GIA

PHẢ

TỘC

Phạm
Văn
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ

Tộc Phạm Văn là một tộc lớn, có công khai khẩn và thành lập làng Xuân Đài, nay thuộc xã Điện Quang - Huyện - Điện Bàn - tỉnh Quảng Nam.
Tổ Tiên ta là người ở miền Bắc, đã cùng với các tộc Khác di cư vào Nam lập nghiệp, từ thời Lê - Mạc (Nhà Lê sau bị họ Mạc cướp ngôi). Trong khi khai cơ lập nghiệp ở Xuân Đài, lúc đầu Tổ Tiên cuả chúng ta phải lo xây dựng cơ sở, khai phá đất hoang lo việc canh tác. Vì vậy, Ngài chưa chú trọng đến việc ghi chép nguồn gốc, nơi phát tích để truyền lại cho con cháu đời sau. Khi Ngài qua đời, các thế hệ kế tiếp cũng chưa ghi chép đầy đủ công đức, hành trạng của Thuỷ Tổ. Mãi về sau này con cháu có chép trường biên về Tổ Tiên của mình, nhưng rồi chiến tranh tràn lan, các tài liệu ghi chép về Thuỷ Tổ và các đời trước đã bị thất lạc, mất mát. Và có lẽ một thời gian dài sau đo, trong Gia Tộc ít ai quan tâm đến việc ghi chép Gia phổ nên trong các chi phái tộc Phạm Văn nay cùng ở Xuân Đài nhưng không thể nhận là có quan hệ họ hàng. Tuy nhiên, qua tìm hiểu ghi trong Gia phổ các chi phái đều có câu truyền ngôn : Tiền Hiền của châu Xuân Đài là Ngài Hồng Lư Phạm Quý Công. "Bổn châu Tiền hiền thế truyền Hồng Lư Phạm Quý Công kỳ nhứt giã". Đó là lời mở đầu của Gia phổ tộc Phạm phái ba.

Ngoài ra, con cháu trong các chi phái tộc Phạm Văn ở Xuân Đài, từ trước đến nay không có quan hệ hôn nhân. Vì họ cho rằng, con cháu tộc Phạm Văn ở Xuân Đài đều cùng một cội nguồn. Như vậy, trong chừng mực nào đó, các chi phái tộc Phạm Văn tuy chưa tìm ra tài liệu để chứng minh là con cháu của Thủy Tổ cùng một cội nguồn nhưng mọi người đều hiểu ngầm là các chi phái tộc Phạm Văn ở Xuân Đài đều cùng một nguồn gốc.

Việc chứng minh Ngài Phạm Hồng Lư Là Thuỷ Tổ gặp rất nhiều khó khăn, nhưng không làm nhụt chí những người có tấm lòng sâu nặng đối với Gia Tộc. Do vậy, mỗi chi phái tạm thời dừng công việc tìm tài liệu để chứng minh có cùng một cội nguồn, thì họ lại lo sưu tầm tài liệu ( giấy từ điền thổ, thuế khoá... và qua truyền ngôn...) để ghi chép Gia phổ truyền lại cho con cháu đời sau.
Ơ phái ba chi nhất của chúng ta, các Ngài ở đời thứ 7- 8 (theo Gia phổ của phái ba) tức đời thứ 9 và 10 theo Gia phổ của toàn tộc. Những vị này học hành thi cử đỗ đạt, có vị thuộc hạng cự phú, đã dày công tìm cách ghi chép Gia phổ của chi phái mình.
Ngài Phạm Văn Khoa ( sinh năm Đinh Tỵ 1797) thế sanh Tư Hường Lê, bắt đầu sưu tập tài liệu chuẩn bị biên chép Gia phổ của phái ba. Con của Ngài là Phạm Văn Vận, đỗ Tú tài đời Tự Đức Nguyên niên đã kế tục phụ thân hoàn thành việc biên chép Gia phổ.
Sau đó ông Phạm Văn Thục, đỗ Tú tài năm Tự Đức thứ 32 và ông Phạm Tuấn đỗ Tiến sĩ năm Thành Thái thứ 10, là con của Ngài Phạm Văn Vận. Ông Phạm Tuấn làm đốc học ở Hoà Tỉnh, đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu Gia phổ của tộc Phạm Văn để tìm ra manh mối của Thuỷ Tổ. nhưng ý định tốt đẹp đó của Ông chưa được thực hiện. Hai ông bổ sung thêm vào Gia phổ bài “Gia phổ tộc Phạm ”. Hai bài văn bia thần đạo (Bia dựng ở mả Tổ đời thứ ba và thứ 4) tục biên các đời kế tiếp.

