LỜI MỞ ĐẦU
Cuốn Gia phổ này được thực hiện dựa theo nguyên bản gốc của Gia phổ Tộc Phạm Văn, do Bác Phạm Đằng dịch và sắp xếp theo thứ tự ngôi bậc của từng chi phái, từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ. Đây là một tài sản vô cùng quí báy của các thế hệ con cháu chúng ta. Tiếc rằng, lúc thực hiện cuốn Gia phổ này, do tuổi cao, sức yếu và điều kiện đi lại sưu tầm tư liệu để biên soạn gặp nhiều khó khăn. Khi công việc đang thực hiện dỡ dang, thì Bác đột ngột lâm bệnh và qua đời. Do vậy, tuy cuốn Gia phổ đã được thực hiện song nó không làm thoả mãn hết ý nguyện của Bác “Nối chí của cha ông là hậu thế, chúng tôi chỉ có thể kế thừa đời trước, cố gắng đem chút sức mọn của mình dịch và ghi chép Gia phổ bằng chữ Hán sang tiếng Việt, sắp xếp theo sơ đồ và tục biên các đời kế tiếp để cho con cháu có thể biết được mình thuộc chi nào, nhánh nào và quan hệ thân tộc ra sao ? Nhằm góp phần làm cho Dòng tộc và Gia tộc ngày càng rạng rỡ, ngày càng thịnh đạt và để cho con cháu đời sau nối tiếp được truyền thống cao đẹp mà Tổ Tiên đã dày công vun xới”. (1)
Để tiếp nối phần việc còn dở dang và hoàn thành tâm niệm của bác Phạm Đằng - đối với Tổ Tiên - Gia Tộc và các thế hệ con cháu mai sau. Mặt khác, để làm sáng tỏ và đầy đủ hơn về cội nguồn, mồ mả mà trong Gia phổ có đề cập đến địa danh, nơi an táng các Tổ đời trước nhưng chưa rõ ràng hoặc đã bị thất lạc, hư hỏng, mất dấu tích ... Vì lẽ đó khiến tôi thực hiện tiếp công việc này.
Trong quá trình ghi chép do thiếu thông tin và tư liệu để tra cứu, nên có nhiều từ, địa danh, lai lịch của một vài trường hợp trong Gia phổ còn ghi sơ lược ... rất mong bà con góp ý, chỉ bảo thêm nhằm kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh cuốn Gia phổ này.
Với mong muốn như đã trình bày trên, hy vọng sẽ nhận được sự đồng tình ủng hộ và đóng góp xây dựng của bà con cô bác.
Tháng 3 năm 2000
Phạm Ngọc Châu
(Đời thứ 14)
(1) Trích nguyên văn bút tích của Bác Phạm Đằng
Mil: btxhdailoc@gmail.com
ĐT:0982047122
I. NGUỒN GỐC :
Tộc Phạm Văn là một tộc lớn, có công khai khẩn và thành lập làng Xuân Đài, nay thuộc xã Điện Quang - Huyện - Điện Bàn - tỉnh Quảng Nam.
Tổ Tiên ta là người ở miền Bắc, đã cùng với các tộc Khác di cư vào Nam lập nghiệp, từ thời Lê - Mạc (Nhà Lê sau bị họ Mạc cướp ngôi). Trong khi khai cơ lập nghiệp ở Xuân Đài, lúc đầu Tổ Tiên cuả chúng ta phải lo xây dựng cơ sở, khai phá đất hoang lo việc canh tác. Vì vậy, Ngài chưa chú trọng đến việc ghi chép nguồn gốc, nơi phát tích để truyền lại cho con cháu đời sau. Khi Ngài qua đời, các thế hệ kế tiếp cũng chưa ghi chép đầy đủ công đức, hành trạng của Thuỷ Tổ. Mãi về sau này con cháu có chép trường biên về Tổ Tiên của mình, nhưng rồi chiến tranh tràn lan, các tài liệu ghi chép về Thuỷ Tổ và các đời trước đã bị thất lạc, mất mát. Và có lẽ một thời gian dài sau đo, trong Gia Tộc ít ai quan tâm đến việc ghi chép Gia phổ nên trong các chi phái tộc Phạm Văn nay cùng ở Xuân Đài nhưng không thể nhận là có quan hệ họ hàng. Tuy nhiên, qua tìm hiểu ghi trong Gia phổ các chi phái đều có câu truyền ngôn : Tiền Hiền của châu Xuân Đài là Ngài Hồng Lư Phạm Quý Công. “Bổn châu Tiền hiền thế truyền Hồng Lư Phạm Quý Công kỳ nhứt giã “. Đó là lời mở đầu của Gia phổ tộc Phạm phái ba.
Ngoài ra, con cháu trong các chi phái tộc Phạm Văn ở Xuân Đài, từ trước đến nay không có quan hệ hôn nhân. Vì họ cho rằng, con cháu tộc Phạm Văn ở Xuân Đài đều cùng một cội nguồn. Như vậy, trong chừng mực nào đó, các chi phái tộc Phạm Văn tuy chưa tìm ra tài liệu để chứng minh là con cháu của Thủy Tổ cùng một cội nguồn nhưng mọi người đều hiểu ngầm là các chi phái tộc Phạm Văn ở Xuân Đài đều cùng một nguồn gốc.
Việc chứng minh Ngài Phạm Hồng Lư Là Thuỷ Tổ gặp rất nhiều khó khăn, nhưng không làm nhụt chí những người có tấm lòng sâu nặng đối với Gia Tộc. Do vậy, mỗi chi phái tạm thời dừng công việc tìm tài liệu để chứng minh có cùng một cội nguồn, thì họ lại lo sưu tầm tài liệu ( giấy từ điền thổ, thuế khoá... và qua truyền ngôn...) để ghi chép Gia phổ truyền lại cho con cháu đời sau.
Ơ phái ba chi nhất của chúng ta, các Ngài ở đời thứ 7- 8 (theo Gia phổ của phái ba) tức đời thứ 9 và 10 theo Gia phổ của toàn tộc. Những vị này học hành thi cử đỗ đạt, có vị thuộc hạng cự phú, đã dày công tìm cách ghi chép Gia phổ của chi phái mình.
Ngài Phạm Văn Khoa ( sinh năm Đinh Tỵ 1797) thế sanh Tư Hường Lê, bắt đầu sưu tập tài liệu chuẩn bị biên chép Gia phổ của phái ba. Con của Ngài là Phạm Văn Vận, đỗ Tú tài đời Tự Đức Nguyên niên đã kế tục phụ thân hoàn thành việc biên chép Gia phổ.
Sau đó ông Phạm Văn Thục, đỗ Tú tài năm Tự Đức thứ 32 và ông Phạm Tuấn đỗ Tiến sĩ năm Thành Thái thứ 10, là con của Ngài Phạm Văn Vận. Ông Phạm Tuấn làm đốc học ở Hoà Tỉnh, đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu Gia phổ của tộc Phạm Văn để tìm ra manh mối của Thuỷ Tổ. nhưng ý định tốt đẹp đó của Ông chưa được thực hiện. Hai ông bổ sung thêm vào Gia phổ bài “Gia phổ tộc Phạm ”. Hai bài văn bia thần đạo (Bia dựng ở mả Tổ đời thứ ba và thứ 4) tục biên các đời kế tiếp.
Trong lời mở đầu của Gia phổ phái ba (chữ Hán) các ngài ghi chép Gia phổ cho biết Tổ đời thứ I là Phạm Quý Công Huý Hồng Lư, quê quán ở xã Thuê Lưu, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Việc ghi chép Gia phổ đã có một bước tiến mới, có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho con cháu đời sau hiểu được nguồn gốc và công đức của Tổ Tiên, nó là lịch sử của Tổ Tiên nhiều đời truyền lại, và trong Gia phổ đã có nhiều điều mà Tổ Tiên muốn giửi gắm lại cho đời sau.
Công việc ghi chép Gia phổ của các chi phái tạm ổn, thì việc xác định các chi phái tộc đều là con cháu của Thuỷ Tổ, nổi lòng ưu tư về cội nguồn đó lại bùng lên.
Đời thứ 11 Tiến sĩ Phạm Tuấn, người có uy tín và danh vọng cao trong Tộc đã đứng ra tập hợp các chi phái, nghiên cứu những giấy tờ tư liệu còn lại, để chứng minh về cội nguồn, nhưng việc cũng không thành và nổi ưu tư lớn của con cháu trong Tộc chưa được giải quyết. Năm 1940 việc dựng bia Tiền Hiền của Tộc chúng ta lại được đặt ra, nhưng bằng chứng chưa rõ ràng nên cả ba phái đành gát lại.
Năm 1940, ông Phạm Tịnh thuộc chi nhứt, phái nhứt được biết ở nhà ông Phạm Nhành, hệ trưởng trong chi, có một ống tre lâu đời, trong đó có nhiều giấy tờ văn khế bằng chữ Hán, ông Phạm Tịnh được sự đồng ý của ông Phạm Nhành, đã cùng với mấy người trưởng lão trong Tộc khai ống giấy ra xem. Ngoài một số giấy về văn sớ cúng tế, khế ước vay mượn, cầm chấp ruộng đất đã lâu đời, phát hiện có một bản ghi tóm tắt Gia phổ tộc Phạm Văn từ đời thứ nhứt đến đời thứ tư.
Thuỷ Tổ của chúng ta là Phạm Đại Lang Huý Hồng Lư Tự Kim Chú, quê quán ở xã Mỹ Huệ, huyện Tân Minh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Triều Lê Anh Tôn năm chính trị thứ tư (1561). Ngài cùng Thuỷ Tổ các tộc Trịnh, Lương, Đoàn, Huỳnh, Văn, Lê di cư vào Nam ra sức khai phá đất hoang thành ruộng vườn tươi tốt, lập xã hiệu Xuân Đài, diện tích một trăm hai mươi tư mẫu, chia làm 3 xứ là : Diên Trạch, Xuân Minh và Nguyệt Đài.
Ngài sinh được 3 trai chia thành 3 phái, phổ hệ như sau:
- Đời thứ nhứt : Phạm Đại Lang huý Hồng Lư tự Kim chú.
Thuỷ Tổ tỷ : Trương Thị Điền. Sanh hạ ba nam : Phạm Văn Nghị - Phạm Văn Trung - Phạm Văn Trực.
-Đờ thư hai, phái nhứt
Phạm Văn Nghị
Tổ Ty : Nguyễn Thị Ninh.
Sanh ha : Phạm Văn Hào - Phạm Văn Thân
-Đời thứ hai, phái nhì :
Phạm Văn Trung
Tổ tỷ : Lê Thị Tâm.
Sanh ha : Phạm Văn Ba - Phạm Văn Kiều
-Đời thứ hai, phái ba.
Phạm Văn Trực
Tổ Tỷ : Lương Thị An
Sanh hạ: Phạm Văn Tượng- Phạm Văn Chánh.
-Đời thứ ba, Phái nhứt.
Phạm Văn Hào
Tổ Tỷ : Nguyễn Thị Yên
Sanh ha : Phạm Văn Lộc
-Đời thứ ba, phái nhứt, chi nhì :
Phạm Văn Thân
Tổ Ty : Nguyễn Thị Sâm
Sanh Ha : Phạm Văn Bằng
-Đời thứ ba, phái nhì, chi nhứt :
Phạm Văn Kiều
Tổ Tỷ : Trương Thị Liên
Sanh ha : Phạm Văn Khương- Phạm Văn Thuận
-Đời thứ ba phái nhì chi nhì :
Phạm Văn Ba
Tổ ty : Phạm Thị Huyền
Sanh ha : Phạm Đăng Triều- Phạm Đăng Vũ - Phạm Đăng Trực.
-Đời thứ ba, phái ba, chi nhứt.
Phạm Văn Tượng
Tổ tỷ : Đoàn Thị Trọng
Sanh hạ : Phạm Văn Sĩ, Phạm Văn Kế
-Đời thứ ba, phái ba, chi nhì.
Phạm Văn Chánh.
Tổ tỷ: Đoàn Thị Nhơn
Sanh ha : Phạm Công Trang- Phạm Công Tịnh.
Như vậy, tộc chúng ta có 3 phái, chia thành sáu chi kế tục đến ngày nay.
Trong Gia phổ bằng chữ Hán của phái ba chúng ta ghi Tổ đời thứ nhứt là Hồng Lư Phạm Quý Công, nhưng sau đó lại ghi la :
“Đệ nhứt thế tổ Hồng Lô Tự Thiếu Khanh Phạm Tiên Công...”
Có lẽ khi biên chép Gia phổ các Ngài đời trước chưa nắm chắc được đời thứ nhứt và thứ nhì, nay con cháu chúng ta đã làm sáng tỏ, về địa danh lại ghi quê quán ở xã Phù Lưu, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Cũng có lẽ trước khi vào Nam các Ngài đã dừng chân tại đây. Vì vậy chúng ta phải bổ sung thêm vào Gia phổ cho đầy đủ, để con cháu ngày sau xem bản Gia phổ bằng chữ Hán khỏi phải nghi vấn.
II. MỘ CHÍ- NHÀ THỜ VÀ NGÀY GIỖ TỔ
Thuỷ tổ được an táng ở Xuân Minh Thượng gần cồn Mồ. Năm 1976 cải táng sang xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.
Mộ tổ của 3 phái nằm ở phía Nam gần mộ Tiền Hiền cũng đã cải táng sang Duy Châu, Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Với tấm lòng hướng về Tổ Tiên, cội nguồn, con cháu nội ngoại trong Gia tộc đã cùng chung lo xây dựng lại lăng mộ của cụ Thủy tổ và mộ Tổ của 3 phái rất khang trang, qui mô. Lăng mộ được khánh thành vào dịp 10/2 năm Ất Dậu ( 19/3/2005).
Các mộ Tổ đời thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu của phái ba, an táng rải rác trong các cồn mả, đất tư từ cồn Từ bi lên đến cồn Mồ (xứ Xuân Minh),bị chiến tranh tàn phá cày ủi nhiều lần, tiếp đến sau giải phóng 1975 cải tạo làm ruộng cấy, chỉ còn sót lại một ít mảnh bia bể, số còn lại từ đời thứ bảy đến đời thứ mười, cũng đã được đưa sang an táng ở Duy Châu, và sẽ có kế hoạch tu sửa lại. Những phần mộ các Ngài lớp trên còn vết tích Gia phổ của chi chúng ta có ghi đời thứ năm (tức đời thứ bảy gia phổ của Tộc) có thiết lập Từ Đường nhưng không ghi rõ vị trí, sau đó đến đời thứ tám, chín mới thiết lập Từ Đường, người ta thường gọi là nhà Thờ ông Hường Phạm, để tránh trùng với nhà thờ các chi phái khác. Sau khi tộc dựng bia Tiền Hiền (1944) con cháu trong Tộc đã đóng góp công của xây dựng nhà thờ vào năm 1962, tại nền nhà thờ của phái nhứt, chi nhứt, nhưng sau đó cũng bị chiến tranh tiếp tục tàn phá. Sau ngày nước nhà độc lập, đất nước được giải phóng hoàn toàn, con cháu trong tộc lại đóng góp công sức phục hồi lại nhà thờ vào năm 1990.
Việc tập họp con cháu nội ngoại để tu tảo phần mộ, ôn lại công ơn của Tổ Tiên trứoc năm 1935 vào tiết Đông chí, sau này chuyển vào tiết Thanh Minh (ngăy 10 thâng 2 hăng năm).
III. CÔNG ĐỨC, HÀNH TRẠNG VÀ CON CHÁU KẾ TRUYỀN CỦA CÁC THẾ HỆ THUỘC PHÁI BA- CHI NHỨT
- Tổ của phái ba là ngài Phạm Văn Trực
- Tổ tỷ là Lương Thị An.
Sanh hạ hai trai: Phạm Văn Tượng và Phạm Văn Chánh.
Ngài Phạm Tiên Công huý Văn Tượng tự Pháp Càng là Tổ của chi chúng ta. Tổ tỷ là Đoàn Thị Trọng.
- Tiên Công sanh hạ Phạm Tôn Công huý Văn sỹ.
- Tôn Công sinh Phạm Danh Công huý Văn Lễ tự Gia Hội.
Ngài Phạm Văn Lễ và tổ tỷ là Nguyễn Thị Nữ.
Sanh hạ bốn trai và một gái. Bốn người con trai thuộc đời thứ bảy lập thành bốn phân chi.
1. PHẠM VĂN ĐIỆP
2. HẠM VĂN TRINH
3. PHẠM VĂN HIỀN
4. PHẠM VĂN THANH
PHÂN CHI THỨ NHỨT
Tổ của Phân chi thứ nhất là Ngài Phạm Văn Điệp sang ở Chiêm Sơn (nay là xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên). Sau vài đời sát nhập Chiêm Sơn. Truyền đến đời thứ 10 không con trai nối dõi, vô tự.
PHÂN CHI THỨ HAI
Tổ của chi thứ hai là Ngài Phạm Văn Trinh, con cháu đều ở tại Xuân Đài và Phi Phú. Truyền đến đời thứ 9,10,11. Con cháu phát triển khá đông, học hành thi cử đỗ đạt làm rạng rỡ cho cha ông và Gia Tộc. Tiêu biểu là ông Phạm Tuấn đỗ Tam giáp Tiến sĩ niên hiệu Thành Thái thứ mười. Vinh quy bái tổ cùng bốn vị đại khoa được nhà vua ban tặng danh hiệu “Ngũ Phụng Tề Phi ”. Sau ra làm quan đốc học ở tỉnh Hà Tỉnh được phong hàm Hồng Lô Tự Khanh.
