thị Tuyết), người huyện Tuy Viễn, tỉnh B́nh Định, là con gái của Truy Thự Quang Lộc, tự Thiếu Khanh Phạm Văn Chấn. Vương sinh ra vào tháng 7, mùa thu năm Gia Long thứ 9 (1810), gia phi mất lúc Vương vừa 3 tuổi. Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (Mẹ Vua Minh Mạng) đem Vương vào nuôi trong cung.

 

Thuở bé Vương yếu đuối nhưng thông minh, được học ở chái tây Điện Cần Chánh. Thế Tổ Cao Hoàng Đế thường thấy Vương mang ḥm sách đi nghe giảng, rất ngợi khen. Lúc lớn lên, Vương có dáng người to lớn, tư chất hơn người. Đầu triều Minh Mạng, Vương cùng Hoàng tử (Hiến Tổ Chương Hoàng Đế Thiệu Trị) được xuất các (1). Vương càng tinh thông mọi sách, nổi danh về thơ, càng giỏi về ứng chế (2). Khi phụng chiếu họa bài thơ “Cấm trung tử quí hoa” (Hoa quí trong cung cấm), Vương có câu:

         

“TỰ TÙNG DUỆ TẢO LƯU ĐỀ VỊNH

          QUAN CHIẾM QUẦN PHƯƠNG ĐỘC ĐÀN DANH”

Dịch:  TỪ KHI ĐƯỢC ĐẾ VƯƠNG ĐỀ VỊNH

          CHIẾM LẤY QUẦN HOA ĐỆ NHẤT DANH

 

Đế hết long khen ngợi, Tuy Thánh Quận Công Trương Đăng Quế suy tôn Vương là bậc ứng chế nổi danh đương thời. V́ thế Tùng Thiện Quận Vương Miên Thẩm, trong cung từ (3) có câu:

 

          TẤT CÁNH TRẦM TAM HOÀN ĐỆ NHẦT

          ĐƯƠNG GIA THIÊN THỦ THỌ XUÂN CÔNG

Dịch:  TUY Ở HẠNG BA NHƯNG THÀNH NHẤT

          NỔI TIẾNG ĐƯƠNG THỜI THỌ XUÂN CÔNG

 

 

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

 

1:/ DƯỚI TRIỀU VUA MINH MẠNG

 

Năm Minh Mạng thứ 4 (1823), Vương được lệnh lập phủ ở phía trái kinh thành để tiện việc phụng hầu.

 

Mùa hạ năm Minh Mạng thứ 6, Đế đi Quảng Nam, sai vương lưu giữ kinh đô, dụ rằng: “Phải phụng theo từ chỉ (4), định mọi việc trong cung, sắp xếp để tâu lại”. Mùa hạ năm thứ 7 Đế đi Quảng B́nh, lại lệnh cho vương giữ Kinh đô. Mù thu năm thứ 9, Đế se ḿnh, Vương cùng Hoàng trưởng tử thay phiên túc trực nơi đế nghỉ. Lúc thái y dâng thuốc, Đế không uống v́ thấy không hiệu quả. Vương và hoàng tử trưởng dâng sớ nhẹ nhàng can ngăn, Đế mới ra lệnh dâng thuốc uống, mấy ngày th́ lành. Khi Đế ra Điện Cần Chánh nhận lời chúc mừng, cho triệu Vương lên Điện, ban trả rồi cho lui.

 

Mùa xuân năm Minh Mạng thứ 11, sách phong làm THỌ XUÂN CÔNG. Mùa xuân năm thứ 16, Vương và Hoàng trưởng tử vào hầu ở Điện Đông Các, Đế ban cho mỗi người một lư hương và một cây đàn quí mà dụ rằng: “Lư là để truyền hương thơm, đàn là để vang tiếng. Đây là lúc các con cần có hương danh truyền khắp nơi, phải gắng sức lên”. Mùa hạ năm đó, Đế đi Quảng Trị, lệnh cho Vương lưu giữ Kinh đô và dụ rằng: “Kinh đô là nơi căn bản, lệnh cho con lưu giữ. Mỗi ngày phải đến Điện Cần Chánh để cùng các quan bàn bạc”. Lại cấp cho một Nha đồ k‎ư để ghi những chuyện ǵ nghe được trong cung mà tâu lên.

 

Mùa thu cùng năm, bắt đầu đặt các quan chức tại Tôn Nhơn Phủ. Đế lệnh cho Vương kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ Hữu Tôn Chính, ghi tên tất cả bà con xa gần để cai quản. Vương liền xin lập điều lệ và dâng sớ cử Tôn Thất Lương, là quan thanh bạch, làm tư vụ, đồng thời xin cấp tinh biểu (5) để tỏ sự vui mừng. Đế chấp nhận. Năm Minh Mạng thứ 19. Đế lệnh cho Vương cùng các quan  bộ Lễ tiếp tục bàn bạc chương tŕnh để thi hành ở Tôn Nhơn Phủ.