Trong lời mở đầu của Gia phổ phái ba (chữ Hán) các ngài ghi chép Gia phổ cho biết Tổ đời thứ I là Phạm Quý Công Huý Hồng Lư, quê quán ở xã Thuê Lưu, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Việc ghi chép Gia phổ đã có một bước tiến mới, có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho con cháu đời sau hiểu được nguồn gốc và công đức của Tổ Tiên, nó là lịch sử của Tổ Tiên nhiều đời truyền lại, và trong Gia phổ đã có nhiều điều mà Tổ Tiên muốn giửi gắm lại cho đời sau.
Công việc ghi chép Gia phổ của các chi phái tạm ổn, thì việc xác định các chi phái tộc đều là con cháu của Thuỷ Tổ, nổi lòng ưu tư về cội nguồn đó lại bùng lên.
Đời thứ 11 Tiến sĩ Phạm Tuấn, người có uy tín và danh vọng cao trong Tộc đã đứng ra tập hợp các chi phái, nghiên cứu những giấy tờ tư liệu còn lại, để chứng minh về cội nguồn, nhưng việc cũng không thành và nổi ưu tư lớn của con cháu trong Tộc chưa được giải quyết. Năm 1940 việc dựng bia Tiền Hiền của Tộc chúng ta lại được đặt ra, nhưng bằng chứng chưa rõ ràng nên cả ba phái đành gát lại.
Năm 1940, ông Phạm Tịnh thuộc chi nhứt, phái nhứt được biết ở nhà ông Phạm Nhành, hệ trưởng trong chi, có một ống tre lâu đời, trong đó có nhiều giấy tờ văn khế bằng chữ Hán, ông Phạm Tịnh được sự đồng ý của ông Phạm Nhành, đã cùng với mấy người trưởng lão trong Tộc khai ống giấy ra xem. Ngoài một số giấy về văn sớ cúng tế, khế ước vay mượn, cầm chấp ruộng đất đã lâu đời, phát hiện có một bản ghi tóm tắt Gia phổ tộc Phạm Văn từ đời thứ nhứt đến đời thứ tư.

Thuỷ Tổ của chúng ta là Phạm Đại Lang Huý Hồng Lư Tự Kim Chú, quê quán ở xã Mỹ Huệ, huyện Tân Minh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Triều Lê Anh Tôn năm chính trị thứ tư (1561). Ngài cùng Thuỷ Tổ các tộc Trịnh, Lương, Đoàn, Huỳnh, Văn, Lê di cư vào Nam ra sức khai phá đất hoang thành ruộng vườn tươi tốt, lập xã hiệu Xuân Đài, diện tích một trăm hai mươi tư mẫu, chia làm 3 xứ là : Diên Trạch, Xuân Minh và Nguyệt Đài.