Trong phân chi thứ hai ở đời thứ tám, Ngài Phạm Văn An truyền đến đời thứ mười, con cháu khá đông. Ông Phạm Văn Thông (Đời thứ mười) chuyển vào chợ Cầu Dấp, xã Hanh Thông Tây, Gia Định làm thầy thuốc Bắc. Trong Gia phổ ghi tiếp các đời sau.
Ngài Phạm Văn Bổn (đời thứ 8) chuyển về ở Phi Phú, truyền đến đời thứ mười, tức tú tài Phạm Văn Vận. Sinh hạ năm người con, ba người ở tại Phi Phú (ông cả, ông thứ ba và ông út) ông thứ hai ở theo quê vợ thuộc thôn Quảng Đại, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam). Đến nay ở Đại Cường, Đại Thạnh còn mấy gia đình, một ông về ở lại Xuân Đài, số còn lại phân tán ở nhiều nơi, nay tại Phi Phú không còn ai.
Người con thứ tư dạy học ở Cây Trâm (xã Tam Thanh, huyện Tam Kỳ) có vợ con ở đó, con cháu nối tiếp cho đến nay. Hiện nay con cháu có người ở Hoa Kỳ.
PHÂN CHI THỨ BA
Tổ của phân chi thứ ba là ngài Phạm Văn Hiền, truuyền đến đời thứ mười con cháu chuyển lên ở thôn Phiếm Aí, Đại Nghĩa, Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nay còn một gia đình ở đó.
PHÂN CHI THỨ TƯ
Tổ của phân chi thứ tư là Ngài Phạm Văn Thanh, truyền đến đời thứ 9, con cháu phát đạt giàu có, ruộng đất nhiều. Đời thứ mười có ông Phạm Văn Hữu sĩ ở tỉnh Thành La Qua (tỉnh Thành Quảng Nam), nay là Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn. Ông ở theo quê mẹ, sinh hạ ba người con trai :
1. Phạm Văn Tình thông lại ở Phủ Điện Bàn.
2. Phạm Văn Phước thông lại huyện Quế Sơn.
3. Phạm Văn Toản thông lại ở Ty Thiên Quảng Nam. Các ông nhập cư ở Phú Triêm, nay là xã Điện Phương, huyện Điện Bàn. Sinh hạ con cháu khá đông ở rải rác Bằng An, Điện An, huyện Điện Bàn, Uất Luỹ Điện Minh- Điện Bàn, chợ mới Ba xã ( Hoà Phước- Đà Nẵng) và các nơi khác. Lập thành một Tộc có nhà thờ tại Phú Triêm. Hàng năm, lấy ngày 20 tháng hai làm ngày giỗ Tổ.
Đời thứ mười hai có ông Phạm Văn Tỵ chuyển về Bến Dầu (Đại Thạnh - Đaị Lộc), truyền đến đời thứ mười lăm, nay đã chuyển vào miền Nam. Số con cháu còn ở lại Xuân Đài, đến đời thứ mười bốn, nay di chuyển đến ở Đà Nẵng, Bình Định, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại ở Xuân Đài không còn ai.
VIỆC TỤC BIÊN GIA PHỔ
Cùng với sự thăng trầm của dân tộc, xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước, dân tộc ta phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh gây nên. Từ năm 1954 đất nước ta chia làm hai, ngọn lửa chiến tranh bắt đầu bùng cháy, cả nước rơi vào cơn binh lửa. Một cuộc chiến tranh tàn khốc đã diễn ra, nhân dân hai miền Nam Bắc lại phải chịu nhiều đau thương mất mát, trong đó có Gia tộc của chúng ta.
Mồ mả, nhà cửa, đền thờ bị tàn phá, những người thân của chúng ta phải lìa bỏ đất Tổ quê cha, để lo tìm đường lánh nạn, và tìm kế sinh tồn. Một điều vô cùng xót xa và thương cảm cho những người thân của chúng ta, đã vĩnh viễn nằm lại nơi đất khách quê người, và những người tuy còn sống nhưng không biết đuờng để tìm về với cội nguồn (Tổ Tiên) của mình.
Những di sản và cơ nghiệp, do Thuỷ Tổ của chúng ta giàu công khai sáng, lại một lần nữa phải chịu tàn phá của chiến tranh, nhà thờ, mồ mả Tổ Tiên bị hư nát do bom đạn, con cháu phải phân tán các nơi để tìm con đường sống. Do đó việc tục biên Gia phổ phải tạm dừng.
Sau năm 1975 đất nước được thống nhất, mọi người bắt tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh. Con cháu lại quay về nơi quê cha, đất tổ và tiếp tục gây dựng lại cơ nghiệp của cha ông ta, nhà cửa, vườn tược lại được hồi sinh. Đời sống vật chất tạm ổn, con cháu lại để tâm lo nghĩ về Tổ Tiên, dòng họ. Ngày giỗ tổ (vào tiết Thanh Minh) con cháu lại tụ họp về Xuân Đài đông đủ để tượng niệm, và nhắc nhở nhau về công ơn của những người khai sáng.
Thời gian này để mọi người hồi tỉnh trở lại sau bao nổi thăng trầm, khó khăn do chiến tranh đem lại. Những người có tâm huyết phụng sự Tổ Tiên, lo việc trùng tu mồ mả của cha ông, vận động con cháu đóng góp công sức, của cải xây dựng Từ Đường để có nơi thờ tự và tiếp tục sưu tầm, ghi chép Gia phổ, làm sáng tỏ thêm nguuồn gốc của cha ông, và truyền lại cho con cháu muôn đời sau.
Tiêu biểu và người có công lớn nhất ở giai đoạn này trong công việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn Gia phổ, chăm lo việc tu tổ, xây dựng lại các mồ mả của các thế hệ ông cha chúng ta, đó là ông : Phạm Văn Đằng thuộc thế hệ thứ mười ba, là một tấm gương sáng, giàu lòng nhân ái- sự hiểu biết và tận tâm đối với Tổ Tiên, có trách nhiệm với các thế hệ sau trong việc phát huy, bảo tồn và giữ gìn truyền thống tốt đẹp của Tổ tiên. Tấm lòng và công lao của ông đã kế tiếp xứng đáng làm rạng rỡ thêm công vinh của dòng tộc.
Một sự kiện tiêu biểu nhất do công lao của ông xây dựng nên đó la:
-Tìm kiếm thi hài của cố cụ Tiến sí Phạm Tuấn (đã bị mất dấu vết do chiến tranh tàn phá). Tổ chức vận động con cháu đóng góp để có điều kiện tu bổ, xây dựng lại lăng mộ cụ khang trang xứng đáng với uy danh của cụ.
Tuy tuổi cao, sức yếu, phương tiện đi lại khó khăn, ông đã kiên trì, nhẫn nại đi lại nhiều nơi, đến làm việc với nhiều cấp chính quyền, các ngành có chức năng và con cháu nội ngoại gần xa để vận động, quyên góp tiền của xây dựng hoàn chỉnh Lăng mộ của cố cụ Tiến sĩ Phạm Tuấn. Một sự kiện hết sức quan trọng là ngày 15 tháng 8 năm 1997 UBND tỉnh Quảng Nam đã ra Quyết đính số 1550QĐ- UB công nhận Lăng mộ của cố cụ Tién sĩ : Phạm Tuấn là di tích lịch sử văn hoá của tỉnh nhà và ngày 15/02/2005, UBND tỉnh Quảng Nam có Quyết định số 440/QĐ-UB xếp hạng Lăng mộ của Cụ là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật của tỉnh Quảng Nam. Đây thật sự là một tài sản vô cùng quí báu của các thế hệ con cháu chúng ta. Lễ khánh thành đã được long trọng tổ chức vào 2 ngày mồng tám và mồng chín tháng 2 năm Canh Thìn (tức ngày 13 và 14 tháng 3 năm 2000). Công việc và tâm niệm của ông đã hoàn thành nhưng ông đột ngột lâm bệnh và qua đời ngày 18 tháng chạp năm...
Với câu châm ngôn “Uông nước nhớ nguồn” làm rạng danh Tông môn và truyền thống tốt đẹp của Gia Tộc. Là lớp người thuộc thế hệ sau xin kính dâng ông lòng biết ơn vô hạn, và mãi mãi ghi sâu công lao này của ông. Xin ông hãy yên lòng ra đi và yên nghỉ vĩnh hằng nơi miền cực lạc.
Trước khi dừng lại phần này (điểm lại công lao của ông Phạm Đằng đối với Gia Tộc và con cháu) bằng chính bút tích của ông khi ông viết cuốn Gia phổ này. Để các thế hệ con cháu chúng ta, khi đọc Gia phổ của chi phái mình hiểu thêm về tấm lòng và công lao của ông đối với việc giáo dục, phát huy, bảo tồn những giá trị văn hoá, tinh thần, và truyền thống tốt đẹp của Tổ Tiên chúng ta, Ông viết :“Nối chí của cha ông là hậu thế, chúng tôi chỉ có thể kế thừa đời trước, cố gắng đem chút sức mọn của mình dịch và ghi chép Gia phổ bằng chữ Hán sang tiếng Việt, sắp xếp theo sơ đồ và tục biên các đời kế tiếp, để cho con cháu có thể biết được mình thuộc chi chi nào, nhánh nào, và quan hệ thân tộc ra sao?. Nhằm góp phần làm cho dòng tộc và Gia tộc ngày càng rạng rỡ, ngày càng thịnh đạt và để cho con cháu đời sau nối tiếp được truyền thống cao đẹp mà Tổ Tiên đã dày công vun xới”.
Mùa thu năm Giáp Tuất (1994)
Phạm Đằng
(Đời Thứ 13)
PHẠM THỊ GIA PHỔ
(GIA PHỔ HỌ PHẠM)
- Phụng huề tại đệ tứ thế tổ Phạm Linh Công thần đạo diện hậu.
Kính khắc tại mặt sau bia ngài tổ, đời thứ tư Phạm Linh Công.
- Gia chi hữu phổ cựu hỷ phổ giã giã kỳ nhất gia.
Nhà có sổ ghi hệ thống gia đình xưa gọi là phổ vậy,
- Chi sử giả.
Ây là sử của một nhà vậy.
- Ngã xuân châu Phạm thị kỳ tiên Bắc nhân tùng vương.
- Nhi nam nhân tịch vô thử, tự Lê Mạt ngật, ngã quốc triều.
- Bồi thực lich hữu nhân hỷ, tiết kinh hồi lộc, gia phổ
- Khuyết như kỳ sở tồn giã quyến xích di biên danh.
- Lưu vạn thế.
Họ Phạm ở Xuân Châu ta trước là người Bắc theo vua vào Nam rồi ở lại đó từ thời cuối Lê, Quốc triều ta đã sũng dụng tải nhiều năm, trọng trách đảm nhiệm từng mang lại lợi lộc, gia phổ thiếu cái mà còn được ấy thuế nộp để lại sổ tên để muôn đời.
- Ngã đệ nhất thế tổ Hồng Lư Phạm Quý Công....
Ngài tổ đời thứ nhứt huý Hồng Lư Phạm Quý Công
- Đệ nhị thế tổ Phạm Tôn Công
Ngài tổ đời thứ hai Phạm Tôn Công.
- Đệ tam thế tổ thể Nguyên Danh Công, Danh Công hựu.
Ngài tổ đời thứ ba tên chữ Thể Nguyên Danh Công, Danh
- Truyền chi
Công lại truyền đến
- Đệ tứ thế tổ Gia Hội linh công vi ngã thứ phái. Tiên
Ngài tổ đời thứ tư tên chư Gia Hội Linh Công sinh phái thứ ba
- Tổ Xuân Minh vọng xứ thu giã tại yên thất truyền chí ngã.
Tổ trước được an táng vĩnh viễn tại xứ Xuân Minh
- Tổ xư lễ bá phụđăng chi tải tịch thế hệ xán nhiêu, ngã
Ngài tổ co nhà anh làm tư lễ, ghi chép vào sổ phổ hệ.
- Tiên nghiêm tú tài Phủ quân thừa tiên chí tục như thảnh.
Thống các đời rõ ràng. Cha ta là ông tú tài, noi chí trước
- Chi khả vi truyền thế nhứt gia thừa dã.
Tiếp tục mà thành khá lấy làm truyền đời một nhà theo vậy.
- Duy tưởng thứ nhị phái tự tứ thế dĩ hạ, ký tải Vi Minh.
Nhưng tưởng thứ nhị phái từ bốn đời sắp xuống ghi chép chưa rõ.
- Thiết khủng thế viễn niên nhân hoặc hữu thác ngộ nãi.
Sợ xa đời lâu năm có lầm lẫn bằng cùng xét.
- Hội khảo thế hệ đồ biệt thế khứ, phàm hữu vị tự.
Bản đồ thế hệ sắp đời thứ phàm có thiếu chữ.
- Khất chính vi đại gia tích thọ chi thạch dĩ tư bất vong.
Nhờ người hiểu biết sửa chính cùng khắc vào bia để xem chẳng quên
- Kim như hậu duyệt nguyên phổ như đổ phương hình, tỉ.
- Nhược tôn kế kế thừa vào sử gia thanh tự truỵ dã.
Nay và sau xem như phổ này như xem một phương thuốc thơm cho con cháu nối nối tiếp tiếp chí để nhà tự mắt vậy.
- Khả nhược phu công đức dụ tai tinh sảng bất thiên.
Khá bằng như có cái quí tốt còn ở nơi công đức.
- Thậm phi giải sách sở năng tất dã an cảm ngao.
Chẳng thay đổi, nhiệt chẳng phải sách vở mới rỏ hết được, đâu dám thêm thắc.
Thành Thái Mậu Tuất thu
( Đời Thành Thái năm Mậu Tuất mùa thu)
Cửu thế tôn ( Cháu 9 đời)
Tiến sĩ Tuấn bái tư
(Tuấn kính thuật bày)
Tú tài kính ghi
Bổn tỉnh án sát sứ phó bảng Nguyễn Tiển Cao
Bái tự tinh duyệt
Tỉnh ta quan án sát phó bảng Nguyễn Tiẻn Cao
Kính bày cùng duyệt
PHẠM VĂN TỘC MỘ CHÍ
(BIA GHI THUỘC HỌ PHẠM VĂN)
- Phụng huề đệ tam thế tổ thể Nguyên Phạm.
Kính khắc ở mặt sau bia của ngài tổ đời thứ ba .
-Danh công thành đạo diện hậu.
Thế Nguyên Phạm Danh Công.
-Ngã Phạm tộc kỳ tiên Bắc nhân Lê Mạt tùng vương
Họ Phạm ta trước là người Bắc , vào thời cuối Lê
-Nam lai vu bổn châu gia yên cựu thuộc nội.
Theo vua vào Nam, đến ở châu ta xưa thuộc nội phủ
-Phủ, Phú châu huyện kim tức kỳ địa dã
Phú Châu huyện nay là đất ấy vậy.
-Kính duy ngã thuỷ tổ Phạm Quý Công trung hậu.
Kính nhớ ngài tổ đầu của ta Phạm Quý Công bậc trung hậu.
-Khai cơ bồi thực dã cữu Lê Cảnh Hưng niên
-Gian, từ đường tư thổ diệp thế hùng yên vi
-Châu trung nhứt cự phiệt, tiết kinh hồi
-Lộc
Xây dựng nên cơ nghiệp công vun quén. Vậy lâu, vào khoảng năm Lê Cảnh Hưng, nhà thờ đất tế truyền đời hương khói làm một nhà thờ thế phiệt.Trong châu thường đem lại lộc
-Gia phổ khuyết như kỷ sở tồn tắc di thảo
Gia phổ thiếu vậy mà còn đó là chữ để lại.
-Cựu biên do hữu khả khảo giã phân vị thập thế
Sổ cũ còn có thể cứu xét được chia làm mười đời
-Ngã tiên Công trị pháp càng quyến thế lưu ty danh
-Thuỳ vạn đại kim phụng vi đệ nhất thế tổ tái truyền chỉ
-Đệ nhị thế tổ Tôn Công , công tảo quyên trần tàn biên
Ngài trước tên chữ pháp càng viết thế để lại hệ thống gia đình, để nêu muôn đời, nay kính làm. Ngài tổ đời thứ nhứt lại truyền đến Ngài tổ đời thứ hai là Tôn Công, ngài sớm lìa trần.