 

          Mùa đông năm thứ 21, gặp lúc Đế không được khỏe, khi xét các án tử h́nh, Đế lệnh cho Vương & Hoàng tử trưởng đọc lại. Thấy việc trọng đại, Vương nhường cho Ḥang tử trưởng quyết đoán. Đế ngợi khen rồi ban cho Diễm Lộc Viên để nghỉ ngơi và đọc sách, đồng thời dạy: nên lưu tâm đến việc bút mực và hàng ngày cần để sửa ḿnh.

 

         

          2:/ DƯỚI TRIỀU VUA THIỆU TRỊ

 

Thiệu Trị nguyên niên (1841), khi làm lễ Ninh Lăng (6) Vương theo hầu, tất cả việc lễ lược cho đến việc đề chủ (7), Vương đều được sung vào giúp đỡ. Mùa xuân năm Thiệu Trị thứ 2, Đế ra Bắc  làm lễ bang giao, Vương được phong làm Ngự tiền Thân thần. Ngày tuyên phong, sứ nhà Thanh là Bửu Thanh cưỡi kiệu vào thẳng cửa Chu tước (8), quan đón tiếp không thể can ngăn. Vương nghiêm nét mặt quát mắng. Sứ Thanh liền xuống ngựa, thong thả mà đi. Khi xong lễ Đế ngợi khen. Lúc trở về, Đế thưởng cho một viên ngọc trắng để đeo, có khắc 4 chữ “Đặc nghị quyền hưu” (nghĩa là đặt biệt măi yêu thương).

 

          Mùa hạ năm thứ 3, sau khi làm lễ thăng phối (9). Đế ngự triều làm lễ chúc mừng, Vương dâng lễ thượng thọ. Đế tự rót Ngự tửu ban cho Vương với Ngự tứ thi rằng:

         

BẬT DỊ ĐƯƠNG NIÊN CỌNG ĐIỂN BÍ

THÀNH KHAM LƯU LĂM HẢO TƯ VĂN

ÍCH ĐÔNG THÂN ÁI, LONG PHAN BÍNH

VẬT NGẠI QUÂN THẦN, PHẬN SỰ PHÂN

Dịch:  CHẲNG KHÁC LÚC C̉N HỌC VỚI NHAU,

          VĂN CHƯƠNG CHẤP NHẬN ĐỨNG HÀNG ĐẦU,

CÀNG THÊM THÂN ÁI T̀NH PHÊN DẬU,

CHỚ NGẠI V̀ THAN PHẬN QUÂN THẦN.

 

Mùa hạ năm Thiệu Trị thứ 5, Ngự chế ban bộ chữ chia cho các pḥng của các Hoàng tử để định rơ sự kế tục, Vương được ban bộ THỦY. lại được ban một bài Ngự chế theo chính hệ (ḍng chính) để rơ sự hay truyền thế, đó là một đặc ân. Rồi Đế lệnh cho Vương làm Tổng l‎ư coi sóc sửa chữa Đại Nam hội điển (10), Năm Thiệu Trị thứ 7 , Vương dâng sớ xin theo lệ, thôi việc ở Tôn Nhơn Phủ để nhường chức vụ cho các Hoàng tử khác, Đế ưu ái không chấp nhận.

 

3:/ DƯỚI TRIỀU VUA TỰ ĐỨC.

 

          Năm TỰ ĐỨC thứ 2 cử hành lễ bang giao, Vương được sung làm Ngự Tiền Thân thần. Năm thứ 11 có biến ở Nam kỳ, Vương được trù liệu việc biên giới, thấy hao phí việc quân quá nhiều, Vương dâng sớ xin bớt lương bổng để giúp quân, Đế không chấp nhận. Qua đầu năm sau, Vương được 50 tuổi, Đế ban cho phẩm vật cùng câu đối:

 

          DỮ QUỐC ĐỒNG HƯU, T̀NH ÂN BÁO QUỐC

          HÀ THIÊN TÍCH HỰU, THỌ KHẮP TRI THIÊN.

Dịch:            GIÚP NƯỚC AN LÀNH, ĐEM ÂN T̀NH MÀ BÁO QUÔC

                   NHỜ TRỜI BAN PHÚC HƯỞNG NIÊN THỌ ĐÊN TRI THIÊN (11)

 

          Vương bái nhận, dâng biểu cảm tạ, biểu viết rằng:

 

          TRUNG VỚI NƯỚC, ĐEM SỨC CHƯA CÓ TÀI CƠ ĐÁN (12)

          THIỆN TẠI NHÀ, LÀM VUI CHẲNG ĐÁNG ĐƯỢC CHÍ ĐÔNG B̀NH (13)

          VƯƠNG TRIỀU THĂM HỎI PHỦ ĐỆ AN NHÀN,

          ĐƯỢC BẢO BỌC CUỘC SỐNG VÀO NƠI NHÂN THỌ.