Ngài sinh được 3 trai chia thành 3 phái, phổ hệ như sau:
*Đời thứ nhứt : Phạm Đại Lang huý Hồng Lư tự Kim chú.
Thuỷ Tổ tỷ : Trương Thị Điền. Sanh hạ ba nam : Phạm Văn Nghị - Phạm Văn Trung - Phạm Văn Trực.
* Đờ thư hai, phái nhứt
Phạm Văn Nghị
Tổ Ty : Nguyễn Thị Ninh.
Sanh ha : Phạm Văn Hào - Phạm Văn Thân
* Đời thứ hai, phái nhì :
Phạm Văn Trung
Tổ tỷ : Lê Thị Tâm.
Sanh ha : Phạm Văn Ba - Phạm Văn Kiều
-Đời thứ hai, phái ba.
Phạm Văn Trực
Tổ Tỷ : Lương Thị An
Sanh hạ: Phạm Văn Tượng- Phạm Văn Chánh.
* Đời thứ ba, Phái nhứt.
Phạm Văn Hào
Tổ Tỷ : Nguyễn Thị Yên
Sanh ha : Phạm Văn Lộc
* Đời thứ ba, phái nhứt, chi nhì :
Phạm Văn Thân
Tổ Ty : Nguyễn Thị Sâm
Sanh Ha : Phạm Văn Bằng
* Đời thứ ba, phái nhì, chi nhứt :
Phạm Văn Kiều
Tổ Tỷ : Trương Thị Liên
Sanh ha : Phạm Văn Khương- Phạm Văn Thuận
* Đời thứ ba phái nhì chi nhì :
Phạm Văn Ba
Tổ ty : Phạm Thị Huyền
Sanh ha : Phạm Đăng Triều- Phạm Đăng Vũ - Phạm Đăng Trực.
* Đời thứ ba, phái ba, chi nhứt.
Phạm Văn Tượng
Tổ tỷ : Đoàn Thị Trọng
Sanh hạ : Phạm Văn Sĩ, Phạm Văn Kế
* Đời thứ ba, phái ba, chi nhì.
Phạm Văn Chánh.
Tổ tỷ: Đoàn Thị Nhơn
Sanh ha : Phạm Công Trang- Phạm Công Tịnh.
Như vậy, tộc chúng ta có 3 phái, chia thành sáu chi kế tục đến ngày nay.
Trong Gia phổ bằng chữ Hán của phái ba chúng ta ghi Tổ đời thứ nhứt là Hồng Lư Phạm Quý Công, nhưng sau đó lại ghi la :
“Đệ nhứt thế tổ Hồng Lô Tự Thiếu Khanh Phạm Tiên Công...” Có lẽ khi biên chép Gia phổ các Ngài đời trước chưa nắm chắc được đời thứ nhứt và thứ nhì, nay con cháu chúng ta đã làm sáng tỏ, về địa danh lại ghi quê quán ở xã Phù Lưu, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Cũng có lẽ trước khi vào Nam các Ngài đã dừng chân tại đây. Vì vậy chúng ta phải bổ sung thêm vào Gia phổ cho đầy đủ, để con cháu ngày sau xem bản Gia phổ bằng chữ Hán khỏi phải nghi vấn.
II. MỘ CHÍ- NHÀ THỜ VÀ NGÀY GIỖ TỔ
Thuỷ tổ được an táng ở Xuân Minh Thượng gần cồn Mồ. Năm 1976 cải táng sang xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.
Mộ tổ của 3 phái nằm ở phía Nam gần mộ Tiền Hiền cũng đã cải táng sang Duy Châu, Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Với tấm lòng hướng về Tổ Tiên, cội nguồn, con cháu nội ngoại trong Gia tộc đã cùng chung lo xây dựng lại lăng mộ của cụ Thủy tổ và mộ Tổ của 3 phái rất khang trang, qui mô. Lăng mộ được khánh thành vào dịp 10/2 năm Ất Dậu ( 19/3/2005).
Các mộ Tổ đời thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu của phái ba, an táng rải rác trong các cồn mả, đất tư từ cồn Từ bi lên đến cồn Mồ (xứ Xuân Minh), bị chiến tranh tàn phá cày ủi nhiều lần, tiếp đến sau giải phóng 1975 cải tạo làm ruộng cấy, chỉ còn sót lại một ít mảnh bia bể, số còn lại từ đời thứ bảy đến đời thứ mười, cũng đã được đưa sang an táng ở Duy Châu, và sẽ có kế hoạch tu sửa lại. Những phần mộ các Ngài lớp trên còn vết tích Gia phổ của chi chúng ta có ghi đời thứ năm (tức đời thứ bảy gia phổ của Tộc) có thiết lập Từ Đường nhưng không ghi rõ vị trí, sau đó đến đời thứ tám, chín mới thiết lập Từ Đường, người ta thường gọi là nhà Thờ ông Hường Phạm, để tránh trùng với nhà thờ các chi phái khác. Sau khi tộc dựng bia Tiền Hiền (1944) con cháu trong Tộc đã đóng góp công của xây dựng nhà thờ vào năm 1962, tại nền nhà thờ của phái nhứt, chi nhứt, nhưng sau đó cũng bị chiến tranh tiếp tục tàn phá. Sau ngày nước nhà độc lập, đất nước được giải phóng hoàn toàn, con cháu trong tộc lại đóng góp công sức phục hồi lại nhà thờ vào năm 1990.
Việc tập họp con cháu nội ngoại để tu tảo phần mộ, ôn lại công ơn của Tổ Tiên trứoc năm 1935 vào tiết Đông chí, sau này chuyển vào tiết Thanh Minh (ngày 10 thâng 2 hàng năm).
III. CÔNG ĐỨC, HÀNH TRẠNG VÀ CON CHÁU KẾ TRUYỀN CỦA CÁC THẾ HỆ THUỘC PHÁI BA- CHI NHỨT
- Tổ của phái ba là ngài Phạm Văn Trực
- Tổ tỷ là Lương Thị An.
Sanh hạ hai trai: Phạm Văn Tượng và Phạm Văn Chánh.
Ngài Phạm Tiên Công huý Văn Tượng tự Pháp Càng là Tổ của chi chúng ta. Tổ tỷ là Đoàn Thị Trọng.
- Tiên Công sanh hạ Phạm Tôn Công huý Văn sỹ.
- Tôn Công sinh Phạm Danh Công huý Văn Lễ tự Gia Hội.
Ngài Phạm Văn Lễ và tổ tỷ là Nguyễn Thị Nữ.
Sanh hạ bốn trai và một gái. Bốn người con trai thuộc đời thứ bảy lập thành bốn phân chi.