-Đoạn giảm, cửu thất kỳ danh thiên cổ tùng thu
Sổ nát chữ đứt, lâu mất cả tên
-Duyệt hỉ thác hỉ
Người ngày xưa cũng đã mòn mõi vậy
-Tôn công sanh danh công tự thể nguyên vi
Ngài Tôn Công sanh ra ngài Danh công tên chữ thể Nguyên
-Đệ tam thế tổ Xuân Minh vọng xứ thử kỳ giai hành
Là ngài tổ đời thứ ba an táng tại xứ Xuân Minh .Dã
Ây vậy
-Đệ tứ thế tổ tự Gia Hội thị danh công chi tử
-Thuộc thứ phái thất truyền nhi nã tổ danh
Ngài tổ đời thứ tư tên chữ Gia Hội là con của ngài Danh Công. Tuyền đến đời tổ ta Danh là đời thứ bảy thuộc thứ phái. Tổ khảo (là ông nội)
-Ngã tổ tự sỹ đồ tế bĩnh hương lễ chữ thưởng chi hạ
Ngài tổ tên chữ Sỹ Đồ từng coi việc hương lễ tế tự
-Nhân sở kiến văn đăng chư tải tịch
Góp nhặt những nghe thấy ghi chép vào sổ
-Ngã nghiêm nhị tự Đại Hanh Hoàng triều Mậu Thân
-Ân khoa tú tài ký thăng tường cách thừa tiên
Thân phụ ta tên chữ là Đại Hanh triều vua năm Mậu Thân có ân khoa thi đậu tú tài.
-Chí toại dục nhi thành chi vi bổn phái
Noi chí trước tiếp tục mà thành (phổ) đó cho phái ta.
-Truyền thế nhứt gia thuỳ
Truyền đời một nhà tiếp nối.
-Bổn phái đệ tứ thế tổ tự Gia Hội thứ tử đệ
Phái ta ngài tổ đời thứ tư tên chữ Gia Hội
-Ngũ thế tổ tự tử Chánh Nguyên viễn hưu phân
Ngài tổ đời thứ năm là con thứ tên chữ Tử
-Biệt thành phổ hệ.
Chánh, người xa giòng chia riêng thành hệ thống các đời
-Nhưng trường biên sở tải do vị phân minh lịch kim
Chiếu theo sổ dài đã chép còn chưa rỏ ràng
- Dĩ thập thế hỉ, thiết khủng niên yên hoặc hữu
Trải nay đã mười đời vậy. Sợ lâu năm hoặc có quên lầm
-Vong thác, mãi hội kiểm tu tộc phổ, phổ hành
Nên họp xét sửa lại phổ hệ, phổ hành.
-Nhân duyệt tự cửu thế dĩ thượng chữ tiên huý
Nhân Xem đời thứ chín sắp lên , tên huý của các Ngài
-Hữu vị tự giã, khất chính vi đại phương, tinh
-Thọ chi thạch tỉ tịnh bất hư vân.
Trước có chữ chưa rõ cho nên xin những người hiểu biết bổ chính, cùng kính dựng bia khiến cho đều chẳng mục nát vậy
Thành Thái Mậu Tuất thu
(Niên hiệu Thành Thái năm Mậu Tuất mùa thu)
Thứ phái Tiến sĩ Tuấn bái tự
Phái thứ Tiến sĩ Tuấn kính thuật bày
Tú tài Thục bái thế
Tú tài Thục kính chép
Bổn tỉnh án sát phó bảng Nguyễn Tiển Cao phụng duyệt
(Quan án sáttỉnh ta là phó bảng Nguyễn Tiển Cao kính xem)
Phạm Văn Tộc Bổn tộc phụng chí
( Họ Phạm Văn ta kính ghi )
PHÁI BA - CHI NHỨT
GIA PHỔ VIẾT:
-Đệ tam thế tổ Phạm Tiên Công huý Văn Tượng tự Pháp càn. Quán nội phủ Phú Châu, thuộc hậu cải Phú Châu thuộc nội phủ hiệu cải vi Điện Bàn phủ, Diên phước huyện, Xuân Đài châu.
-Lê Cảnh Hưng niên gian bổn tộc kiết lập thổ
Năm Lê Cảnh Hưng tộc ta đã thiết lập đất vườn.
-Viên quyến thuế tam xích (kim tam mẫu)
Nội hương biên thuế ba thước (nay ba mẫu) đất hương hoả.
-Hoả nhứt sào ngũ khấu nãi trường biên sao thất
Một sào năm khấu, trường biên mất không còn
-Vô cùng kê cứu Để kê cứu
Nguyên phối: Đoàn Thị Trọng , Sanh hạ: Phạm Văn Sỹ
-Đệ tứ thế tổ Phạm Tôn Công huý Văn Sỹ
-Cẩn án Lê Cảnh Hưng nhị niên (Tân Dậu 1741) lục
Xem lại Lê Cảnh Hưng năm thứ hai
-Ngoạt nẩm ngũ nhật thể nguyên Danh Công kê
Ngày hai mươi lăm tháng sáu thể nguyên Danh Công kê biên
-Biên tổ phụ Phạm Pháp Cán Tiên Công quyến thuế
Cha là Phạm Pháp Cán tiên công giấy thuế
-Cộng thập lục xích (kim thập lục mẫu) . Cái thân
Cộng mười sáu thước (nay mười sáu mẫ)
-Phụ Phạm Tôn Công nghiệt dĩ quyên trần cố dã
Cha là Phạm Tôn Công mất đã lâu
Nguyên phối : Tánh huý thất trường
Sanh hạ: Phạm Văn Nhơn
- Đệ ngũ thế tổ Phạm Danh Công huý Văn Nhơn tự
Thể nguyên. Sanh tốt niên ngoạt nhựt bất ký. Táng tại bổn châu Xuân Minh xứ.
Nguyên phối tánh huý thất trường
-Duyên tiền nhựt trường biên ký tại thị khuyết gia
Nguyên ngày trước trường biên (sổ dài để ghi chép hệ thống gia đình)
-Ngẫu bị thất hoả tánh danh vô cùng cải cứu
Bị cháy tên họ không còn kê cứu được.
-Táng tại bổn châu Xuân Minh xứ. Bia minh viết
Mộ tán tại xứ Xuân Minh trong châu ta , bia viết:
-Phạm Danh Công nguyên phối quý thị chi mộ
Phạm Danh Công nguyên phối quý thị chi mộ.
Sanh hạ : Phạm Văn Lễ.
-Đệ luc thế tổ Phạm Linh công huý văn Lễ tự Gia Hội
-Kim phụng cứu Lê Cảnh Hưng thập thất niên thập nhứt
Nay kê cứu ngày 27 tháng 11 năm thứ 17 đời Lê Cảnh Hưng (Đinh Sửu 1757).
-Ngoạt nẫm thất nhựt Phạm Văn Lễ đơn khai thân phụ
-Phụ Văn Nhơn quyến thuế cộng thập ngũ xích trí ưởn
Phạm Văn lễ đơn khai thân phụ là Văn Nhơn sổ thuế cộng 15 thước bốn tấc,ấy
-Thị Văn Lễ nải Danh Công chi tử kim bổn tộc
-Phụng vi lục thế tổ
Văn Lễ là con Danh Công nay kính làm đời thứ sáu của tộc ta.
-Tứ ngoạt sơ thập nhựt thọ chung. Mộ táng tại bổn châu Xuân Minh xứ. Bia viết đệ lục thé tổ
Gia Hội Ling Công chi mộ
Nguyên phối: Nguyễn Thị huý Nữ
-Thập nhị ngoạt tam thập nhựt thọ chung mộ táng tại bổn châu Xuân Minh Xứ . Bia minh viết đệ lục thế tổ Gia Hội Phạm Linh Công nguyên phối Nguyễn Thị Chi mộ.
Sanh hạ Nam tứ - Nữ nhứt
Trưởng nam: Phạm Văn Điệp
Thứ nam: Phạm Văn Trinh
Trưởng nữ: Phạm Thị Văn Thất Tường
Trọng nam: Phạm Văn Hiền hậu cải vi
Quý nam: Phạm Văn Thanh hậu cải kiết
PHÁI BA
CHI NHỨT - PHÂN CHI MỘT
ĐỜI THỨ BẢY
-Tổ đời thứ bảy Phạm Bá Phủ huý Văn Điệp
-Nguyên phối Đoàn Thị Chiêu nguời trong làng
-Sanh hạ hai trai, hai gái
1.Trưởng nữ Phạm Thị Khảm
2.Thư nữ Phạm Thị Thiếp
3.Trưởng nam Phạm Văn Tuý
4.Thư nam Phạm Văn Thu
ĐỜI THỨ TÁM
-Đờ thứ tám Phạm Quý Phủ huý Văn Phu
-Nguyên phối tên Họ không rõ
-Sanh ha: Phạm Văn Thuỳ
ĐỜI THỨ CHÍN
-Đời thứ chín Phạm Bá Phủ huý Văn Thuỳ
-Nguyên phối: tên Họ không rõ
-Sanh hạ hai trai
1.Phạm Văm Mật
2.Phạm văn Cau
Sang hộ lăng mộ binh trước nhập Chiêu Sơn xã
Đi lính hộ lăng nhập xã Chiêu Sơn. Vô tự
PHÁI BA
CHI MỘT - PHÂN CHI HAI
(Trích văn gia phổ)
-Thứ phái đệ ngũ thế tổ Phạm Trọng Phủ huý Văn Trinh
Phái thứ ngài tổ đời thứ năm Phạm Trọng Phủ huý
-Tự Tử Chánh
Văn Trinh tự Tử Chánh
-Lục ngoạt sơ thập nhật thọ chungtáng tại Xuân Minh
Ngày 10 tháng 6 thọ chung mộ táng tại mộ địa châu
-Xứ toạ Hướng bính nhâm mộ địa bổn châu...
Ta toạ hướng bính nhâm
-Bia minh viết ngũ thế tổ tự Tử Chánh chi mộ.
Bia ghi ngài tổ đời thứ năm Phạm Tử Chánh chi mộ.
-Nguyên phối Đoàn Thị huý Huề . Bổn châu tú tài
-Đoàn Ngọc Bích tổ cô dã. Tốt ư thập nhị ngoạt sơ
-Tam nhựt táng vu Xuân Mĩnh xứ bia minh viết đệ
Nguyên phối Đoàn Thị huý Huề . Tổ cao tú tài Đoàn Ngọc Bích người trong châu. Tốt. ngày 3 tháng 12 táng tại xứ Xuân Minh bia nói rằng Ngài tổ đời thứ năm.
-Ngũ thế tổ nguyên phối Đoàn Thị chi mộ.
Nguyên phối Đoàn Thị chi mộ.
-Sanh hạ Nam tam, Nữ tam. ( ba tai, ba gái)
-Trưởng Nữ Phạm Thị Xuy thích vu bổn châu Đoàn
Con gái lớn Phạm Thị Xuy gã chồng người trong châu.
-Chỉ phong tiền Lý trưởng Soạn chi tổ mẫu.
Là Đoàn Chỉ Phong , bà nội Lý trưởng Soạn.
-Thứ Nữ Phạm Thị Luận thích vu Bàn Lãnh đông
Con gái thứ Phạm Thị Luận chồng Bàn Lãnh đồng châu sinh một giá là Phan Thị Chiết .
-Nẫm thất nhật kỵ
Kỵ ngày 7 tháng 7
-Quý Nữ Phạm Thị Mưu thích vu bổn châu nhơn
Con gái út Phạm Thị Mưu có chồng người trong làng ,
-Tức Lý trưởng Dần chi tổ mẫu
Tức bà nội Lý trưởng Dần
-Trưởng Nam Phạm Văn An
-Thứ nam Phạm Văn Bổn
-Quý nam Phạm Văn Túc tảo một (chết sớm)
PHÁI BA
CHI MỘT - PHÂN CHI HAI
ĐỜI THỨ BẢY
Tổ đời thứ bảy Phạm Trọng Phủ Tự Tử Chánh
(Tạ thế ngày 10 tháng 6)
Mộ táng tại xứ Xuân Minh bia ghi tổ đời thứ bảy Phạm Trọng Phủ tự Tử Chánh.
-Nguyên phối Đoàn Thị Huề
Tổ cô tú tài Đoàn Ngọc Bích người cùng làng.
Tạ thế ngày 3 tháng 12. Mộ táng ở xứ Xuân Minh bia ghi đời thứ bảy Phạm Trọng Phủ nguyên phối Đoàn Thị thị chi mộ
Sanh hạ ba trai, ba gái
+ Trưởng Nữ Phạm Thị Xuy chồng là Đoàn Chỉ Phong
(Bà nội của Lý trưởng Soạn).
+ Thứ nữ Phạm Thị Luận chồng người Bàn Lãnh đông
Sanh một gái là Nguyễn Thị Chuyết.
+ Quý nữ Phạm Thị Mưu chồng người trong làng
Tức bà nội Lý trưởng Dần.
+ Trưởng Nam Phạm Văn An
+ Thứ nam Phạm Văn Bổn
+ Quý nam Phạm Văn Túc (chết sớm)
ĐỜI THỨ TÁM
Phạm Bá Phủ huý Văn An
Nguyên phối Đào Thị Tuyên
Người Bảo An là tổ cô của tam đẳng thị vệ thành, sanh Ất Dậu (1765) mất ngày 29 tháng 12 Canh Thân (1800). Bà Đào Thị Tuyên sinh vào thời Nguyễn Vương Phúc Anh (Gia Long sinh 1762 lên ngôi vua 1802).
Sanh hạ ba nam hai nữ.
+ Trưởng nam Phạm Văn Nên
sanh năm Mậu Thân (1788) ngày 29 tháng 6 giờ tý
+ Thứ nam Phạm Văn Nghinh
Sinh năm nhâm tý (1792) ngày 12 tháng 11 giờ Mẹo
+ Thứ nữ Phạm Thị Dánh(Oánh) Tảo mộc
+ Quý nam Phạm Văn Thanh tốt ư thập ngoạt nẩm bát nhựt
+ Quý nữ Phạm Thị Giá tốt vi nhị ngoạt thập nhị nhựt.
ĐỜI THỨ CHÍN
Dỏng binh thông lại Bá Phủ huý Văn Nên
Sinh giờ tý ngày 23 tháng 6 năm Mậu Thân (1788)
Nguyên phối Họ Tên không rõ.
Sanh hạ hai trai, một gái.
1.Phạm Văn Xuân tốt vi cữu ngoạt tam thập nhựt.
2.Thứ nam Phạm Văn Hạ tốt vi cữu ngoạt thập tam nhựt.
3.Trưởng nữ Phạm Thị Liên tốt vi tam ngoạt nhị thập nhựt
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Trọng Phủ huý Văn Nghinh
Sinh ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Tý (1792).
Nguyên phối Phan Thị Cạnh người Bảo An
Tốt ngày 27 tháng 1
Sanh hạ ba trai, một gái
1.Phạm Văn Thông Thuyên túc vào chợ Cầu Dấp xã Hanh Thông tỉnh Gia Định làm nghề thầy thuốc Bắc( Gọi là thầy Ba Trí)
2.Phạm Văn Thân tốt 20 tháng
3.Phạm Văn Thương chức ngũ trường quân đội. Ngày 22 tháng 3 năm Tự Đức thứ 25 (Nhâm Thân 1872) chết trận. Mông tặng Trung kỵ uỷ cấm binh đội trưởng thuỵ là hùng quả thị vệ. Táng ở xứ Xuân Minh có bia chí.
4. Phạm Thị Ngân...
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Quý Phủ huý Văn Thanh
Nguyên phối Trương Thị Tý
Tố ư ngày 27 tháng 2
Sinh hạ 5 trai, năm gái.
1. Phạm Văn Minh 6. Phạm Văn Đệ
2. Phạm Văn Nhiên 7. Phạm Thị Kim
3. Phạm Thị Hội 8. Phạm Thị Phước
4. Phạm Thị Hiệp 9. Phạm Thị Thọ
5. Phạm Văn Đức 10. Phạm Văn Huy
(Đến đây không chép tiếp hệ ông Phạm Văn An)
PHÁI BA - CHI NHỨT- PHÂN CHI HAI
(Trích văn gia phổ)
- Thứ phái đệ lục thế tổ Phạm Trọng Phủ huý Văn Bổn
-Tự đạo sanh
Phái nhì Ngài tổ đời thứ sáu Phạm Trọng Phủ huý Văn Bổn Tự đạo sanh.
- Tốt ư tứ ngoạt nẩm cữu nhựt
Tốt ngày 9 tháng tư
- Nghiệp nông gia tư phong ... điền thổ tùng tại
Nghề nông gia tư ... ruộng đất tùng
- Bổn châu phụ tùng tại Phi Phú Ân Phú đẳng chau
Ở bổn châu phụ trùng ở Phi phú Ân phú các châu
- Sánh danh cục tồn châu bộ . Nhơn Phú phi phú Lê
Tên họ ghi ở châu bộ. Nhơn có vợ ở Phi phú
- Tộc nữ toại gia yên cư Phi phú từ Trọng Phủ
con gái họ Lê ... ở Phi Phú từ đời Trọng Phủ (ông Bổn)
-Thuỷ Gia Long Tân Thìn thập nhứt niên thạp nhị
Đầu niên hiệu Gia Long Tân Thìn (1871)
- Ngoạt nhựt biện suất tư chất.. tảo mộ lễ
Ngày tháng 12 năm thứ 11 nguyện xuất tiền biện lễ
- Tam niên hạn chí. Ât hợi niên bổn tộc trung thu
Tảo mộ Ba năm ... năm Ât Hợi tộc trung thu
- Lợi tiền cán thuỷ chuẩn lạp sự cụ biên bổn
-Tồn chiếu.