          NHUẦN ƠN TRẠCH, CƠI ĐỜI MỚI GIỮ ĐƯỢC AN KHANG,

          HIỆN BIÊN THÙY CÓ BIẾN, NAY XÍCH THỐI (14) KHÔNG CÔNG.

          NIÊN LĂO ĐĂ SUY, THẸN NĂM MƯƠI TRIỀU CHÍNH,

          THÙ ÂN (15) QUÁ THẤM NHỤC, BA TIRỀU ĐẠI CÁO HƯU.

 

          Mùa xuân năm Tự Đức 13, nhân lễ Nam Giao, Vương được sung làm Nhiếp hiến (16). Mùa xuân năm thứ 18, Đế cho rằng Vương tuổi cao, đức trọng, gặp triều yến đều được ban cấp, hỏi han, cho ngồi tại chỗ hoặc dúng chấp tay ở trán, để tỏ chí t́nh. Rồi phụng thư sắc cho phép khi đến triều, Vương được dung nhuyễn dự (17) đến thẳng cửa Nhật Tinh. Để tỏ ḷng ưu ái của Đế đối với Vương, năm đó Vương được cải làm Tả Tôn Chính ở Tôn Nhơn Phủ , Vương bái mạng. Đế ban: “Người lớn tuổi chân thật chẳng có mấy, chiến khanh gắng sức để giữ ǵn khuôn phép thay mệnh của Trẫm”. Vương bèn mời trong phiên hệ những người thận trọng, trung hậu để sung làm Tư giáo trông coi mọi việc.

 

          Mùa thu năm Tự Đức 18, Vương tiến triều, Đế bảo: “Từ xưa đến nay có nhiều người trong Tôn Nhơn Phủ đức hạnh cao, địa vị lớn, đáng nêu danh. Nay ta muốn con cháu họ mài dũa thành tài để có lúc dùng đến, đó là mong ước của Trẫm. Nhưng gần đây sao thấy việc học tập chẳng kết quả ǵ”. Vưong thưa rằng: “Những người trợ giúp phẩm trật thấp kém, không thể hoàn thành trọn vẹn chức năng của bậc thầy. Nay xin lập trường học, đặt một người chưởng giáo trong hạng khoa giáp là kẻ sỹ, biết dạy dỗ th́ mới thành tựu được”. Đế khen ngợi ra lệnh lập trường, dung Đặng Văn Kiều là kẻ sỹ thanh nhă sung làm Chưởng giáo. Vương lại cho mời các Công tử, Công tôn theo các Nha, Bộ để học tập chính sự. Đế bảo: “Ngành gốc của ḍng họ trăm đời, cần có chủ trương sớm mới có thể thành hữu dụng. Nếu không th́ tuổi lớn mà càng ngày con cháu càng đông, th́ chẳng ra thể thống ǵ”. Bèn khiến Vương cùng các Hoàng tử châm chước, chọn phép tắc hay, thích hợp, xét kỹ mà thi hành. V́ thế Vương tâu lên: “Tất cả những Công tử, Công tôn, ngoại trừ người có văn học được xét bổ dụng, c̣n ra bất kỳ hệ nào học hành không tiến bộ mà có sức vóc th́ cho bổ vào vơ học. Các Công nữ không có vốn liếng, sung vào phụng trực ở các Tôn Lăng, Tôn Điện, khiến có nơi nương tựa”. Đế chuẩn theo lời tâu cho thi hành.

 

          Mùa thu năm Tự Đức 22 (1860), Vương mừng thọ 60 tuổi, Đế ban cho áo bào, trượng, các phẩm vật cùng bài thơ:

 

                   GIỚI ĐỆ TÍCH VƯU CHÍ

TÔN PHAN KIM THỊ BỈ

                   VÔ TRƯƠNG NĂNG TỰ ỨC

                   NAM LĂO KHỞI DUY KỲ

                   DĨ TRỰC TRIỀU KIẾN TƯỚC

                   NINH VỌNG TỰ TỤC QUI

                   TẤT NHÂN PHƯƠNG ĐẮC THỌ

                   LƯƠNG HỮU NHẤT KINH DI.

Dịch: 

                   TRƯỚC ĐÂY LÀ EM QUÍ

                   MÀ NAY CHÍNH TÔI HIỀN

                   KHÓ KHĂN L̉NG TỰ GẮN

                   TUỔI ĐĂ SÁU MƯƠI LIỀN

                   TRIỀU Đ̀NH CHỨC TƯỚC LỚN

                   PHÉP TẮC GIỮ TRƯỚC TIÊN

                   NHỜ NHÂN MÀ ĐƯỢC THỌ

                   ĐẠO HAY LẠI ĐƯỢC TRUYỀN.