1. PHẠM VĂN ĐIỆP
2. PHẠM VĂN TRINH
3. PHẠM VĂN HIỀN
4. PHẠM VĂN THANH

* PHÂN CHI THỨ NHỨT

Tổ của Phân chi thứ nhất là Ngài Phạm Văn Điệp sang ở Chiêm Sơn (nay là xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên). Sau vài đời sát nhập Chiêm Sơn. Truyền đến đời thứ 10 không con trai nối dõi, vô tự.
* PHÂN CHI THỨ HAI
Tổ của chi thứ hai là Ngài Phạm Văn Trinh, con cháu đều ở tại Xuân Đài và Phi Phú. Truyền đến đời thứ 9,10,11. Con cháu phát triển khá đông, học hành thi cử đỗ đạt làm rạng rỡ cho cha ông và Gia Tộc. Tiêu biểu là ông Phạm Tuấn đỗ Tam giáp Tiến sĩ niên hiệu Thành Thái thứ mười. Vinh quy bái tổ cùng bốn vị đại khoa được nhà vua ban tặng danh hiệu “Ngũ Phụng Tề Phi ”. Sau ra làm quan đốc học ở tỉnh Hà Tỉnh được phong hàm Hồng Lô Tự Khanh.
Trong phân chi thứ hai ở đời thứ tám, Ngài Phạm Văn An truyền đến đời thứ mười, con cháu khá đông. Ông Phạm Văn Thông (Đời thứ mười) chuyển vào chợ Cầu Dấp, xã Hanh Thông Tây, Gia Định làm thầy thuốc Bắc. Trong Gia phổ ghi tiếp các đời sau.
Ngài Phạm Văn Bổn (đời thứ 8) chuyển về ở Phi Phú, truyền đến đời thứ mười, tức tú tài Phạm Văn Vận. Sinh hạ năm người con, ba người ở tại Phi Phú (ông cả, ông thứ ba và ông út) ông thứ hai ở theo quê vợ thuộc thôn Quảng Đại, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam). Đến nay ở Đại Cường, Đại Thạnh còn mấy gia đình, một ông về ở lại Xuân Đài, số còn lại phân tán ở nhiều nơi, nay tại Phi Phú không còn ai.
Người con thứ tư dạy học ở Cây Trâm (xã Tam Thanh, huyện Tam Kỳ) có vợ con ở đó, con cháu nối tiếp cho đến nay. Hiện nay con cháu có người ở Hoa Kỳ.
* PHÂN CHI THỨ BA
Tổ của phân chi thứ ba là ngài Phạm Văn Hiền, truuyền đến đời thứ mười con cháu chuyển lên ở thôn Phiếm Aí, Đại Nghĩa, Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nay còn một gia đình ở đó.
* PHÂN CHI THỨ TƯ
Tổ của phân chi thứ tư là Ngài Phạm Văn Thanh, truyền đến đời thứ 9, con cháu phát đạt giàu có, ruộng đất nhiều. Đời thứ mười có ông Phạm Văn Hữu sĩ ở tỉnh Thành La Qua (tỉnh Thành Quảng Nam), nay là Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn. Ông ở theo quê mẹ, sinh hạ ba người con trai :
1. Phạm Văn Tình thông lại ở Phủ Điện Bàn.
2. Phạm Văn Phước thông lại huyện Quế Sơn.
3. Phạm Văn Toản thông lại ở Ty Thiên Quảng Nam. Các ông nhập cư ở Phú Triêm, nay là xã Điện Phương, huyện Điện Bàn. Sinh hạ con cháu khá đông ở rải rác Bằng An, Điện An, huyện Điện Bàn, Uất Luỹ Điện Minh- Điện Bàn, chợ mới Ba xã ( Hoà Phước- Đà Nẵng) và các nơi khác. Lập thành một Tộc có nhà thờ tại Phú Triêm. Hàng năm, lấy ngày 20 tháng hai làm ngày giỗ Tổ.