Lợi tiền chuẩn chi lễ lạp (dẫy mã) biên sổ còn để lại
-Táng tại bổn châu Cồn Mồ xứ bia minh viết đệ lục
Táng tại xứ Cồn Mồ trong châu bia minh nói rằng Ngài tổ đời thứ sáu.
-Thế tổ thứ phái Phạm Trọng Phủ tự Đạo Sanh chi mộ.
- Nguyên phối Lê Thi huý Tựu hiệu như nhựt thuỵ
Nguyên phối Lê Thị Huý tựu như nhựt thuy
- Thuần hậu Phi Phú tiền Hàn làm khẩu thảo Lê nữ
Con gái ông Hàn Lâm kiểm thảo ở Phi phú.
Dã. Tốt vi chánh ngoạt sơ nhị nhựt. Tốt 2.1
Táng tại xứ Viên Thạch trong châu
-Bổn châu viên thạch xứ bia minh viết đệ lục thế
Bia minh nói rằng Ngài tổ đời thứ sáu Phạm Trọng Phủ .
-Tổ Phạm Trọng Phủ nguyên phối Lê thị thuỵ Thuần
Nguyên phối Lê Thị thuỵ Thuần hậu chi mộ.
-Hậu chi mộ
-Sanh hạ ba trai, ba gái
- Trưởng Nam Phạm Văn Khoa nguyên huý Do Hội
Co trai trưởng Phạm Văn Khoa. Nguyên huý Do
- Huý Hội, huý thạnh hậu cải vi Văn Khoa
Tiếp huý Hội, huý Thạch sau cải Văn Khoa.
-Đinh Tỵ niên lục ngoạt thập nhựt Dậu bài sanh.
Sanh giờ Dậu ngày 16 tháng 6 Đinh Tỵ (1797)
-Trọng nam Phạm Văn Bổn ( Con Thứ Phạm Văn Bổn)
-Trưởng nữ Phạm Thị Đặng sanh vi Canh Thân niên tứ ngoạt
Con gái lớn Phạm Thị Đặng sanh 23 . 4 Canh Thân (1800)
Nẩm tam nhựt. Thích Bảo An đông xã y sĩ Phan Thiết
Gặp chồng ở Bảo An đông y sĩ Phan Thiết
-Cố thư lại Vinh chi tử dã
Con của thư lại Vinh
- Trọng nữ Phạm Thị Cọng sanh ư Ât Sửu niên nhị
Con gái thứ Phạm Thị Cọng sanh giờ mẹo 13.2 năm ất Sửu (1805)
-Ngoạt thập tam nhựt mẹo bài. Thích vi Phi Phú Tây
Gả chồng về Phú Tây châu.
-Châu điển khương Trương Văn Khoan ( Hương Điển Trương Văn Khoan)
-Quý nam Phạm Văn Thừa sanh vi Mậu Thìn niên Ánh
Con trai út Phạm Văn Thừa sinh giờ tý ngày3.10.
-Thập ngoạt nhựt Tý khắc. Tốt vi thất ngoạt nẩm tam nhựt
Tố ngày 23 tháng 7
-Táng tùng ngoại tổ Lê Thị mộ bia chí viết
Chôn theo ngoại tổ họ Lê bia chí viết
-Xuân Đài đệ nhứt tổ thúc Phạm Quý Hiển chi mộ ông ở Xuân Đài tổ đời thứ bảy Phạm Quý Hiển chi mô.
- Quý nữ Phạm Thị Khảm . Sanh hà nguyệt nhựt bất ký
Con gái út Phạm Thị Khảm sanh ngày tháng không ghi
-Thích vu Bảo An đông xã tú tài Phan
Gả chồng về Bảo An đông xã tú tài Phan
-Thế chấm (thi chấm)
-Phụng cứu Lê Cảnh Hưng niên gian bổn tộc phụng tự
Phụng cứu năm Lê Cảnh Hưng tộc ta phụng sự
-Điền thảo cộng tam mẫu. Bổn tiền Gia Long hiện tồn.
-Ruộng đất cộng là ba mẫu . Triều ta năm Gia Long
-Nhứt mẫu tam cao . Minh Mạng tứ niên hưởng tùng tranh
Hiện còn một mẫu ba sào . Minh mạng năm thứ tư đôi bên tương tranh.
-Không tương thuận .Tự Đức niên gian chỉ tồn bát sào
Đến năm Tự Đức chỉ còn hơn tám sào
-Linh tiết thứ ba khống thừa hữu tỉnh bằng tỷ hứa.
Đơn xin tỉnh làm bằng phân ra phái hệ .
-Luân canh phụng tự hậu phân vi phái hệ các dĩ chuyển
Luân phiên canh phụng sự mỗi chi tự xuất tiền .
-Mãi du tha mỗi chi tự lệ đồng xuất tiền văn chi
còn biên giấy để lưu chiếu.
-Bang cụ hữu biến tịch tồn chiếu.
-Thứ phái đệ thất thế tổ Hường Vọng Phạm Bá Phủ huý
Phái thứ ngài tổ đời thứ bảy Hường Vọng Phạm Bá Phủ
-Văn Khoa tự Sỹ đồ thuỵ Đôn Phát.
Huý Văn Khoa tự sỹ đồ thuỵ Đôn Phát.
-Thí sanh Hường Tư Lễ bổn châu thần tự bổn huyện
Học trò thi hương , Huơng Tư Lễ trong châu . Thần sự văn phổ huyện.
-Năm chỉ giai lục cúng tiền văn cụ hữu thạch bia chí
Cúng tiền ở văn chỉ huyện còn chép ở trên bia chí
Thiệu Trị tam niên Văn Mỹ quyền thục phan tích điền.
Thiệu Trị năm thứ ba . Văn Mỹ (phái út đời thứ tám) chuộc lại ruộng đất đã bán (thục)
-Thổ, Ngũ niên (Thiệu Trị) Bá Phủ (Văn Khoa) trải tiền
Thiệu Trị năm thứ năm Bá Phủ (Văn Khoa) vay tiền thục lại (chuộc lại)
-Thục hồi phụng tự cụ hữu bia khai lưu chiếu
Để hạch tự có bằng khai lưu chiếu.
-Sanh Đinh Tỵ lục ngoạt thập lục nhựt Dậu
-Sanh giờ Ty ngày 16 tháng 6 năm Đinh Tỵ (1797)
-Tốt vi Đinh Tỵ niên tập nhứt ngoạt sơ nhựt.
Tốt ngày 2 tháng 11 Năm Đinh Tỵ (1757)
-Hưởng thọ lục thập nhứt . Bảo An đốc học Lương
Hưởng Thọ 61 tuổi . Đốc học ở Bảo An là
-Tiên Sanh Thuỵ chi viết đơn phát. Mộ Tại bổn châu
Tiên sanh Họ Lương cho trọng thuỵ là Đôn Phát, Mộ tại bổn châu xứ Xuân Minh . Bia minh nói Rằng:
Xuân Minh xứ Bia Minh viết đệ thất Thế tổ: Ngài tổ đời thứ bảy Hương Vọng Phạm Bá Phủ Tự Sỹ Đồ thuỵ là An Đôn.
-Vọng Phạm Bá Phủ tự sỹ đồ Thuỵ Đôn Phát chi mộ
-Nguyên phối Đoàn Thị Huý Tháo hiệu thiểm ba
Nguyên phối Đoàn Thị huý Tháo hiệu thiểm ba
-Bổn châu phó tổng dụng Đoàn chánh Nghị cô dã
Là cô của phó tổng dụng Đoàn Chánh Nghị người trong châu.
-Tố vi Tân Mùi niên thập nhị ngoạt thập tứ nhựt
Tốt 14 tháng 12 năm Tân Mùi (1871).
-Mộ táng tại bổn châu Xuân Minh Xứ bia minh viết đệ.
Mộ táng tại xứ Xuân Minh trong châu bia minh nói rằng
-Thất tế tổ Phạm Trọng Phủ nguyên phối Đoàn Thị Hiệu
Ngài tổ đời thứ bảy Phạm Bá Phủ Nguyên phối Đoàn Thị Hiệu Thiểm ba chi mộ ( Thiểm ba chi mộ)
-Sanh hạ Nam , Nữ các tam nhơn.( Ba trai, ba gái)
Trưởng nam Phạm Văn Tài hiệu hiệu huý nhâm hậu cải vi Văn Vận
- Trọng nam Phạm Văn Khôi sanh vi giáp ngọ niên chánh ngoạt nẩm tam nhựt.
Sanh ngày 23 tháng 3 năn Giáp Ngọ (1834).
- Tốt vi Nhâm Dần niên chánh ngoạt thập nhứt nhựt
-Tốt ngày 11 táng một năm Nhâm Dần (1842).
-Táng tùng tô ( Táng theo ông nội).
-Trưởng nữ Phạm Thị Tụ hiệu Huý Khánh sanh vi Quí Tỵ
niên nhị ngoạt thập nhị nhựt hội khắc.
Con gái lớn Phạm Thị Tụ lại huý Khánh. Sanh giờ hợi ngày 12.2 năm Quí Tỵ (1833).
- Thích vu Bảo An tiền tú tài Diễn chi tử , thí sanh
Gả chồng về Bảo An con ông tú tài Diễn, thí sanh
- Nguyễn Thế Hiển (Nguyễn Thế Hiển).
- Trọng nữ Phạm Thị Thọ sanh vi Tân Mảo niên
Con gái thứ Phạm Thị Thọ sanh giờ sửu ngày 16.8 năm Tân Mảo.
- Bát ngoạt thập lục nhựt sửu khắc. Tốt vi Thập
- Tốt ngày 21.10 táng tại xứ Trường đình Ân Phú
- Ngoạt nẩm nhứt nhựt táng tại Ân Phú trường đình xứ.
- Quý nữ Phạm Thị Lịch sanh vi Bính Thân niên thất
- Ngoạtsơ nhứt nhựt Tuát khắc. Giá vu bổn chau thí
Con gái út Phạm Thị Lịch sanh giờ Tuất ngày 1.7 năm Bính Thân (1836). Gả chồng người trong châu thí sanh
- Sanh Tào duy Ninh nải tú tài Duy Thanh chi đệ sanh
- Nhứt nữ Tào Thị Lan
Tào duy Ninh em tú tài Đào duy Thanh . Sanh một gái là Tào Thị Lan (bà Chánh Khương).
- Quý nam Phạm Văn Định sanh vi Canh Tý niên thất ngoạt sơ tam nhựt . Tốt ư Nhâm dần niên nhị ngoạt .
- 18 nhứt nhựt táng tại Ân Phu tiên mộ Tây hướng
Con trai út Phạm Văn Định sanh ngày 3.7 năm Canh tý (1840). Tốt ngày 1.2 năm
Năm Nhâm dần (1842) táng ở Ân Phú mộ lớp trước hướng Tây.
- Thư phái đệ bát thế hiểu khảo khai Khoa tú tài Phạm Bá Phủ huý Văn Vận tự Đại Hanh.
Phái đời thứ tám hiển khảo (cha) khai khoa (khoa mở đầu) tú tài Phạm Bá Phủ huý Văn vận tự Đại Hanh.
- Sanh vi Đinh Hợi niên ngũ ngoạt sơ lục nhựt sửu
Ưu sanh giờ sửu ngày 6.5 Đinh Hợi (1827).
- Bia.
-Tự đức nguyên niên Mậu Thân ân Khoa tú tài bổn huyện sơ ... văn chỉ lạc quyên tiền vốn cục hữu thạch.
Tự Đức năm thứ nhứt khoa Mậu Thân thi dỗ tú tài .Chức việc ở văn phổ huyện cúng tiền ở văn chỉ có ghi
- Bia chí diên . ất Hợi niên thập nhứt ngoạt thập lục
Bia đá. Ngày 16.11 năm Ât Hợi (1875)
- Nhựt lệnh chung hưởng linh tứ thập cửu tuế . Bổn châu đốc học Huỳnh Thuỵ chữ viết học hành thuần .
Lệnh chung hưởng linh 49 tuổi . Ông đốc học họ Huỳnh Thuỵ nói rằng học hành thuần chánh.
- Mộ táng tài Nguyệt đài hạ xứ bia minh viết khai khoa tú tài
Mộ táng tại Nguyệt đài hạ xứ bia minh viết khoa tú tài
- Nguyên phối hiển tỷ Trần Thị huý Hiểu hiệu Minh cơ
Nguyên phối hiển tỷ (mẹ) Trần thị huý Hiểu hiệu Minh Cơ
- Đông giáp thôn cố tú tài Thường muội dã.
Người thôn Đông giáp (Phú Bông, Phú Khương) em gái của tú tài Thường
- Tốt vi ngũ ngoạt nhị thập thất nhựt
Tốt ngày 27 tháng 5
- Mộ táng tại Nguyệt Đài hạ xứ ( Táng ở Nguyệt Đài hạ xứ).
- Sanh hạ sáu trai, ba gái
- Trưởng tử Phạm Văn hựu hậu cải bá Thục sanh vi
Con trai lớn Phạm Văn Hựu sau cải Bá Thục sanh giờ
- Đinh Mùi niên cửu ngoạt sơ tứ nhựt Dần bia
Dần ngày 4.9 năm Đinh Mùi (1847).
- Đệ nhị nam Phạm Văn Tá sau cải Văn Hoành sanh vi Canh Tuất niên ngũ ngoạt sơ ngũ nhựt Bính Thân.
Giờ tỵ ngày.. năm Bính Thân tháng năm năm Canh Tuất (1850)
- Tỵ bia.
- Đệ tam nam Phạm Văn Luân nhứt danh Văn Thành hậu
Con trai thứ ba Phạm Văn Luân một tên văn Thành
- Cải Trọng Tuấn sanh vi Nhâm Tý niên thập nhứt ngoạt .
Sau cải Trọng Tuấn sanh giờ hợi ngày 24 Canh Ngọ tháng 11 năm nhâm tý (1852)
- Nẩm trí nhựt Canh Ngọ hợi bia.
- Đệ tứ nam Phạm Văn Tuân hậu cải Văn Đạo sanh vi
Con trai thứ tư Phạm Văn Tuân sau cải văn Đạo sanh
- Ất Mão niên chánh ngoạt sơ cửu nhựt
Giờ Dần ngày 9 quý dũ tháng giêng năm Ất Mão
- Quý Dậu dần bia (1855)
- Đệ ngũ nam Phạm Văn Huân sanh vi Đinh Tỵ niên ngu ngoạt sơ cửu nhựt mẹo bia
Con trai thứ năm Phạm Văn Huân sanh giờ mẹo ngày 9.5 năm Đinh Tỵ (1857).
- Tảo mộc thất ngoạt nẩm tam nhựt ( Chết sớm ngày 23.7)
- Trưởng nữ Phạm Thị Cẩm sanh vi Kỷ Mùi niên thập nhứt ngoạt nẩm nhị nhựt hợi bia. Thích vu Ân Phú châu
Con gái lớn Phạm Thị Cẩm sanh giờ Hợi ngày 22.11 năm Kỷ Mùi (1859). Gả chồng về Ân Phú châu
- Nhơn văn giai cùng cửu phẩm bá hộ Thiều Xuân
Tùng cửu phẩm văn giai bá hộ Thiều xuân nhuận .
- Nhuận sanh nhứt nam Văn Chước tảo mộc ( sanh một trai văn chước chết sóm).
- Tốt vi bát ngoạt nẩm thất nhựt tỵ (tốt 27.8).
- Trọnh nữ Phạm Thị Tịch sanh vi Quý Hợi niên tứ ngoạt sơ nhứt nhựt mẹo bia.Thích vu biãnh xã (Quế sơn). Bá họ Hứa Quang Diệu (Bá Đức).
- Đệ lục nam Phạm Văn Quỳnh cải văn Khởi
Co trai thứ 6 Phạm Văn Quỳnh sau cải Văn Khởi
- Sanh vi Ất sửu niên nhứt ngoạt nẩm tam nhựt thìn bia.
Sanh giờ Thìn ngày 23.11 năm Ât Hợi (1865).
- Quý nữ Phạm Thị Hạnh sanh guờ Mùi 25.1 năm Quý Tỵ (1869)
- Ngoạt nẩm nhựt Mùi khắc. Thích vi Bảo An đông xã Phan Kim đôi.
Gả chồng Phan Kim Đôi (tên thường gọi Biện Luận) ở Bảo An đông.
- Đệ cửu thế dĩ hạ
Đời thứ chín trở xuống
- Phụng cứu bổn tộc đệ ngũ thế biên bổn ccuổi niên
Phụng cứu tộc ta đời thứ 5 biên để lại tế thu.
- Thất ngoạt nhựt nhứt thu tế thập nhị ngoạt
Ngày 11 tháng 7 tảo mộ ngày 20.12
- Nhị thập tảo mộ . Đệ thất bát thế mỗi niên thập nhị ngoạt sơ ngũ lục đẳng nhựt tam phái hội đồng tu tảo mộ dư các phân tảo diên.
Đời thư bảy thứ tám mỗi năm các ngày mồng năm, mồng sáu thánh 12 ba phái hội đồng tu tảo mộ .
- Thành Thái niên gian bổn tộc hội huề đứng chỉ.
Năm Thành Thái bổn tộc họp lại định ngày 20..3 lễ tế Xuân , ngày 23.7 tế Thu.