 

          Mùa hạ năm thứ 27, Vương được tấn phong Quận Vương. Đế dụ: “ Vương với Ninh Thuận Quận Công MIÊN NGHI đều là chú của Trẫm, nay tuổi gần thất tuần, giỏi giang, trung hậu, càng lớn tuổi càng gắng sức, là Trọng thần của Trẫm, Trẫm rất thương mến, rất kính trọng. Mỗi khi muốn đặc cách gia ân để tỏ ḷng thành của Trẫm, nhưng vật th́ chẳng quí, chỉ có danh mới quí, chẳng có ǵ xứng với t́nh của Trẫm, truy khen lúc quá văng sao bằng lúc c̣n sống, v́ thế mới thực. Chuẩn phong làm Quận Vương để tỏ rơ t́nh thân, tuổi lớn đức cao chẳng có ǵ trái lẽ mà lại an ủi được t́nh thương của Tiên đế dành cho Vương, lại bày tỏ của Trẫm hết ḷng với người thân. nhờ đức lớn của Vương mà tạo được phong thái tốt đẹp, khiến Trẫm càng thêm tin tưởng”.

 

          Vương và Ninh Thuận Quận Công dâng sớ khẩn khoản từ chối, lấy cớ: “Bản triều từ xưa đến nay, những người thân thuộc chưa hề được phong Vương, huống ǵ vùng biên cương rối ren, tâm Đế chẳng an, đội ân được dự vào việc nước nhưng chẳng giúp ích đựợc chút nào, cảm thấy không công lao mà hưởng được lộc lớn, thật chẳng an tâm, chứ chẳng phải nói bậy mà từ chối”. Đế phán: “Bản triều vốn định không phong tước Vương là v́ không có người xứng đáng, chưa có lúc thích hợp, nên c̣n chờ đó thôi. Nay hai chú chớ có từ chối để an ủi ḷng tôn thân, kính lăo của Trẫm”. Vương mới nhận phong.

 

          Mùa đông năm thứ 29, Đế ban dụ rằng: “Vương tuổi quá nhĩ thuận (18), triều đ́nh cậy nhờ, vả lại trung thành chăm lo việc không hề giảm, chuẩn cho khi điện kiến, yến tiệc hoặc b́nh thường, lúc ban thưởng, thăm hỏi, chỉ xá ba xá là đủ tỏ long cung kính, miễn qú lạy”.

 

          Mùa xuân năm thứ 30, Đế thấy vương đức lớn va rất trung thành, chăm lo công việc không sút giảm, nên lệnh cho quan ở phủ Thừa Thiên chọn 15 mẫu quan điền màu mỡ ban cho trọn đời để cúng cho Tiên Phi (19) cùng dùng việc hương hoả cho vương sau này.

 

          Mùa xuân năm thứ 31, gặp Ngũ tuần Vạn Thọ đại khánh tiết, được tân phong THỌ XUÂN VƯƠNG. Dụ viết: “Có lẽ mừng ban ân huệ, tất từ người gần, đó là sự khởi đầu của nghĩa làm thân với người thân. Thọ Xuân Vương tuổi gần 70, kiêm đủ phúc, thọ, phú, qúi, mà biết lo lắng trung thành, hết ḷng với triều đ́nh đă lâu, Đức tốt đó, chẳng phải do riêng Trẫm kính yêu, mà đủ để mọi người ngưỡng vọng. Tấn phong làm THỌ XUÂN VƯƠNG để tỏ sự quan tâm đến những điều ưu việt”.

 

          Mùa thu năm Tự Đức thứ 32, Vương mừng thọ 70 tuổi, Đế xuất kho ban các phẩm vật, cùng làm bài tự bài ca để ban cho. Bài tự về thọ ghi sơ lược rằng:

 

“Việc ở đời khó được là Phúc với Thọ. Có người thọ mà không phúc, Được phúc th́ trăm ngàn người chỉ có một, hai người; được thọ th́ chỉ được một hai trong vạn ức người. Huống hồ ǵ được cả hai điều, mà lại đầy đủ, chẳng thiếu sót chút nào, th́ trong trăm ngàn vạn ức tuyệt không có. Ít như vậy mà ta lại có, ta có được một người.

          “Vương là con của Văn Vương (20), em của Vũ Vương, chú của Thành Vương, luôn giữ phận bề tôi. Đến nay nhiều lần đuợc phong địa vị dưới Thiên tử một bậc, thật là phú quí, mà quí thêm nữa. Làm việc trải qua bốn triều, bổng lộc ngàn chung, phẩm vật được ban không kể xiết, phú lại càng phú thêm. Nhưng đạt được những điều nói trên chưa đủ là khó. Chỉ nghe rằng Vương thuở nhỏ rất yếu, lại nhiều bệnh, mà lúc ln lên cường tráng sung măn, con cái quá một trăm người, tức là hơn con số một trăm, trong Kinh thi c̣n kém (21). Những điều tốt đẹp, chẳng có ǵ đáng nghi ngờ. Huống ǵ gần đây, tinh thần minh mẫn, tuổi càng lớn càng bệ vệ. Nay tuổi đă bảy mươi, râu tóc trắng xoá, mà ăn uống, nh́n ngắm, suy nghĩ nói năng chẳng suy, khiến mọi người càng kính yêu, mong muốn giống như thế mà chẳng được.