Đời thứ mười hai có ông Phạm Văn Tỵ chuyển về Bến Dầu (Đại Thạnh - Đaị Lộc), truyền đến đời thứ mười lăm, nay đã chuyển vào miền Nam. Số con cháu còn ở lại Xuân Đài, đến đời thứ mười bốn, nay di chuyển đến ở Đà Nẵng, Bình Định, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại ở Xuân Đài không còn ai.
* VIỆC TỤC BIÊN GIA PHỔ
Cùng với sự thăng trầm của dân tộc, xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước, dân tộc ta phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh gây nên. Từ năm 1954 đất nước ta chia làm hai, ngọn lửa chiến tranh bắt đầu bùng cháy, cả nước rơi vào cơn binh lửa. Một cuộc chiến tranh tàn khốc đã diễn ra, nhân dân hai miền Nam Bắc lại phải chịu nhiều đau thương mất mát, trong đó có Gia tộc của chúng ta.
Mồ mả, nhà cửa, đền thờ bị tàn phá, những người thân của chúng ta phải lìa bỏ đất Tổ quê cha, để lo tìm đường lánh nạn, và tìm kế sinh tồn. Một điều vô cùng xót xa và thương cảm cho những người thân của chúng ta, đã vĩnh viễn nằm lại nơi đất khách quê người, và những người tuy còn sống nhưng không biết đuờng để tìm về với cội nguồn (Tổ Tiên) của mình.
Những di sản và cơ nghiệp, do Thuỷ Tổ của chúng ta giàu công khai sáng, lại một lần nữa phải chịu tàn phá của chiến tranh, nhà thờ, mồ mả Tổ Tiên bị hư nát do bom đạn, con cháu phải phân tán các nơi để tìm con đường sống. Do đó việc tục biên Gia phổ phải tạm dừng.
Sau năm 1975 đất nước được thống nhất, mọi người bắt tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh. Con cháu lại quay về nơi quê cha, đất tổ và tiếp tục gây dựng lại cơ nghiệp của cha ông ta, nhà cửa, vườn tược lại được hồi sinh. Đời sống vật chất tạm ổn, con cháu lại để tâm lo nghĩ về Tổ Tiên, dòng họ. Ngày giỗ tổ (vào tiết Thanh Minh) con cháu lại tụ họp về Xuân Đài đông đủ để tượng niệm, và nhắc nhở nhau về công ơn của những người khai sáng.
Thời gian này để mọi người hồi tỉnh trở lại sau bao nổi thăng trầm, khó khăn do chiến tranh đem lại. Những người có tâm huyết phụng sự Tổ Tiên, lo việc trùng tu mồ mả của cha ông, vận động con cháu đóng góp công sức, của cải xây dựng Từ Đường để có nơi thờ tự và tiếp tục sưu tầm, ghi chép Gia phổ, làm sáng tỏ thêm nguuồn gốc của cha ông, và truyền lại cho con cháu muôn đời sau.
Tiêu biểu và người có công lớn nhất ở giai đoạn này trong công việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn Gia phổ, chăm lo việc tu tổ, xây dựng lại các mồ mả của các thế hệ ông cha chúng ta, đó là ông : Phạm Văn Đằng thuộc thế hệ thứ mười ba, là một tấm gương sáng, giàu lòng nhân ái- sự hiểu biết và tận tâm đối với Tổ Tiên, có trách nhiệm với các thế hệ sau trong việc phát huy, bảo tồn và giữ gìn truyền thống tốt đẹp của Tổ tiên. Tấm lòng và công lao của ông đã kế tiếp xứng đáng làm rạng rỡ thêm công vinh của dòng tộc.