- Tam ngoạt nhị thập xuân lễ thất ngoạt nẩm. Tam Nhựt thu thường.Thập nhứt ngoạt đông chí 9 Tháng 11 đông chí).
- Hội tảo mộ. Nhơn tế Thuỷ Tổ cập tứ ngũ thế. Dĩ hạ tồn tảo lệ hoặc thập nhứt ngoạt (Hội tảo mộ ).
- Thập nhị ngoạt biệt trạch nhựt phân tảo bia đắc . Châu thoả.
PHÁI BA
CHI MỘT - PHÂN CHI HAI
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Trọng Phủ huý Văn Bổn tự Đạo Sanh.
Tốt ngày 27 tháng tư .
Táng tại bổn châu Cồn Mồ xứ bia minh viết thứ phái
Phạm Trọng Phủ tự Đạo Sanh chi mộ.
Nguyên phối: Lê Thi Huý Tựu
Hiệu Như Nhựt thuỵ Thuần Hậu.
Con gái ông Hàn Lâm kiểm thảo Họ Lê ở Phi Phú.
Tốt ngày 2 tháng giêng
Táng tại bổn châu viên Trạch xứ bia minh viết ... Phạm Trọng Phủ nguyên phối Lê thuỵ Thuần Hậu
Sanh hạ ba trai, ba gái.
Trưởng nam Phạm Văn Khoa
Trọng nam Phạm Văn Bồi
Trưởng nữ Phạm Thị Đặng. Sanh 23.4 Canh Thân (1800). Chồng là y sĩ Phan Thiết con thư lại Vinh ở Bảo An.
Trọng nữ Phạm Thị Cọng. Sanh 13.2 năm Ât Sửu (1805)
Chồng là Điểu hương Trương Văn Khoan, ở Phi Phú tây châu.
Quý nam Phạm Văn Thừa chết sớm.
Quý nữ Phạm Thị Khảm, chồng tú tài Phan Kế Chấn ở Bảo An đông.
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Bá Phủ huý Văn Khoa
Tự sỹ Đồ thuỵ Thuần Phát. Sanh 16.6 Đinh Tỵ (1797).
Thí sanh , tư Hương Lễ bổn châu, thẩm tự Văn phổ huyện
Tốt 2.11 Đinh tỵ (1857).
Táng tại bổn châu Xuân Minh xứ bia minh viết:
Hường Vọng Phạm Bá Phủ Tự Sỹ Đồ thuỵ Thuần Phát.
Nguyên phối Đoàn Thị huý Tháo hiệu thiểm ba. Cô của phó tổng Dụng Đoàn Chánh Nghị người trong châu.
Tốt 14.12 Tân Mùi (1871).
Táng tại bổn châu Xuân Minh xứ bia minh viết Phạm Bá Phủ
Nguyên phối Đoàn thị hiệu thiểm ba
Sanh hạ ba trai, ba gái.
Trưởng nam Phạm Văn Tài hậu cải Vận.
Trọng nam Phạm Văn Khôi. Sanh 23 tháng 1 Giáp Ngọ (1834).
Tốt 11.1 Nhâm Dần (1842).
Trưởng nữ Phạm Thị Tụ hiệu Huý Khánh. Sanh 12.2 Quý Tỵ (1833). Chồng bà người Bảo An tên là Nguyễn Thế Hiển con ông tú tài Diễn.
Trọng nữ Phạm Thị Thọ. Sanh 16.8 Tân Mão (1831).
Tốt 21.10 táng xứ Tường đình Ân Phú
Quý nữ Phạm Thị Lịch. Sanh 1.7 Bính Thân (1836). Chồng bà là Thí sanh Tào Duy Ninh em của Tú tài Tào Duy Thanh.
Sanh một gái Tào Thị Loan vợ ông chánh Khương Họ Trịnh.
Quý nam Phạm Văn Định. Sanh 3.7 Canh Tý (1840).
Tốt ngày 1. 2 năm Nhâm Dần (1842). Mộ táng tại Ân Phú.
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Trọng Phủ huý Văn Bồi Tự Bá Tài
Tốt 6.4 .
Mộ táng ở xứ Kiệt lộ Ân Phú châu bia viết: Tổ thúc Phạm Bá Tài
Nguyên phói Trương Thị Hàn người làng Phi Phú
Sanh hai Gái
- Phạm Thị Cải có chồng người trong làng Sỹ Hoè tảo mộc
- Phạm Thị Chiêm chồng nguyên thơ lại Nguyễn Hàn , ở Hoá Mỹ tây châu.
ĐỜI THỨ MƯỜI
Hiễn khảo khai Khoa tú tài
Phạm bá Phủ huý văn Vận tự Đại Hanh.
Sinh ngày 6.5 Đinh Hợi (1827).
- Năm hai mươi tuổi niên hiệu Tự Đức thứ nhất (Mậu Thân 1848 đâụ tú tài).
-Hội chủ văn chi làng.
-Tốt ngày 16.11 năm Ât Hợi (1875)
Mộ táng tại xứ Nguyệt đài sau cải táng sang Tân Phong xã Duy Châu. Bia minh viết:
Cáo tặng Phụng nghị đại phu hàn lâm viện thị độc Mậu Thân ân khoa tú tài thuỵ Đoan trực đại hanh Phạm Phủ quân chi mộ.
Nguyên phối Trần thị huý Hiển hiệu Minh cơ.
Bà người làng Đông Giáp (Phú Bông, Điện Bàn) em gái của cố tú tài Trần Thường.
Tốt ngày 27 tháng 5 (không ghi năm).
Gia phổ không ghi năm bà mất . Trong phần sử của ông Phạm Tuấn ( Người con trai thứ ba) có ghi như sau:... Năm Thành Thái thứ bốn lăm (tức năm Quý Mão 1903)... ngũ ngoạt nhựt đơn khất thị dưỡng ( đơn xin về hầu nuôi) lục ngoạt nhựt hồi quán đinh gian (về quê chịu tang) bà mất có thể vào năm Thành Thái 15 hoặc 16. Sau đó hai hoặc ba năm khớp với thời gian để tang cho mẹ , vào năm Duy Tân thứ hai ( Thành Thái đến năm thứ 17 là hết).
- Ông Phạm Tuấn được bổ giữ chức đốc học tỉnh Hà Tỉnh.
(Duy Tân nhị niên bổ thọ lĩnh Hà Tỉnh đốc học).
Mộ bà táng tại Nguyệt Đài hạ, sau cải táng về thôn trên đất ông thủ Côn trước ngõ Phó Thoả, phía trên , hướng Nam Bắc. Sau này có thiếm Cửu ( Vợ chú Phạm Quang Trí) và bác Lễ Lượng cũng chôn tại đất này. Riêng mộ bà đã cải táng và chôn bằng quách sành. Đến nay chiến tranh tàn phá , bị cát bồi thêm vào , nên không biết đâu mà tìm.
Sanh hạ 6 trai, ba gái.
1)Phạm Văn Hữu hậu cải Bá Thục
2)Phạm Văn Tá hậu cải Văn Hoành
3)Phạm Văn Luân một tên văn thành sau cải Trọng Tuấn
4)Phạm Văn Tuân sau cải Văn Đạo
5)Phạm Văn Huân sinh 5.9 Đinh tỵ (1857).Tốt 23.7
6)Phạm Thị Cẩm sinh 12.11 Kỷ Mùi (1859). Chồng là Tùng cửu phẩm văn giai bá hộ Thiều Xuân Nhuận ở Ân Phú . Bà sinh một trai mẹ con đều chết. Kỵ ngày 28.8
7)Phạm Thị Tịch sinh ngày 1.4 Quý Hợi (1863). Chồng là Bá hộ Hứa Quang Diệu ở xã Đại Bình Quế Sơn . Tên thường gọi Bá Đức.
8)Phạm Văn Quỳnh hậu cải Văn Khởi.
9) Phạm Thị Hạnh sanh 25.1 Kỷ Tỵ (1869). Chồng là Phan Kim Đôi (Phan Chi) ở Bảo An đông, tên thường gọi Biện Luận.
PHÁI BA - CHI NHỨT- PHÂN CHI HAI
NHÁNH NHỨT
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
(Kế khoa tú tài)
Phạm Bá Phủ huý Bá Thục
Ngày kỵ 5 tháng 3
Sinh ngày 4 tháng chín năm Đinh Mùi (1847).
Tự Đức năm thứ ba mươi hai Khoa Kỷ Mão đỗ tú tài.
Thi thơ văn phổ huyện
-Nguyên phối Cao Thị Nhiễu con ông Thủ Bộ ở Phi Phú
Sanh hai trai, hai gái
1.Trưởng nam Phạm Văn Lan
2.Trưởng nữ Phạm Thị Thảo sinh tháng 2 Quý Dậu (1873)
3.Thứ nam Phạm Văn Lệ Tốt 15.4
4.Thứ nữ Phạm Thị Quyên sinh 25.4 Bính Tuất (1886). Chồng là thí sanh Trần Huy Bích Thôn Bình Cư, huyện Đại Lộc tên thường gọi Hương Chuyết.
*Thứ thất Nguyễn Thị Mộc người huyện Hà Đông
Sanh một trai, một gái
1.Phạm Thị Truật
2.Phạm Văn Côn
Mộ ông và bà trước táng Nguyệt Đài , cải táng đưa sang chôn tại xứ Bạc hà Tân phong xã Duy châu, Duy Xuyên cùng chung một mộ
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Bá Phủ huý Văn Lan
Sinh ngày 9 tháng mười năm Canh Ngọ (1870).
Thí sanh Hương tri Lễ thường gọi Lễ Lượng.
Tốt 18.8 Đinh Hợi (1947).
Mộ chôn ở Nguyệt Đài thượng trên đám đất tư của chú Phạm Quang Trí, trước ngõ Phó Thoả, chiến tranh tàn phá không tìm ra.
Nguyên phối Nguyễn Thị Liên người làng Ngọc Trâm
Sanh hai trai, bốn gái.
1. Phạm Thị Giáo sinh Bính Thân chồng họ Nguyễn ở Thạch Bộ nay là xã Đại Hoà Đại Lộc.
2. Phạm Văn Quảng
3. Phạm Thị Huyền sinh Đinh Mùi (1907) có chồng ở thập xã Đại Chánh Đại Lộc . Không có con. Sau năm 1975 về ở với cháu. Mất ngày 25.4 năm Quý Dậu (1993) tại nhà cháu là Phạm Văn Thạch Quế Lộc huyện Quế Sơn.
4. Phạm Văn Qui sinh Canh Tuất (1910) chết lúc trên 30 tuổi chưa có vợ con.
5.Phạm Thi Thú sinh năm Giáp Dần (1914). Đời chồng sau là Phó Thoả họ Nguyễn Long Hội.
6. Phạm Thị Mười sinh Kỷ Mùi (1919) chồng Phan Thiệm ở Phi Phú.
Bác Lễ Lượng có 9 người con , đây chỉ ghi được 6 người đã trưởng thành, từ sau năm 1945 lớp người trước chết dần nên không biết để ghi.
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Quảng
Sinh Bính Ngọ (1906)
Lớn lên đi làm ăn ở nhiều nơi. Khi làm ở Mỏ vàng Bông Miêu, lấy vợ người ở Phúc Bình nay là xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn. Sau này ở theo quê vợ.
Mất ngày 9 tháng 2 năm Mậu Tý (1948).
Vợ là Nguyễn Thị Chánh , sinh năm 1910, người ở Phúc Bình xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn. Mất ngày 25.1 năm Đinh Tỵ (1977).
Sanh hạ bảy trai, một gái.
1.Gái đầu lòng Phạn Thị Chánh sinh vào khoảng 1931. Có chồng người Phúc Bình, chồng chết còn một người con trai hiện ở Đức Linh, Tỉnh Bình Thuận.
2.Một con trai thứ ba chết sớm
3.Tiếp đến sinh thêm bốn con đều chết cả.
4.Con thứ tám là trai: Phạm Văn Thạch sinh 10. 6 năm 1946.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Thạch
Sinh năm Giáp Tuất (4 tháng 6 năm 1946)
Vợ Nguyễn Thị Tám người Phúc Bình, Quế Lộc, Quế Sơn.
Sinh năm Ất Dậu (1945).
Sinh hạ một trai, bảy gái.
1.Phạm Thị Minh sinh năm 1966.
2.Phạm Thị Nga sinh năm 1970.
3.Phạm Thị Mai sinh năm Nhâm Tý (1972) chết năm 1991.
4.Phạm Quang Sơn sinh năm 1974 năm Giáp Dần.
5.Phạm Thị Nguyệt sinh năm 1978 (Mậu Ngọ).
6.Phạm Thị Bích sinh 1980 Canh Thân
7.Phạm Thị Lan sinh năm 1983 Quý Hợi
8.Phạm Thị Mơ sinh năm 1988 Mậu Thìn.
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Trọng Phủ huý Văn Hoành
Mệnh danh Văn Tả
Sinh 5.5 Canh Tuất (1850)
Tốt 10 tháng 3 năm Canh Ngọ (1930)
Ông ở theo quê vợ làng Quảng Đại- Đại Cường - Đại Lộc.
Nguyên phòng kiểm huyện Quế Sơn.
Nguyên phối Nguyễn Thị Mẫn
Bà là con gái lớn ông Hương Mục Nguyễn Nghị tức là chị ông Hương Viêm ở Quảng Đại.Bà mất ngày 12 tháng 10 năm kỷ Mão (1909).
Sanh hạ 6 trai, sáu gái.
1.Phạm Văn Tư sinh ngày 19 tháng 7 năm Bính Ty (1876)
2.Phạm Thị Trình sinh ngày 7 tháng 9 năm Đinh Sửu (1877) chồng là thí sỹ Nguyễn Phương Nguyên quán Trà Kiệu, ngụ tại Phú Mỹ, Đại Minh, Đại Lộc (tên thường gọi Ngật).
3.Phạm Thị Ý sinh ngày 7 tháng 4 năm Canh Thìn (1880) chồng họ Nguyễn Thành Phú Nhuận, xã Duy Hoà, Huyện Duy Xuyên (tên thường gọi xã Tào).
4.Phạm Văn Như sinh ngày 5 tháng 6 năm Nhâm Ngọ (1872).
5.Phạm Văn Tích sinh ngày 27 tháng 6 năm Giáp Thân (1884).
6.Phạm Văn Tuất sinh ngày 30. 5 năm Bính Tuất (1886) chết sớm.
7.Phạm Thị Khuê sinh ngày 7 tháng 5 năm Mậu Tý (1888) chồng là Lê Chước người Quảng Đại, Đại Cường, Đại Lộc (tên thường gọi Thủ Chẩn).
8.Phạm Thị Chung sinh ngày 14. 7 năm Kỷ Sửu (1889) chết sớm.
9.Phạm Thi Dần sinh ngày 2. 8 năm Canh Dần (1890) chết sớm.
10. Phạm Văn Bích sinh 15 tháng 10 năm Tân Mão (1891).
11. Phạm Thị Giai sinh 12 tháng 8 năm Giáp Ngọ (1894) chết sớm.
12. Phạm Văn Trâm sinh ngày 23 tháng 6 năm Bính Thân (1896).
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Bá Phủ
Huý Văn Tư
Sinh ngày 19 tháng 7 năm Bính Tý (1876)
Mất ngày 20 tháng 7 năm Giáp Thân (1944)
*Thí sanh Tư Hương Lễ ( Tên thường gọi Hương Trọng).
Nguyên phối Lê Thị Thu . Người ở Đa Hoà Châu nay là xã Điện Hồng, Điện Bàn, em gái Lê Hiển. Bà mất ngày 21 tháng 7 .
Sanh hạ hai trai, một gái
1.Phạm Thị Trọng sinh ngày19.11 năm Kỷ Hợi (1899) chết sớm.
2.Phạm Văn Vọng.
3.Phạm Văn Nguyệt sinh ngày 5.7 năm Giáp Thìn (1904) chết sớm.
*Kế thất Đặng Thị Hùng, con gái lớn cai châu đặng ở thôn Vĩnh Trinh. Sanh hạ 2 trai, 3 gái.
4.Phạm Văn Liên
5.Phạm Thị Nghiã sinh ngày 12 tháng 12 năm Tân Hợi (1911) chồng người họ Lê ở Quảng Đại, Đại Cường (tên thường gọi là Ngự).
6. Phạm Văn Lý sinh ngày 22 tháng 12 năm Giáp Dần (1914)
chết 6 tháng 5...
7.Phạm Thị Tám chồng người họ Huỳnh ở Trà Kiệu Trung, Duy xuyên
8.Phạm Thị Mười chồng họ Võ ở Phú Mỹ Đại Minh, Đại Lộc.
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Vọng
Sinh ngày 15 tháng 10 năm Tân Sửu (1901).
Tên con là Vỏ, thường gọi anh Vỏ , đi làm ăn phương xa. Sau ở Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà. Có thêm vợ và có con. Trong những năm chiến tranh (1945-1975) anh có về quê một lần, rồi trở lại xã Ninh Phụng , Ninh Hoà. Nguyễn Tuân con anh Chánh Nghinh đã có lần đi qua Ninh Hoà có ghé vào nhà.
Vợ Trương Thị... Người Tân Mỹ Đại Lộc.
Sanh hạ một trai, hai gái.