          “Lại bảo Lương Hiếu (22) giàu to nhưng không nói giàu và thọ, và nhiều con trai. Trung Sơn (23) có nhiều con trai, nhưng không nghe nói giàu và thọ. An B́nh (24) th́ tuổi thọ cao, nhiều con trai, nhưng không nghe nói giàu. Vương, thanh danh không bằng Tùng, Tuy (25), hào hùng không như Ninh Thuận, giàu chẳng bằng Định Viễn (27), nhưng các bậc Vương từ xưa đến nay đều có chỗ bất túc, chỉ có một ḿnh Vương là đầy đủ cả, thật làm sang tỏ Đức hạnh của Triều đ́nh ta; trong sách vở chưa có nơi nào, chuyện nào như vậy. Ta nghe Mục Thúc nói bất hủ có ba điều mà không nói đến bổng lộc ở đời”.

 

          Bây giờ hăy nói chuyện tuổi thọ của Vương, mà làm bài ca tỏ t́nh cảm, Ca rằng:

 

THẦN CHÂN TAM ĐẢO CÓ TIÊN (28)

CHẲNG HỀ ĐƯỢC THẤY, CHỈ RIÊNG NGHE NHIỀU.

CHỐN YÊN HÀ NGƯỜI HIỀN Ở ẨN

NẾU GẶP TIÊN CHƯA HẲN LÀ HAY,

ĐÂU BẰNG TIÊN CHỐN ĐẤT NÀY

ĐÔNG TR̀ LÀ HIỆU , TRÚ NGAY ĐÔNG TR̀ (29)

VỐN GẦN CHỢ THIẾU G̀ SƠN THUỶ,

TUY CHỈ NGHE TA NGHĨ LÀ XINH.

TỪ LÂU TIÊN VỐN ẨN M̀NH

CẢNH SẮC TUYỆT ĐẸP HỮU T̀NH NƠI NƠI

Ở TRÊN CAO CÂY TO THÚ LỚN,

DƯỚI HỒ SEN CÁ LỘI THUNG THĂNG

LƯƠNG Đ̀NH, ÚC QUÁN (30) XUNG QUANH,

HƯỚNG VỀ GIÓ MÁT TRĂNG THANH MƠ MÀNG.

BƯỚC THEO CHÂN, CON CÙNG ĐÀN CHÁU,

RỒI ANH EM VUI ĐẤU CUỘC CỜ.

CHỦ NHÂN L̉NG SẴN SAY THƠ

V̀ L̉NG QUÍ KHÁCH TÙY THỜI NHẤP CHƠI.

XƯỚNG HỌA NGAY KHI ĐÀN SÁO NỔI

THỨC ĂN NGON THAY ĐỔI MANG LÊN

VUI CHƠI CHO TRỌN HẾT ĐÊM

CHỦ NHÂN NÀO MỆT, KHÁCH QUÊN CẢ VỀ.

NAY TIỆC THỌ LẠI CÀNG VUI VẺ,

LẬU (31) CHẬM HOÀI ĐỂ MĂI THÂM CANH,

CHỚ NÊN ĐỂ NGUYỆT XẾ TÀN,

TRƯỚC SÂN CHUẨN BỊ KHÊU ĐÈN THƯỞNG TRĂNG.

VƯỢT NGÂN HÀ SONG TINH (32)LẤP LÁNH,

THỌ PHÚC CẦU XỨNG ĐÁP DÀI LÂU.

MỌI NGƯỜI GIỜ QUÁ SAY SƯA,

BỒNG LAI TIÊN CẢNH C̉N THUA RẤT NHIỀU

NHƯ ĐẠO UẨN, TRẦN TƯ (33) NÀO THIẾU,

PHÚ THƠ HAY CỨ THẾ ĐUA TRANH,

MUỐN MONG ĐƯỢC TRỌN Ư LÀNH,

GIÚP TẠO NHÂN ÁI, ĐỂ DANH MUÔN ĐỜI

BIẾT NƯỚC CHẢY MÂY TRÔI KHÓ LIỆU,

ĐÀN ƯNG MÔN (34) ÂM ĐIỆU CHỢT NGHE,

TỬ KINH ĐIỀN THỊ (35) NÊN DÈ

VƯỜN THỎ AO NHẠN (36) CŨNG E HOANG TÀN.

CỐ HỔ ĐẦU CÙNG CHÀNG MA CẬT (37)

NHẮP CHÉN SAY, VẺ ĐẸP THẦN KỲ.