Một sự kiện tiêu biểu nhất do công lao của ông xây dựng nên đó la:
* Tìm kiếm thi hài của cố cụ Tiến sí Phạm Tuấn (đã bị mất dấu vết do chiến tranh tàn phá). Tổ chức vận động con cháu đóng góp để có điều kiện tu bổ, xây dựng lại lăng mộ cụ khang trang xứng đáng với uy danh của cụ.
Tuy tuổi cao, sức yếu, phương tiện đi lại khó khăn, ông đã kiên trì, nhẫn nại đi lại nhiều nơi, đến làm việc với nhiều cấp chính quyền, các ngành có chức năng và con cháu nội ngoại gần xa để vận động, quyên góp tiền của xây dựng hoàn chỉnh Lăng mộ của cố cụ Tiến sĩ Phạm Tuấn. Một sự kiện hết sức quan trọng là ngày 15 tháng 8 năm 1997 UBND tỉnh Quảng Nam đã ra Quyết đính số 1550QĐ- UB công nhận Lăng mộ của cố cụ Tién sĩ : Phạm Tuấn là di tích lịch sử văn hoá của tỉnh nhà và ngày 15/02/2005, UBND tỉnh Quảng Nam có Quyết định số 440/QĐ-UB xếp hạng Lăng mộ của Cụ là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật của tỉnh Quảng Nam. Đây thật sự là một tài sản vô cùng quí báy của các thế hệ con cháu chúng ta. Lễ khánh thành đã được long trọng tổ chức vào 2 ngày mồng tám và mồng chín tháng 2 năm Canh Thìn (tức ngày 13 và 14 tháng 3 năm 2000). Công việc và tâm niệm của ông đã hoàn thành nhưng ông đột ngột lâm bệnh và qua đời ngày 18 tháng chạp năm...
Với câu châm ngôn “Uông nước nhớ nguồn” làm rạng danh Tông môn và truyền thống tốt đẹp của Gia Tộc. Là lớp người thuộc thế hệ sau xin kính dâng ông lòng biết ơn vô hạn, và mãi mãi ghi sâu công lao này của ông. Xin ông hãy yên lòng ra đi và yên nghỉ vĩnh hằng nơi miền cực lạc.
Trước khi dừng lại phần này (điểm lại công lao của ông Phạm Đằng đối với Gia Tộc và con cháu) bằng chính bút tích của ông khi ông viết cuốn Gia phổ này. Để các thế hệ con cháu chúng ta, khi đọc Gia phổ của chi phái mình hiểu thêm về tấm lòng và công lao của ông đối với việc giáo dục, phát huy, bảo tồn những giá trị văn hoá, tinh thần, và truyền thống tốt đẹp của Tổ Tiên chúng ta, Ông viết : “Nối chí của cha ông là hậu thế, chúng tôi chỉ có thể kế thừa đời trước, cố gắng đem chút sức mọn của mình dịch và ghi chép Gia phổ bằng chữ Hán sang tiếng Việt, sắp xếp theo sơ đồ và tục biên các đời kế tiếp, để cho con cháu có thể biết được mình thuộc chi chi nào, nhánh nào, và quan hệ thân tộc ra sao?. Nhằm góp phần làm cho dòng tộc và Gia tộc ngày càng rạng rỡ, ngày càng thịnh đạt và để cho con cháu đời sau nối tiếp được truyền thống cao đẹp mà Tổ Tiên đã dày công vun xới”.
Gia Phả Phạm Văn
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc Phạm Văn.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc Phạm Văn
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.