1.Phạm Văn Vỏ
2.Phạm Thị Ba
3.Phạm Thị Bốn
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Vỏ
Sinh năm Mậu Thìn (1928)
Chết ngày 26 tháng 3 năm Kỷ Dậu (1969)
Trong chiến tranh làm cán bộ ban kinh tế xã. Hy snh năm 1969. Phong liệt sĩ, khen thưởng huân chương kháng chiến hạng III
Vợ Nguyễn Thị Hoàng . Người ở Trang Điền, Đại Cường, Đại Lộc, Quảng Nam. Sanh hạ ba trai, một gái.
1.Phạm Văn Văn sinh năm Giáp Ngọ (1954).
2.Phạm Thị Năm sinh năm 1965. Có chồng người trong làng Tên là Trần Xuân Tám.
3.Phạm Sáu chết lúc 3 tuổi
4.Phạm Văn Bảy sinh năm 1967 (Bính Dần).
ĐỜI THƯ MƯỜI LĂM
Phạm Văn Văn
Sinh ngày 4 tháng 8 năm Giáp Ngọ (1954).
Trong chiến tranh cán bộ xã đôi xã đại Cường. Từ 1980-1978 đi bộ đội đến năm 1982 phục viên, công tác thôn cho đến năm 1991. Khen thưởng huân chương kháng chiến hạng III.
Vợ Phan Thị Phượng người ở thôn Tư xã Đại An (nay là xã đại Hoà Đại Lộc) sinh năm ất Mùi (1955). Sanh hạ ba trai, hai gái
1.Phạm Thị Vân sinh năm 1976
2.Phạm Văn Anh sinh năm 1979
3.Phạm Văn Trung sinh năm 1980
4.Phạm Văn Dũng sinh năm 1982
5.Phạm Thị Nga sinh năm 1985
ĐỜI THỨ MƯỜI LĂM
Phạm Văn Bảy
Sinh năm Đinh Thìn (1967)
Vợ Nguyễn Thị Cháu người ở Ô Gia Đại cường, Đại Lộc .
Sanh hạ hai trai
1.Phạm Văn Vương sinh năm 1991.
2.Phạm Văn Vỹ sinh năm 1993
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Liên
(Con ông Phạm Văn Tư)
Sinh ngày 15 tháng 5 năm Mậu Thân (1908).
Trong chiến tranh anh Liên vào làm ăn ở Mê Pu thuộc huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Vợ Dương Thị Hoa. Người Phú Thuận, xã Đại Thăng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Sanh hạ: Một trai, bốn gái.
1.Phạm Thị Tứ
2.Phạm Thị Ngũ Phạm Thị Sáu (chết sớm).
3.Phạm Thị Bảy
4.Phạm Văn Tám, sinh năm Giáp Thìn (1964).
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Tám
Sinh năm Giáp Thìn (1964)
Vợ : Hà Thị Kim Đào
Sinh ngăy ... thâng ... năm....
Sanh hạ :
1.Phạm Minh T (1989)
2.Phạm Hă Thiín Thanh (1994)
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Như hậu cải Huyến
Sinh ngày 5 tháng 6 năm Nhâm Ngọ (1882)
Tốt ngày 12 tháng 3 năm Bính Thân (1958)
Thí sanh Lý trưởng Tư thơ văn chỉ
Mộ ông táng tại đất tư phía trên lăng Đội Luận thuộc xứ Viên Trạch, chiến tranh cày đi xới lại nhiều lần, mất hết vết tích. Sau giải phóng đã khai quật để tìm nhưng chưa ra.
*Nguyên phối: Huỳnh Thị Mích
Sinh ngày 19 tháng 6 năm Tân Mão (1891). Tốt ngày 16.11 năm Đinh Hợi (1947). Con của ông cử nhân Huỳnh Văn Thiện (ông cửu Tư) ở Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Năm 1947 chiến tranh do chiến tranh gia đình di cư vào phía nam tỉnh, sau đó vào ở Hòn Cảnh hoặc (Hoà Cảnh) xã Phú An huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định từ tháng 5. Đến tháng 11 lâm bệnh nặng và mất vào ngày 16.11, táng tại xứ Thu Tĩ bản thôn. Đến năm 1981 con cháu mới vào di dời về táng tại khu mộ của gia đình tại xứ Bạc Hà , thôn Tân Phong, xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên.
Sanh hạ ba trai
1.Phạm Văn Dậu sinh Kỷ Dậu (1909).
2.Phạm Văn Tẩn (sau cải Vũ Hoàng) sinh 13.7 năm Đinh Tỵ (1917).
3.Phạm Văn Thăng (sau cải Phạm Đằng) sanh 27.8 Kỷ Mùi (1919).
*Thứ thất: Nguyễn Thị Mười. Người ở xứ La Trung . Tốt 20.8 năm Đinh Mão (1927).
Mộ táng ở đám đất tư 5 sào liền với còn Dưới.
Sanh hạ hai trai, một gái.
4. Phạm Thị Hốt sinh năm Tân Dậu (1921). Chồng là ông Nguyễn Nhứt con của ông Thủ Địch ở Na Kham
5. Một trai vô danh sinh năm Giáp Ty.
6. Phạm Văn Băo sinh 12 tháng 10 năm Bính Dần (1926).
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Dậu
Sinh năm Kỷ Dậu (1909)
Chết ngày 18 tháng 8 năm Tân Mùi (1931).
Năm 20 tuổi có vợ sau đó đi theo các chú Thống, chú Trân vào Campuchia làm ăn. Đau chết tại đó.
Vợ Đoàn Thị Lắm con gái thứ ông Trùm Phát phái ba họ Đoàn Xuân Đài. Tuổi Kỷ Dậu (1909).
Sinh một trai là Phạm Văn Dưỡng.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Dưỡng
Sinh năm Tân Mùi (1931)
Tốt ngày 25 tháng 1 năm Giáp Tuất (1994).
Mộ táng: tại:......cha mat sớm, mẹ tái giá ở với ông bà nội. Sau năm 1945 theo gia đình đi tản cư ở nhiều nơi. Sau lập gia đình và ở Tại Hội An.
*Vợ: Phan Thị Anh, người ở Bàn Lãnh đông.
Sanh hạ: một trai, một gái.
1.Phạm Quang Tuyến , sinh ngày 15 tháng 12 năm 1966.
2.Phạm Thị Ân, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1968.
*Vợ thứ: Văn Thị Bốn người cùng làng
Sanhhạ : Một trai, một gái
3.Phạm Văn Hội sinh tháng 8 năm Mậu Thân 1968
4.Phạm thị An, sinh ngày 1 tháng 12 năm 1971
ĐỜI THỨ MƯỜI LĂM
Phạm Văn Hội
Sinh năm tháng 8 năm Mậu Thân 1968 Tân Mùi
Vợ: Phạm Thị Bận người Bàn Lãnh (xã Điện Trung, Điện Bàn).
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Tẩn
Sau cải Vũ Hoàng
Sinh năm Đinh Tỵ (1917)
Mất tháng chạp Đinh Hợi (1947)
Mộ táng Tại:...........................................................................................................
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Thăng
Sau cải Phạm Đằng
Sinh ngày 27 tháng 8 năm Kỷ Mùi (1919)
Mất ngày 17 tháng 12 năm Ất Dậu (12/2/2000)
*Kỵ ngày 16 tháng chạp
Mộ Táng tại: Khu nghĩa địa xã Điện Quang, Điện Bàn (phía sau nghĩa trang liệt sỹ xã Điiện Quang, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
ng sinh năm 1945 tham gia cách mạng làm chủ tịch UBND xã Điện Quang, sau đó làm nhân viên UBND huyện Điện Bàn. Năm 1954 tập kết ra Bắc công tác ở uỷ ban hành chánh khu Việt Bắc và các trường trung học chuyên nghiệp tại Thái Nguyên (sau này là tỉnh Bắc Thái). Sau ngày giải phóng (1975) trở về quê hương. Khen thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và huân chương kháng chiến hạng nhất.
*Vợ Hoàng Thị Thuý sinh năm Nhâm Tuất (1922). Con gái thứ ông Hoàng Bá (tên thường gọi là ông Ân Tiệm). Trong chiến tranh tản cư đi nhiều nơi, sau ở Đại Bình thuộc xã Quế Lôc, Quế Sơn. Đến năm 1952 bệnh chết. Mộ táng tại Đại Bình. Đến năm 1981 cải táng đem về nghĩa địa ở Tân Phong, xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên.
Sanh hạ: Ba trai, một gái.
1.Phạm Hoàng Hộp sinh ngày 23 tháng 1 năm Quý Mùi (1943) và chết ngày 5 tháng 10 năm Ât Dậu (1945).
2.Phạm Hoàng Khai sinh ngày 23 tháng 1 năm ất Dậu (1945). Lớn lên lúc 7 tuổi mồ côi mẹ , lên 9 tuổi Ba đi tập kết ra Bắc ở với chú thiếm Bảy. Sau đó ông nội chú (ông Thống) gửi xuống Hội An nhờ vợ chồng chú Lê Chương , bà con bên ngoại cho ăn học. Sau khi tốt nghiệp trung học bị bắt di lính trong chế độ Miền Nam cộng hoà, quân hàm trung uý bị bắn chết tại nơi trú quân ở Phù Cát, tỉnh Bình Định ngày 12 tháng 8 năm Giáp Dần (1974). Mộ táng ở Cồn Mã xã Cẩm Phô, Hội An (trước chùa Long Truyền).
3.Phạm Thị Duyên sinh tháng 11 năm Bính Tuất (1946). Trong chiến tranh đi làm ăn, sinh sống nhiều nơi, sau ở Qui Nhơn , chồng là Trần Văn Tỉnh. Sau giải phóng chuyển về ở Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
4.Phạm Hoàng Cư sinh tháng 9 năm 1949.
*Kế thất: Nguyễn Thị Bình sinh năm 1935.
Quán chợ Dần Đình Bảng, Bắc Ninh nay thuộc huyện Tiên Sơn Tỉnh Hà Bắc. Tản cư ở xã Minh Bảo huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Tại hai nơi này hiện nay không còn bà con thân thích. Một người anh trai tên Nguyễn Văn Kính ở xã Tân Thịnh Trấn Yên, và hai người em gái có chồng cũng ở Thị xã Yên Bái, và vùng nông trường Văn Hưng Yên Bình. Đi thanh niên xung phong các chiến dịch Tây Bắc , Yên Bái, Điện Biên những năm 1952- 1954.
Sau vê làm nhân viên phục vụ ở các trường và cơ quan ở Yên Bái và Khu Việt Bắc. Khen thưởng một huy hiệu kháng chiến và một huân chương kháng chiến hạng nhất .
Sanh hạ: Bốn trai, một gái
1.Phạm Thị Thái sinh ngày 19 tháng 8 năm Đinh Dậu (1957).
2.Phạm Quảng Nguyên sinh ngày 18 /11/1960
3.Phạm Quốc Cường sinh ngày 14/9/1962 tại bệnh viện Phú Lương, Thái Nguyên.
4. Phạm Tăng Lực, sinh 13 tháng 4 năm Mậu Thân (1968).
5. Phậm Tấn Sỹ sinh ngày 13 tháng 4 năm Canh Tuất (1970). Tại bệnh viện Phú Lương. Sơ tán ở Bắc Cạn.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Hoàng Cư
Sinh tháng 9 năm 1949
Cư, Diêu cũng như Khai, nhưng khai và Cư được đi học Cư mới đậu bán phần tú tài đi lính Hải quân . Sau giải phóng về quê làm ruộng.
Vợ: Trần Thị Hoa sinh ngày 10 tháng 10 năm 1953.
Con ông: Trần Đình Cho ở thôn Gia Cốc, Đại Minh, Đại Lộc.
Sanh một trai, một gái.
1. Phạm Thị Cẩm Tú sinh ngày 10 tháng 5 năm 1979
2. Phạm Quốc Hưng sinh ngày 15 tháng 8 năm 1983
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Quảng Nguyên
Sinh tháng 11 năm 1960
Vợ: Đoàn Thị Chiêu, sinh năm 1960 con ông Đoàn Ngọc Thiết người cùng làng
Sanh hạ: Một trai, hai gái.
1.Phạm Thành Danh sinh ngày 18 tháng 10 năm 1982.
2.Phạm Thị Phương Mai, sinh ngày 14 tháng 2 năm 1986
3.Phạm Thị Tuyết Mai, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1989
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Quốc Cường
Sinh ngày 14 tháng 9 năm 1962
Vợ: Phan Thị Thanh Ngọc , Sinh ngày ... tháng .... năm 1970
Quí quân : Thon Bảo An, Điện Quang, Điện Băn.
Sanh hạ :
1.Phạm Nhật Lệ. Sinh năm 2001
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Tăng Lực
Sinh ngày 13 tháng 4 năm 1968
Vợ: Đoàn Thị Phương, Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1971
Con ông Đoàn Tưởng người cùng làng.
Sanh hạ: Một trai vă một gâi :
1. Phạm Phạm Hoăi Thương
2. Phạm Thị Diễm
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phậm Tấn Sỹ
Sinh ngày 13 tháng 4 năm Canh Tuất (1970)
Vợ: Trần Thị Thu Thảo
Sinh ngày ... tháng ... năm ....
Sanh hạ: Một trai :
1. Phạm Quốc Anh, sinh năm 2007
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Bào
(Tên thường gọi Bảy Rèn)
Sinh ngày 12 tháng 10 năm Bính Dần (1926).
Mất ngày 2 tháng 1 năm Quý Dậu (1993)
Mộ Táng tại: Khu nghĩa địa của xã Điện Quang, Điện Bàn (phía sau nghĩa trang liệt sỹ xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
Vợ: Phạm Thị Loan, sinh năm Canh Ngọ (1930). Con gái ông Phạm Văn Phụng ở Lư Ngư Điện Trung, Điện Bàn.
Sanh hạ: Ba trai, ba gái.
1. Phạm Văn Quang sinh năm Bính Thân (1956)
2. Phạm Văn Hy sinh năm Kỷ Hợi (1959).
3.Phạm Thị Phi sinh năm Tân Sửu (1961)
4. Phạm Thị Phi em sinh năm Quý Mão (1963)
5. Phạm Thị Phượng sinh năm Bính Ngọ (1966)
6. Phạm Văn Chỉ sinh năm Quý Dần (1973).
Chú Bảy Rèn mẹ mất khi còn nhỏ, mẹ lớn nuôi dưỡng chú bị bệnh câm điếc nói không rõ. Khi lớn lên làm nông. Trong chiến tranh đi tản cư nhiều nơi, sau ngày giải phóng (1975) về quê sinh sống. Khoảng năm 1983 chú bắt đầu lâm bệnh kéo dài nhiều năm, nặng nhất là từ năm 1991 trở đi. Chú mất vào ngày 24 tháng 1 năm 1993 thọ 68 tuổi.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Quang
Sinh năm 1956
Vợ: Văn Thị Lào, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1956. Người họ Văn Xuân Đài, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam.
Sinh hạ: Ba trai
1. Phạm Văn Vinh. Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1979.
2. Phạm Văn Hiển. Sinh ngày 15 tháng 15 năm 1983
3. Phạm Văn Tự. Sinh ngày 14 tháng 5 năm 1986
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Hy
Sinh năm 1959
Vợ: Phan Thị Thôi. Sinh năm 1966, nguời Bàn Lãnh đông, Điện Trung, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Sanh Hạ: Hai trai
1.Phạm Văn Mỹ
2.Phạm Văn Sơn
3. Phạm Văn Hă
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm văn Tích (tức chú Xân)
Sinh ngày 27 tháng 6 năm Giáp Thân (1884)
Chết ngày 28 tháng 12 năm Ât Dậu (1945)
Mộ táng: ở sào một đất dành làm nghĩa địa cho con cháu ông nội tại thôn Quảng Đại - Đại Cường - Đaị Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Chú xân lúc nhỏ ít học. Khi trưởng thành tiếp tục nghiệp nông. Một lần chú vào trong Dầu Tiến tìm con trai, gái. Ca hai người không ai chịu về về với chú. Thiếm thứ hai sau này cũng không ở với chú. Khi mất chỉ có một mình chú ở nhà.
Nguyên phối: Mai Thị huý út. Con gái út ông Thủ Bổn họ Mai ở xã Thu Bồn huyện Quế Sơn ( nay thuộc xã Duy Thu, huyện Duy Xuyên). Tốt ngày 4.5 táng tại mộ địa của gia đình.
Sanh hạ: Hai trai
1.Phạm Văn Chấn, sinh ngày 16 tháng 9 năm Mậu Thân (1908)
2.Phạm Văn Lân, sinh ngày năm Tân Hợi (1911) không ghi ngày mất.
*Kế thất : Nguyễn Thị huý .... em gái cựu lý trưởng họ Nguyễn ở Phú Nhuận .
Sanh hạ: Một trai, một gái.
3.Phạm Thị Chỉ sinh ngày 26 tháng 9 năm Giáp Dần (1914).
4.Phạm Văn Phụng tảo mộc (chết sớm).