CHÂN DUNG TIÊN THỌ ĐÔNG TR̀,

CHU CÔNG, CỬU LĂO (38) CÓ G̀ KÉM ĐÂU”

 

          Vương dâng biểu bái tạ, trong đó có viết: “Từ lâu đội ơn vua chiếu cố gây dựng cho. Nhưng đức kém tài chẳng đủ. Tuy suy nghĩ thật nhiều để giúp nước, nhưng cũng chỉ tuổi già vô dụng, mà được tiếng khen như Cơ Đán, e rằng để tiếng cười cho hậu thế. V́ vậy tuổi đến bảy mươi mà cảm thấy thẹn được ân sủng ban thưởng, Kính đọc Ngự chương (39) đă sang tỏ lời dạy bảo” . Đế ngợi khen.

 

          Mùa thu năm Tự Đức thứ 33, con kế tập của Vương là Quận công Hồng Cật qua đời. Vương buồn thành bệnh, dâng sớ xin thôi việc ở Tôn Nhơn Phủ. Đế bảo: “Việc tại phủ chẳng bận rộn ǵ nhiều. Vương lớn tuổi, thành thạo công việc điều khiển th́ lấy ǵ làm khó mà từ chối. Nên giữ ǵn mà hưởng tuổi trời. Con cái đông th́ chọn đứa khác kế tập th́ cũng là thường t́nh như mọi người, chớ thương tâm mà thành bệnh. Nên nghĩ  chuyện trọn đời giúp nước”.

 

NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI

 

          Mùa hạ năm Tự Đức 36, Dực Tông Hoàng Đế mất. di chiếu cho Cung Tông Huệ Hoàng Đế nối ngôi khiến Vương và Tuy Ly Quận Vương là hai người thân mà tuổi và đức hạnh hơn người, phàm thấy điều ǵ sai trái th́ nên sửa cho đúng, để làm tốt.

 

          Mùa thu năm ấy, di chiếu tôn Trung Phi (là Lệ Thiên Hoàng Hậu) làm Hoàng Thái Hậu. Lúc đó quyền thần lập Lăng Quốc Công nối ngôi. Quần thần bàn bạc, lấy làm khó trong việc tôn xưng. Vương bèn xin theo lệ Hoàng Hậu đời nhà Tống (40). Vương liền họp Tôn Nhơn Phủ cùng đ́nh thần dâng sớ, dùng chữ hay lời đẹp, tôn Trung phi làm Khiêm Hoàng Hậu. Nhờ thế nước mới được yên, mùa đông năm ấy, gặp lễ Ninh Lăng (41), Vương sung đề chủ.

 

          Mùa hạ Hàm Nghi nguyên niên, kinh thành có biến xuất đế (42) rời kinh , nước không có chủ, phụng chỉ lưỡng cung (43) Vương nhiếp chính, coi việc nước. Vương thấy nhân tâm hơi định, tâu xin cho các Vương như: Tuy Ly, Hải Ninh, Hoằng Hóa, trước kia bị lỗi, đưa đi an trí ở các tỉnh, được trở về Kinh. . Mùa Thu năm ấy Cảnh Tông Thuần Hoàng Đức tức vị, Vương xin thôi nhiếp chính, nhưng vẫn giữ việc ở Tôn Nhơn Phủ. Đế thấy Vương phẩm trật quá cao, không thể phong tước thêm nên đặt biệt ban cho 200 lượng bạc để giúp việc sinh sống.

 

          Mùa đông Đồng Khánh nguyên niên (1885), Vương mất thọ 77 tuổi. Đế nghe rất thương tiếc, cho nghỉ triều 3 ngày, lệnh cho các Hoàng thân đem rượu đến cấp, ban cho tên thụy là Đoan Kháp. Vào ngày táng, Đế sai quan đến cúng, lại phụng mệnh lưỡng cung ban cho một đàn cúng. Vương an táng tại vùng mộ thuộc Dương Xuân (nay thuộc xă Thủy Xuân, thành phố Huế); nhà thờ ở Đông Tŕ (nay thuộc khu vực 3, phường Phú Cát, Huế), do nhà cũ sửa sang lại.

 

          Tác phẩm của Vương có “Minh Mạng Cung Từ” và “Tỉnh Minh Ái Phương phi tập”.

 

          Vương có 78 con trai, 66 con gái. Con trưởng là HỒng Tuấn, được ân phong Mộng Ấn Đinh Hầu. Con thứ 7 là Hồng Cát, tập phong Đ́nh Hầu. Năm Tự Đức thứ 21, tập phong Thọ Xuân Huyện Công và năm Tự Đức thứ 31 tập phong Quận Công. Con thứ 20 là Hồng Triêm, ân phong Trợ Quốc Khanh. Con thứ 15 là Hồng Hàm, ân phong Phụng Quốc Công. Con thứ 31 Hồng Cấn, ân phong Trợ Quốc Uy. Đích tôn Ưng Hào tập phong Thọ Xuân Hương Công, rồi nhờ tước mà kiêm nhiếp Tôn Nhơn Phủ, Hữu Tôn Khanh. Năm Thành Thái thứ 14 được cải thành Quang Lộc Tự Khanh.

 

KẾT LUẬN

 

          Vương tính có hiếu, ăn ở thuận với anh em, cung kính thận trọng, tuổi cao , đức lớn, triều đ́nh trông cậy đă lâu, nắm trọng trách trong Công tộc. Hơn 50 năm đứng đắn dẫn dắt kẻ dưới, ôn ḥa sửa trị mọi người, thiết lập điều lệ khen thưởng, chọn người hiền tài, hoàn thành được phần lớn Khánh Phả. Năm Ất Dậu, khi có biến khẩn cấp, Vương đă lấy vai tṛ Thân Vương Nhiếp Chính quyết đoán việc lớn, làm hết hiềm nghi, mọi việc đều tŕnh tâu khiến ḷng người có nơi nương tựa, chuyển nguy thành an. Nếu chẳng là người có Đức độ cao và ḷng Trung than th́ khó đạt được. Cho nên Vương được Phú quí, sống thọ nhiều con trai, các điều phúc đều đầy đủ, và từ trước đến nay trong các Vưong tước, chỉ có ḿnh THỌ XUÂN VƯƠNG được như vậy.

 

LƯỢC GIẢI:

(1) Xuất các: ra ở riêng. TỪ xuất các được dung cho các Hoàng tử, Thái Tử hoặc các Quan ngày xưa

(2) Ứng chế: thể văn vua đề ra

(3) Cung từ: thơ văn ghi chép chuyện trong Cung cấm

(4) Từ chỉ: lời chỉ dạy của Hoàng Hậu, hoặc Hoàng thái Hậu. Ở đây chỉ lời dạy bảo của Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu.

(5) Tinh Biểu: nhà riêng Vua cho lập đối với người trung hiếu, tiết nghĩa để bày tỏ ưu đăi đặt biệt.

(6) Lễ Linh Lăng: lễ an táng vua. Năm 1841 an táng vua Minh Mạng.

(7) Đề chủ: là người viết tên vào thần chủ trong lễ tế trước khi rước Thần chủ vào miếu.

98) Chu Tước: là tên chung của 7 v́ sao ở phương nam thuộc Nhị thập bát tú Cửa Chu Tước là cửa hướng về Nam, tức cửa chính.

(9) Thăng phối: lễ rước Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu thờ chung với Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế tại Thế Miếu.

(10) Đại Nam Hội Điển: là bộ sách về luật lệ phép tắc nhà Vua qui định về xây dựng Cung điện, dinh phủ, đền đài…. (và đủ mọi vấn đề). Đúng tên bộ sách là: Đại Nam Hội Điển Sử

(11) Tri thiên: Từ dùng để chỉ tuổi 50. Theo sách Luận ngữ: “ Ngũ Thập tri Thiên mệnh”, nghĩa là 50 tuổi biết mệnh trời.

(12) Cơ Đán: là Chu Công, con thứ của Văn Vương nhà Chu, em của Vũ Vương, có công xây dựng sự nghiệp nhà Chu.

(13) Đông B́nh: tức Đông B́nh Vương, em thứ 8 của Quang Vũ nhà Hán, có công sửa sang lễ nhạc, đă có câu nói “ Thiện Tối Lạc” Nghĩa là làm việc thiện là vui hơn  cả.

(14) Xích thối: là thước tất, nói chút ít,

(15) Thù ân: ân đặt biệt.

(16) Nhiếp hiến: công việc dâng cúng.

(17) Nhuyễn dư: là loại xe, lấy cỏ bọc bánh xe đi cho êm.

(18) Nhĩ thuận: chỉ tuổi 60, Theo sách Luận ngữ: Lục thập nhị Nhĩ thuận” nghĩa là tuổi 60 nghe ǵ là hiểu ngay.

(19) Tiên phi: là Đức phi, mẹ ngài Thọ Xuân Vương.

(20) Văn Vương là em của Vũ Vương, Chú của Thành Vương, so sánh với Thọ Xuân Vương là con của Thánh Tổ, em của Hiến Tổ và chú của Dực Tông.

(21) Trong kinh thi c̣n kém: y nói con của Văn Vương là 100 người.

(22) Lương hiếu: tứ Lương Hiếu Vương con của Hán Văn Đế, có lập diện Hoa Cung để chiêu tập hào kiệt bốn phương.

(23) Trung sơn, tức Trung Sơn Tĩnh Vương, con thứ 7 của Hiếu Cảnh nhà Hán.

(24) An B́nh, tức An B́nh Công, đời Chiến quốc, tên là Điền Hán, có công đánh đuổi quân Yên, khôi phục lại nước Tề.

(25) Tùng Tuy, tức Tùng Thiện Vương Miên Thẩm và Tuy L‎ư Vương Miên Trinh rất giỏi văn thơ.

(26) Ninh Thuận: (Quận Vương) là con thứ 4 của Thánh Tổ, em của Thọ Xuân Vương.