Chú hai Xân khi ngoài 20 tuổi theo người vào Nam đến ở Gò Công, rồi ở lại trong đó lấy vợ sinh con, không có thư từ gì về nhà, coi như biệt tích. Chú Thống và chú Trân trong những lần vào Nam (1938-1933) có đến Gò Công và đã gặp hai Xân. Nhưng mãi đến sau này vẫn không có tin tức gì.... Em chú hai Xân , cô Bốn Chỉ khi lớn lên cũng vào Dầu Tiến (Thủ Dầu một) ở điền cao su . Có chồng con và ở luôn tại đó. Vào những năm 1960 và 1980 cô chỉ có về thăm quê và có cho biết là anh em ở trong đó đã có liên lạc. Con chú hai xân đã có lần lên ở Dầu Tiến, nhưng sau lại cũng bặt tin. Đến nay hai người cũng đã cao tuổi không biết còn sống hay đã chết. (Lưu ý: Các con cháu trong gia tộc ai biết tung tích và có liên lạc . Thì nên bổ sung thêm phần này vào gia phổ . Để khỏi khó khăn, trở ngại cho con cháu sau này, khi truy tìm nguồn gốc của mình).
PHÁI BA CHI NHỨT
PHÂN CHI II - NHÁNH II
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Bích
Sau cải Phạm Thái
(Tên con là Thống)
Sinh ngày 15 tháng 10 năm Tân Mão (1891)
Mất ngày 12 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1980)
Hưởng thọ 88 tuổi
Mộ táng: ở Phú Hanh Tây, Đại Thạnh, Đại Lộc.
Ông ở theo quê vợ Thôn 1, xã Đại Thạnh, Đaị Lộc. Ông học chữ Hán từ nhỏ, khi ông nội chú làm đốc học ở Hà Tỉnh, ông được đi theo ông nội ăn học. Sức học của ông thuộc loại học trò đi thi (thí sanh) sau này học thêm chữ quốc ngữ, biết đọc, biết viết thông thạo, học chữ Pháp biết chút ít. Vào những năm 30 đi theo người bà con vào Campuchia làm lục lộ trong vòng mấy năm, sau về quê sống kiểu nhà nho nghèo. Ham tân học, hay nói chuyện canh tân, và bàn đến thời thế quốc sự. Trong chiến tranh ông vẫn ở tại quê, lúc sau quá ác liệt ông ra Đà Nẵng ở với con. Sau ngày giải phóng (1975) trở về quê. Đến năm 1980 ông mất, thọ 88 tuổi.
Lúc sinh thời, ông có kể lại một chuyện về chuyến hành trình của ông nội chú (Tiến sĩ: Phạm Tuấn) lúc đi nhận chức đốc học ở Hà Tỉnh :
Xuống tàu thuỷ tại cảng Đà Nẵng, cặp bến Hải Phòng rồi lên Hà Nội. Tại Hà Nội, ông nội có dẫn đi thăm Lăng Miếu Khổng Tử. Sau đó đi taù hoả vào Vinh, rồi mới vào Hà Tỉnh, thời gian đó là năm Duy Tân thứ hai tức năm 1908.
Trong năm anh em ruột, ông là người được đi nhiều nhất, nếu kể cả anh em lớp trước của ông, ông cũng là người đi ra ngoài nhiều nhất và nhất là được gần gủi tiếp xúc với tầng lớp trên lúc ông nội làm đốc học Hà Tỉnh.
Nguyên phối: Đoàn Thị Hoè.
Sinh ngày... tháng... năm... Mất ngày 18 tháng 11 âm lịch. Bà là con gái ông Quản Phát ở Phú Hanh Đông.
Sanh hạ: Hai trai, năm gái.
1.Một trai chết sớm không tên.
2.Phạm Thị Huyên ( tên thường gọi là Đô) sinh năm Canh Thân (1920) chồng người họ Lê ở Văn Ly, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trong chiến tranh bà có nhiều đóng góp cho cách mạng. Nên đuợc Nhà Nước phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
3.Một gái chết sớm không tên.
4.Phạm Thị Đào, sinh năm Bính Dần (1926) có chồng tên là Trần Nhẫn ở Kỳ Lam, nay ở an cư Đông, thành phố Đà Năng.
5.Phạm Thị Hà, sinh năm Mậu Thìn (1928) chồng là Huỳnh Huống người Phú Hanh.
6.Phạm Văn Phổ, sinh năm Ât Hợi (1935).
7.Phạm Thị Tám sinh Kỷ Mão (1939) chết sớm.
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Phổ
Sinh năm Ât Hợi (1935)
Mất ngày 18 tháng 6 năm 1965 (Ât Hợi)
Mộ táng tại:.........
Vợ: Phan Thị Thẩn, người Phú Hanh Tây.
Sanh hạ: Hai trai, một gái.
1.Phạm Văn Diệp, sinh ngày... tháng ... năm 1955
2.Phạm Văn Quyền, sinh ngày... tháng ... năm 1960
3.Phạm Thị Xuân Hương chết sớm
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Diệp
Sinh ngày ... tháng... năm 1955
Vợ: Lâm Thị Ai, sinh ngày 8 tháng 10 năm 1956. Con gái ông Lâm Dũ ở Bến Dầu, Đại Thạnh, Đaị Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Sanh hạ: Hai trai, một gái.
1.Phạm thị Nga sinh ngày 9 tháng 1 năm 1986.
2.Phạm Văn Lâm Ca sinh ngày 23 tháng 8 năm 1989
3.Phạm Lâm Văn Văn sinh ngày 28 tháng 3 năm 1993.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Quyền
Sinh ngày ... tháng... năm 1960
Vợ: Huỳnh Thị Bảy sinh ngày9 tháng 1 năm 1963
Sanh hạ: Ba trai.
1.Phạm Văn Trình sinh ngày 27 tháng 10 năm 1982.
2.Phạm Văn Trường sinh ngày 19 tháng 4 năm 1985.
3.Phạm Văn Sôn sinh ngày 9 tháng 1 năm 1988.
ĐỜI THỨ NƯỜI HAI
Phạm Văn Trâm
Sinh ngày 23 tháng 6 năm Bính Thân (1896)
Mất ngày 26 tháng 10...
Tên con là: Phạm Văn Trân, Ông là con trai út của ông bà nội và trong năm anh em, chú là người to lớn, khoẻ mạnh hơn cả. Chú học chữ Hán đọc, viết thành thạo. Lúc còn trẻ chú có lần đi vào Campuchia với chú Thống làm lục lộ, một lần có đi làm đường xe lửa ở Đà Nẵng- Nha Trang, vào những năm 30. Trong một cơn đau đột ngột đã qua đời vào ngày 25 tháng 10. Hưởng thọ khoảng 45 tuổi. Mộ táng tại khu nghĩa địa gia đình (Nằm ở hướng Tây bắc) .
Nguyên phối: Trương Thị Kiến, người Quảng Hoá (nay là thôn I thuộc xã Đại Hoà, Đaị Lộc). Bà mất ngày 28 tháng 12 năm Tân Mão (1951).
Sanh hạ: Một trai, hai gái.
1.Phạm Vănn Trân, sinh ngày 26.10 năm Mậu Ngọ (1918)
2.Phạm Thị Châu. Có chồng về Thanh Vân , xã Đại Cường, Đaị Lộc. Trong chiến tranh đi vào ở tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay có con cái làm ăn, định cư tại đó. Riêng có một người con gái đầu có chồng về làm dâu họ Đỗ ở Ô Gia, thuộc xã Đại Cường, có con cái sinh sống tại đây.
3. Phạm Thị Hổ ( tên thường gọi Quyệt) có chồng về ở tại thôn hai xã Đại Hoà, Đaị Lộc. Mất ngày 14 tháng chạp năm 2004, kỵ ngày 13 tháng chạp. Có một con gái thứ ( tên thường gọi là Giao) có chồng, con ở Nha Trang, một cô có chồng, ( tên thường gọi là Chiến , chồng tên là sáu Tranh) ở thôn 6 xã Đại Hoà. Một đứa con trai lớn ( tên thường gọi là Đức, vợ tên là Tám. Làm rể nhà ông Nhơn) vợ con ở thôn 1 xã đại Hoà và đã chết trẻ. Còn một trai út ( tên thường gọi là Bảy, vợ tên là Bê) hiện nay ở tại thôn II, xã Đại Hoà, huyện Đaị Lộc .
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Trân
Sinh ngày 26 tháng 10 năm Mậu Ngọ (1918)
Mất ngày 13 tháng 4
Vơ : Nguyễn Thị Đắc (tên thường gọi là Lê), con gái thứ ông bà Chánh Cư họ Nguyễn Đăng, ở tại Thôn Quảng Đại, xã Đại Cường, Đaị Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Sinh năm 1920, mất ngày 8 tháng 7 năm Tân Dậu (1981). Sau một cơn bệnh đột ngột, lúc này không có con cái ở nhà, vì đã đi công tác ở xa. Khi con cái trở về, nghe bà con thuộc lại là : Sáng hôm ấy bà đi chợ Quảng Huế, về đến nhà thì đột ngột lâm bệnh và chết, không kịp trăn trối lại cho con cháu điều gì. Mộ bà được an táng tại phía Nam gần khu mộ gia đình. Nếu lấy điểm khu mộ gia đình (sào một) đi ngược vào trong khoảng 30m thì đến nơi bà an nghỉ. đến năm 2008 cải tâng về chôn tại khu mộ gia đnh.
Sanh ha : Năm trai, hai gái:
1. Phạm Thị Lê Trong kháng chiến chống Mỹ tham gia cách mạng, và bị địch bắn chết tháng 10 năm 1964, trên sông Thu Bồn ( lịch sử lụt 23 tháng 10 năm Thìn 1964, ngoài đồng bào ta bị chết vì lụt lội, làng ta lại bị bọn giặc sát hại rất nhiều người yêu nước, tham gia cách mạng. Hàng năm đến ngày này làng ta có ngày giỗ hội). Mộ táng tại Gò Đình thuộc làng Quảng Đại, Đại Cường. Sau cải táng về táng tại khu mộ gia đinh.
Chị đã có chồng người ở Aí Mỹ, nay thuộc khu 7 Thị Trấn Ai Nghĩa. Chồng chị tên là (Hai Cúc con bà Tới ở Ai Mỹ) và là người khác chí hướng với chị. Do vậy, tuy hai người rất thương yêu nhau, nhưng không được sống cùng nhau, chị hy sinh năm Thìn và thời gian sau chồng chị đã tái hôn, và hiện nay đang định cư tại Hoa Kỳ.
1.Phạm Thị Bốn (chết sớm).
2.Phạm Năm sinh năm Canh Dần (1950)
3.Phạm Sáu (Liệt sỹ) sinh năm Quý Tỵ (1953) Tham gia cách mạng hy sinh ngày mùng 4 tháng 4 năm 1974 tại Quảng Đại, Đại Cường. Khen thưởng huân chương kháng chiến hạng II. Mộ táng tại nghĩa trang gia đình.
4.Phạm Văn Bảy, sinh năm Bính Thân (1956)
5.Phạm Ngọc Châu, sinh năm Kỷ Hợi (1959).
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Năm
Sinh năm Canh Dần (1950)
Trong chiến tranh tham gia cách mạng được khen thưởng huân chương kháng chiến hạng II và nhiều bằng khen, giấy khen khác. Hiện nay đã có vợ và làm ăn sinh sống tại Xã Mê Pu, huyện Đức Linh, Tỉnh Bình Thuận.
Vợ: Nguyễn Thị Hồng người ở thôn Thuận Phước, xã Đại Hoà, Đại Lộc, là con gái Lớn của ông Đồng (Nguyên chủ tịch xã Đại Hoà đã nghỉ hưu) trong chiến tranh cùng chồng tham gia cách mạng. Khen thưởng huân chương kháng chiến hạng II.
Sanh hạ: Hai trai, hai gái
1.Phạm Thanh Tuấn sinh 19.8.1975.( Ất Mẹo)
2.Phạm Thị Linh sinh 11.7. 1978.( Mậu Ngọ)
3.Phạm Minh Cảnh sinh 29.8.1982.( Nhâm Thìn)
4.Phạm Thị Lịnh sinh 14.11. 1988. (Mậu Tuất)
ĐỜI THỨ MƯỜI LĂM
Phạm Thanh Tuấn ( tên thường gọi Tuấn )
(Con Phạm Năm)
Sinh 19.8.1975.( Ất Mẹo)
Hiện theo cha mẹ vào định cư tại xã Mê Pu huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Vợ: Nguyễn Thị Hồng Hải. Sinh năm 1979 (kỷ Mùi)
Sanh hạ: Hai trai
1.Phạm Minh Tân. Sinh 13.11.1997 ( Đinh Sửu)
2.Phạm Minh Tiến . Sinh 11.10.2000 ( Canh Tân)
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Bảy
Sinh năm Bính Thân (1956)
Vợ: Văn Thị Hoa người làng Giảng Hoà, Đại Thắng, Đại Lộc. Trong chién tranh tham gia cách mạng được khen thưởng Huân chương kháng chiến hạng III.
Sinh Hạ: Một trai, một gái.
1.Phạm Thị Nỡ sinh năm 1983
2.Phạm Văn Long sinh năm 1988
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Ngọc Châu
Sinh năm Ký Hợi (1959)
Tham gia cánh mạng từ năm 1978, công tác cơ quan Văn phòng uỷ ban nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Đến năm 1994 chuyển đến công tác tại Phòng Tài chính huyện Đại Lộc. Hiện định cư tại thôn Phiếm Ai, xã Đại Nghĩa, huyện Đaị Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Vơ : Phan Thị Hồng Linh, sinh ngày 1 tháng 2 năm 1962. Con gái út bà Lê Thị A ở thôn Phiếm Ai, xã Đại Nghĩa, huyện Đaị Lộc, tỉnh Quảng Nam
1. Phạm Ngọc Anh Sang, sinh ngày 1. 9.1991
(tức ngày 23 tháng 7 năm Tân Mùi).
2. Phạm Ngọc Anh Quý, sinh ngày 6.6 1993. (Nhâm Tuất)
PHÁI BA - CHI NHỨT
PHÂN CHI II - NHÁNH III
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
KHOA NGŨ PHỤNG TỀ PHI
THÀNH THÁI MẬU TUẤT (1898)
TAM GIÁP TẤN SỸ
PHẠM TUẤN TỰ HỶ THẦN
HIỆU VĂN LUÂN
Sinh ngày 24 tháng 11 năm 1852 (Nhâm Tý)
Tốt 14 tháng 4 năm Đinh Tỵ (1917)
Tự Đức năm thứ ba mươi mốt 1878 đỗ tú tài cùng khoa với người anh cả là Phạm Văn Thục. Năm sau khoa Kỷ Mão (1879) ông đỗ cử nhân. Ông theo học tại tỉnh ba khoá liền được hạng ưu, nên được cấp học bổng.
Tháng sáu năm Ât Dậu (1885) Hàm Nghi năm thứ nhất lãnh chức vụ Bang tá phủ Điện Bàn. Trong thời gian này ông tham gia Nghĩa Hội do ông Nguyễn Duy Hiệu chủ xướng. Ông được giao giữ chức chánh sứ đinh điền. Đến năm 1888 nguyễn Duy Hiệu bị bắt. Nghĩa Hội tan, Ông bị giáng hai cấp bổ hàn lâm cung phụng ở tỉnh.
Thành Thái năm thứ hai khoa thi Hội năm Kỷ Sửu (1889) đỗ với số điểm dư nhưng không được vào thi Đình, vì ông đã tham gia Nghĩa Hội. Tháng 5 năm ấy bổ lãnh huấn đạo Quế Sơn. Thành Thái năm thứ hai tháng tư quyền nhiếp tri huyện Hà Đông (Tam Kỳ). Sau đó thăng thọ huấn đạo rồi làm sơ khảo trường thi Hương ở Bình Định, được cử giữ chức điền khuyết các huyện quan trọng. Rồi được cử giữ chức chủ sự các bộ , nha tại kinh. Thành Thái năm thứ 6 Đình cử Bình Định trường Phúc khảo, Thành Thái năm thứ 8 phụng chuẩn cải thọ Thăng Bình phủ giáo thọ.
Thành Thái năm thứ 10, khoa thi hội Mậu Tuất (1898) đỗ thứ ba, vào thi Đình, đỗ tiến sỹ thứ năm “ Sắc tứ đệ tam giáp đồng Tiến sy, xuất thân đệ ngũ danh.” Tháng 10 năm ấy ông được bổ thăng chức tu soạn học tiếng Pháp ở trường Quốc học.Thành Thái năm thứ 11 (Kỷ Hợi 1899) thăng thừa biện bộ lễ đến tháng 12 phụng chuẩn thăng thọ thừa chỉ bộ lễ.
Năm thứ 12 (Thành Thái) tháng 6 Đình cử Nghệ An trường phân khảo. Năm thứ 14 (Thành Thái) tháng 3 thăng thọ thị giảng học sỹ. Năm Thành Thái thứ 15 Đình cữ giám khảo Hương trường Bình Định, cùng năm đó vào tháng 5 đơn xin về phụng dưỡng mẹ, qua tháng 6 mẹ mất hồi quán đinh gian (về nhà để tang mẹ).
Duy Tân năm thứ hai (Mậu Thân 1908) bổ đốc học tỉnh Hà Tỉnh, ông dạy học giỏi, học trò của ông thi đỗ nhiều. Tổng đốc Nghệ Tỉnh đề nghị triều đình phong hàm Quang Lộc Hiếu Khanh.