(27) Đinh Viễn (Quận Vương) là con thứ 6 của Thế Tổ

(28) Thần Châu tam đảo: đết Trung Hoa có 3 đảo có tiên là: Bồng Lai , Phương Trượng  và Doanh Châu.

(29) Đông Tŕ thuộc phường Phú Cát, Huế ngày nay trên bờ song Hương, gần bến đ̣ Cồn.

(30) Lưong Đ́nh: đ́nh hóng gió mát, Úc quán: quán tránh gió lạnh.

(31) Lậu là đồng hồ nước thời xưa.

(32) Song tinh là 2 ngôi sao Khiêu Ngưu và Chức Nữ trong Nhị thập bát tú.

(33) Đạo Uẩn: tức Tạ Đạo Uẩn đời Tống học rộn giỏi thơ. Trần Tư là Tào THực, con của Tào Tháo, đời Tam Quốc, được phong Trần Tự Vương, có tài đi bảy bước làm xong một bài thơ.

(34) Ung môn, tức Ung Môn Chu, người nước Tề đờ Chiến Quốc, ở Ung Môn, lấy Ung Môn làm hiệu, giỏi đàn, đă đàn làm cho Mạnh Thường Quân khóc.

(35) Tử kinh: một loài cây có hoa thường trồng trước sân. Anh em họ Đê chia gia tài, định chặt cây Tử kinh mà chia, cây khô héo mà chết.

(36) Vườn thỏ ao nhạn dịch chữ “Thố viên nhạn tŕ” trong cung điện vĩ đại của Lương Hiếu Vương.

(37) Cố Đổ Hầu, người nước Tấn, giỏi về họa, nổi danh ba tuyệt: tài tuyệt, họa tuyệt và sĩ tuyệt. Ma Cật tứ Vương Duy đời Đường, tiến sĩ, làm quan đến thượng Thư giỏi thơ và hoạ.

(38) Cửu lăo: 9 cụ lăo vẽ chung vào một h́nh “Cửu Lăo Đồ” gồm có: Bạch Cư Dị đời Đường. Cùng với Hồ Cảo, Cát Vân, Trịnh Cứ, Lưu Chân, Lư Chân, Lư Trinh, Trương Hồn và Địch Kim Nộ là những người sống lâu nhất thời ây.

(39) Ngự chương: là văn của nhà vua viết.

(40) Lúc này Tôn Thất Thuyết nắm quyền, đưa Lăng Quốc Công Hồng Dật lên ngôi (Vua Hiệp Ḥa). Hiệp Ḥa là em Tự Đức, gọi Lệ Thiên Anh Hoàng hậu là chị dâu. Nếu tôn Thái Hậu sẽ khó xưng hô. Vương lấy trường hợp đời nhà Tống, khi Thái Tổ mất, em là Triệu Quang Nghĩa nối ngôi không thể tôn chị dâu làm Thái Hậu. Do đó chỉ tôn Trung phi Lê Thiên Anh Hoàng Hậu làm Hoàng hậu.

(41) Lưỡng Cung, tức hai bà Nghi Thiên Chung Hoàng hậu và Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (vợ Vua Thiệu Trị và vợ Vua Tự Đức).

 



UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN.

 

            Nhớ xưa Ngài Thọ Xuân Vương

Minh Tánh Hoàng Tử, Trung Lương Đông Tŕ

Thiên tài văn  phú Đường thi

Đệ nhất ứng vịnh c̣n ghi bảng vàng

Cung từ Tùng Thiện đề trang:

“Thọ Xuân xướng họathơ vang lưu trường”

Vua ban đàn quí lư hương

Đàn ngân tiếng vọng, lư đường khói thơm

Hiếu ngang tầm núi Thái Sơn

Đức trọng như biến sâu hơn Thái B́nh

 

Nhiếp chánh khi Vua thân chinh

Đức tài đă tạo an b́nh Đế đô

Sứ Thanh Bửu Thạnh hồ đồ

Thọ Xuân ngăn bước: sóng xô đá tràn

Thưởng công ngọc trắng Vua ban

Ngoại giao, phép nước vẹn toàn cương nhu

Ngự tiền thêm bạn bớt thù

Thân thần xua áng mây mù bang giao

 

Tuổi tri thiên mệnh lộc cao

Vua ban chỉ dụ xiếc bao ân t́nh:

“Đồng Môn, Huynh Đệ đồng sinh

Trước ḷng thân ái, nay t́nh Vua Tôi.

Phước nhân hưởng thọ tuổi trời

Duyên lành tăng trưởng, đạo trời ngát hương…”

 

Sáu mươi phong tặng Quận Vương

Tuổi cao đức trọng vẹn đường hiếu trung

Vua Ban Vương tước Thọ Xuân

Phúc, Quy, Thọ, Thất thập xuân niên trường

Bài ca tuyệt kỷ văn chương

T́nh như thấm nước, nghĩa dường đượm non

Vua tặng người: Một ḷng son

Lưu truyền hậu thế hăy c̣n vang vang…

 

Gặp khi vận nước suy tàn