Năm Duy Tân thứ 7 (Quý Sửu - 1913) tuổi cao sức yếu ông về hưu. Chỉ vua phong thăng thọ Hồng Lô tự Khanh. Ông an dưỡng tuổi già ở quê nha, và mất vào ngày 14 tháng 4 năm Đinh Tỵ (1917) hưởng thọ 65 tuổi.
*Chú thêm vào khoa ngũ phụng:
Khoa thi Hội Mậu Tuất, cả nước lấy đỗ 18 người, vừa tiến sỹ, vừa phó bảng. Riêng Quảng Nam, đỗ ba tiến sỹ và hai phó bảng. Đây là một trường hợp đặc biệt hiếm có, nên ngoài cờ (Ân Tứ Vinh Quy) và biển (Tam Giáp Tiến Sy) vua Thành Thái còn ban một tấm chấn, có thêu ba con phượng hoàng đang bay, hai con cất cánh muốn bay, và bốn chữ: (Ngũ Phụng Tề Phi).
Đương thời tổng đốc Quảng Nam cụ Đào Tấn, đỗ tiến sỹ khoa Đinh Mão (1867) Tự Đức thứ 19. Có tặng mỗi ông Tấn sỹ một bài thơ, và bài dưới đây ông tặng cụ Phạm Tuấn.
Vận hội Tuần hoàn ngũ thập niên
Thử ban tương kế xuất danh hiền
Trúc ba nhân khứ hà ba tại
Nhụy bản du thuyền Giáp ất tiên.
Tạm dịch:
Năm mươi năm hội tuần hoàn
Tôi hiền liên tiếp nãy vang đất này
Cụ hà đó, cụ Trúc di
Bút tiên Giáp ất tên ghi bảng vàng.
*Trúc ba chỉ cụ Phạm Phú Thứ hiệu là Trúc đường, đỗ tiến sỹ trước, lúc ấy đã chết.
*Hà ba chỉ cụ Nguyễn Thuật hiệu Hà Đình cũng đỗ tiến sỹ trước. (Theo tài liệu của “Quảng Nam nhân vật lược chí của Nguyễn Bội Liên biên soạn “ Ty tiểu học Quảng Nam xuất bản năm 1969).
*Nguyên phối: Truơng Thị Toại hiệu Minh Cơ Trương Phu Nhơn. Kỵ ngày 1 tháng 7.
Bà: Con ông Trương Như Xuyên , người Minh Hương Hội An. Bà con nhà giàu, bên chồng nghèo. Nhờ sự giúp đỡ của cha mẹ bà. Bà buôn bán giao dịch ở phố Hội An . Thời gian sau trở nên khá mua đất, xây nhà. Sau này khi ông bà mất đã có số tài sản để lại cho con cháu. Bà sinh một trai và mười một gái. Trưởng thành một trai, bốn gái. Điều đau đớn nhất cho ông là người con ca, thường gọi Cả Tiềm, chết vào năm hai mươi bốn tuổi. Lúc ấy chú đã là học trò thi (thí sanh) đã có vợ sinh một trai, một gái đều không nuôi được.
1.Phạm Văn Quế hậu cải Văn Tiềm. Sinh ngày 24.9 năm Nhâm Thân (1872). Tốt 24 tháng 11 năm Ât Hợi (1895).
2.Trưởng nữ: Phạm Thị Lựu, sinh năm Giáp Tuất (1876). Tốt 22. 5 năm Đinh Sửu (1877).
3. Phạm Thị Mẫn, sinh ngày 19.8 năm Bính Tý (1876). Tốt 23 tháng 9 năm Kỷ Mão (1879).
4.Phạm Thị Dấn, sinh 28.8 năm Mậu Dần (1878). Chết sớm.
5.Phạm thị Vô danh, sinh năm Kỷ Mão chết lúc mới sinh.
6.Phạm Thị Liễu, sinh tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1882). Chồng là tú tài Nguyễn Văn Mé ở Long Hội.
7.Phạm Thị Phủ , sinh năm Quý Mùi (1883). Chết sớm.
8.Phạm Thị Thôi, sinh năm Đinh Hợi (1887). Chết sớm.
9.Phạm Thị Đặc, sinh ngày 12.2 năm Kỷ Sửu (1889). Chồng là Ân Sanh Huỳnh Thức người cùng làng.
10. Phạm Thị Huê, sinh năm Tân Mão (1891).
Tốt ngày 22 tháng 3.
11. Phạm Thị Thuấn, sinh ngày 29 tháng 10 năm Quý Tỵ (1893). Chồng là cửu Phẩm Lê Bửu (Hỳnh) người ở Minh Hương Hội An.
12. Phạm Thị Hậu sinh năm ất Mùi (1895). Chồng cửu Phẩm Bùi Kỉnh ở Vĩnh Trinh.
*Thứ thất: Nguyễn Thị Dĩnh . Con gái lớn ông Bá Hộ Nguyễn Tấn Hữu, ở xã Vĩnh An Tổng Phú Quí, huyện Hà Đông. Sau khi ông mất bà qui tôn về ở với cháu ở Hà Đông.
Sanh hạ: Ba trai
-Con trai thứ hai Phạm Văn Nồi, sinh 5. 6 năm Nhâm Thìn (1892). Chết sớm.
-Con trai thứ ba Phạm Văn Cối, sinh năm Đinh Dậu (1897). Chết sớm.
-Con Trai thứ bốn Phạm Văn Luỹ, một tên Văn Gia, sinh ngày 29 tháng 8 năm Canh Tý (1900). Tốt ngày 8 tháng 8. Chú Luỹ chết ở Hà Tỉnh khoảng trên 10 tuổi, đưa về táng Tại Xứ Xuân Minh.
*Kế thất: Lê Thị huý Cư hiệu Quỳnh Trọng Phu nhơn.
Bà: Là con gái lớn ông Hà An, tổng đốc Lê Đỉnh ở thôn Đông Mỹ tức La Kham. Bà không sinh con, sau khi ông mất bà qui tôn về ở với cháu ở La Kham.
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Thí sanh Phạm Văn Tiềm tự Bá Hương
Sinh ngày 24 tháng 9 năm Nhâm Thân (1892)
Mất ngày 24 tháng 11 năm Ất Mùi (1895).
Mộ táng ở xứ Viêm Trạch, phía trên Miễu xóm Tây, trong đám đất tư 7 sào. Sau này bị chiến tranh tàn phá mất hết vết tích. Hiện còn tấm bia đá ghi dòng chữ: “ Mậu tuất khoa Tấn sỹ giáo Thọ thạm hỷ (Thầy trưởng tử thí sanh Tự Bá Hương chi mộ).
Nguyên phối: Trần Thị. Con gái ông Thủ ở Gia Cốc (Đại Minh, Đaị Lộc). Sau khi chồng mất bà về quê ở với cha mẹ.
Sanh một trai, một gái
1)Phạm Thị Nga (chết sớm).
2)Một trai (không tên).
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Trọng Phủ huý Văn Đạo
Mệnh danh Văn Tuân hậu cải Văn Đạo
Sinh ngày 9 tháng 1 năm Ât Hợi (1855)
Mất ngày 2 tháng 6
Thí sanh (học trò thi Hương), đi dạy học ở Tam Ky, rồi có vợ ở đây và định cư tại làng Giêm Phổ (Cây Trâm), nay là xã Tam Anh, huyện Núi Thành.
Nguyên phối: Trần thị huý Niệm. Chị của ông Tú tài Trần Chước ở Tư Phú. Mất ngày 12.6. Mộ táng tại xã Tư Phú.
Sanh hạ một trai:
- Phạm Văn Giai. Mất ngày 2.12 táng theo mộ mẹ.
*Kế thất: Đỗ Thị tuyết. Người xã Tam Sơn, huyện Hà Đông nay là xã Tam Anh, thị xã Tam Kỳ.
Sanh hạ: Ba trai, ba gái.
1.Phạm Thị Xuyên, sinh ngày 16 tháng 11 năm Bính Tuất (1886). Chồng tên là Trần Hoàn, người Minh Hương thường gọi Huề.
2.Phạm Văn Lãnh, sinh ngày 9 tháng 5 năm Kỷ Sửu (1889).
3.Phạm Văn Sự, sinh ngày 4 tháng 5 năm Tân Mão (1891).
4.Phạm Văn Luật. sinh năm Bính Thân (1896). Học sinh cấp hai ở Huế, sau đó đi tha phương không để lại tin tức.
5.Phạm Thị Lý, sinh ngày 19 tháng 1 năm Quý Tỵ (1893).
6.Phạm Thị Lễ, sinh năm Canh Tý (1900). Chồng Nguyễn An, người Nam Phước , Duy Xuyên, Quảng Nam.
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Lãnh hậu cải Quang Vũ
Sinh ngày 7 tháng 5 năm Kỷ Sửu (1889).
Nguyên phối: Bùi thị Ngoạn
Sanh hạ: Hai trai.
1.Phạm Quang Phan sinh năm Kỷ Dậu (1909).
2.Phạm Quang Tảo sinh năm Giáp Dần (1914).
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Quang Phan
Sinh Kỷ Dậu (1909).
Chết ngày... tháng... năm ...
Vợ : Châu Thị Thục, sinh năm Nhâm Tý 11 (1912). Người xã Tam Anh
Sanh hạ: Hai trai, sáu gái
1.Phạm Thị Ấn, sinh năm Quý dậu (1933). Chồng Phan tư người Thừa Thiên.
2.Phạm Thị Sanh, sinh năm Ât Hợi (1935).Chồng Nguyễn Tấn An. Người Cây Trâm, Tam Anh.
3.Phạm Quang Viên, sinh năm Đinh Sửu (1937).
4.Phạm Quang Lực, sinh năm Kỷ Mão (1939).
5.Phạm Thị Liên sinh năm Tân Tỵ (1941). Chồng Nguyễn Cư ở Bình Hoà.
6.Phạm Thị Mỹ, sinh năm Giáp Thân (1944). Chồng Hồ Ngọc Lâm ở Bình Tú, Thăng Bình.
7.Phạm Thị Hoa, sinh năm Kỷ Sửu (1949). Chồng Ninh Văn Tường ở Tam Thái, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
8.Phạm Thị Hồng, sinh năm Giáp Ngọ (1954). Chồng tên Bình, người Trường Xuân, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Quang Viên
Sinh năm Đinh Sửu (1937)
Chết... Ngày tháng... năm ...
Vợ: Nguyễn Thị Bích Diệu. Người ở Truồi Thừa Thiên.
Sanh hạ: Hai trai
1.Phạm Quang Minh, sinh năm Tân Sửu (1961).
2.Phạm Quang Đức, sinh năm Quý Hợi (1963).
ĐỜI THỨ MƯỜI LĂM
Phạm Quang Minh
Sinh năm Tân Sửu (1961)
Vợ: Phạm Thị Thuỳ Linh, sinh năm Nhâm Dần (1962). Người ở cây Trâm, Tam Anh, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Sanh hạ: Ba trai, một gái.
1.Phạm Quang Văn, sinh năm Đinh Mão (1987).
2.Phạm Thị Thuỳ Vi, sinh năm Kỷ Tỵ (1989).
3.Phạm Quang Vĩnh, sinh năm Tân Mùi (1991).
4.Phạm Quang Viễn, sinh năm Tân Mùi (1991).
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Quang Tảo
Sinh năm Giáp Dần (1915)
*Chánh thất: Thiều Thị Sâm, sinh năm Ât Mão (1915). Người Ân Phú, Điện Bàn. Không sinh con.
*Thứ thất: Đặng Thị Nhung, sinh năm Đinh Tỵ (1917).
Sanh hạ: Một trai, một gái.
1.Phạm Quang Bích, sinh năm Nhâm Thìn (1952).
2.Phạm Thị Thanh Tuyền, sinh năm Đinh Dậu (1957). Chồng là Hồ Văn Thọ , người ở Nông Thừa Thiên.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Quang Bích
Sinh năm Nhâm Thìn (1952)
Vợ: Nguyễn Thị Kim Hiền, sinh năm Giáp Ngọ (1954). Người ở Cây Trâm, Tam Anh, Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam.
Sanh hạ: Một trai, hai gái.
1.Phạm Thị cẩm Vân, sinh năm Kỷ Mùi (1979).
2.Phạm Thị Thu Nga, Sinh năm Tân Dậu (1981).
3.Phạm Quang Vũ, sinh năm Ât Sửu (1985).
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Quang Lực
(Con của ông Phạm Quang Phan)
Sinh năm Kỷ Mão (1919)
Vợ: Trương Thị Thiên Hương
Sanh hạ: Một trai, hai gái.
1.Phạm Quang Thịnh, sinh năm Bính Ngọ (1966).
2.Phạm Thị Trường Lan, có chồng ở Tam Kỳ.
3.Phạm Thị Thu Dung.
* Vợ kế: La Thị Hồng.
Sanh hạ: Năm trai, một gái.
4.Phạm Quang Vinh, sinh năm Ât Mão (1975)
5.Phạm Quang Hiễn, sinh năm Bính Dần (1976).
6.Phạm Quang Hùng, sinh năm Canh Thân (1978).
7.Phạm Quang Cường, sinh năm Nhâm Tuất (1982).
8.Phạm La Kiều Duyên, sinh năm Kỷ Tỵ (1989).
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Quang Sự hậu cải (Quang Trí)
Sinh ngày 4 tháng 5 năm Tân Mão (1891).
Tốt 12.2 Canh Thân (1980)
*Chánh thất: Thiều Thị Gia, con gái ông Thủ Côn ở Ân Phú
Sanh hạ: Hai trai.
1.Phạm Quang Khánh, sinh Giáp Dần (1914)
2.Phạm Quang Vạng, sinh Nhâm Tuất (1922)
*Kế thất Mai thị Ân ........... sinh năm: ......
Sinh hạ: 2 trai 2 gái
3. Pham thị Danh, sinh năm:........
Chồng Nguyễn Tường Ky, con Nguyễn Tường Đôn Cẩm Phô - Hội An, tỉnh Quảng Nam.
4. Phạm Quang Hửu, sinh năm:..........
5. Phạm Quang Tạ, sinh năm:.............
6. Phạm Thị Nhi, sinh năm:..................
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Pham Quang Khánh
Sinh năm Giáp Dần (1914)
*Chánh thất: Trần Thị Huế. Con gái ông Trần Ngọc - Hương thửa ở Thi phú Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Sanh một con trai : Phạm Quang Uẩn
Sinh năm:.............................................
*Kê thất: Võ Thị Nhơn
Con gái ong cửu Thoảng, Điện Phú - Điện Quang, Điện Bàn.
Sinh 2 Trai, 1 gái
1)Phạm Quang Thục, sinh Canh Tý (1960)
2)Phạm Quang Huyên, sinh Nhâm Dần (1962)
3)Phạm Thị út sinh Kỷ Dậu (1969). Chồng Nguyễn Tấn Tòng ở Trà Lý -Tam Xuân -Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Quang Phục
Sinh năm Canh Tý
Vợ: Đỗ Thị Diểm My
Sinh hạ Phạm Thị Thảo Vi
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Quang Vạng
Sinh Năm: Nhâm Tuất (1923)
Đỗ tú tài tân học. Làm thừa phái ở bộ chính phủ Nam triều. Sau 1954, tham gia bộ máy chính quyền Sài Gòn. Làm phó tỉnh trưởng Quảng Nam.
Vợ Phạm Thị Xuân Lan . Con gái ông Pham Phú Hiu, ở Đông Bàn, Điện Trung, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Snh hạ: Bốn trai, 3 gái.
1.Phạm Quang Thao, sinh Tân Mão (1951).
2.Phạm Thị Qui Nhơn, sinh Ât Mùi (1955)
3.Phạm Quang Hà, sinh năm Đinh Dậu (1957)
4.Phạm Bình Định, sinh năm Kỷ Hợi (1959)
5.Phạm Thị Phương Mai, sinh năm Tân Sửu (1961)
6.Phạm ThịThanh, sinh năm Nhâm Dần (1962)
7.Phạm Quang Hội, sinh năm Quý Mão (1963)
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Quang Hữu
Cải Tử Thiêm
Sinh ngày... tháng... năm....
Vợ: Trần Thị Ngọc Anh
Sinh hạ: Ba trai.
1.Phạm Quang Thứ, sinh năm Nhâm Dần (1962).
2.Phạm Quang Huy, sinh năm Giáp Thìn (1964).
3.Phạm Quang Thư, sinh năm Nhâm Tý (1972).
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Quang Tạ
Sinh ngày... tháng... năm...
Hiện ở tại 790A, đường Điện Biên Phủ, phường 11, Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh.
CHI NHỨT - PHÂN CHI HAI
NHÁMH NĂM
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Văn Khởi tự Hữu Nguyên
Mệnh danh Văn Quỳnh hậu cải Khởi.
Tên thường dùng Lễ Lạng
Thí sanh: Hương Tư Lễ. Dạy Nho học.
Sinh ngày 23 tháng 11 năm Ât Sửu (1865).
Mất ngày 17 tháng 3...
Nguyên phối: Trần Thị Luật. Sinh 28.6 năm 1871 (Tân Thìn)
Mất ngày 6 tháng 7 năm Quí Mùi (1943). Con gái ông Cửu Phẩm Bá Hộ họ Trần người Phi Phú.
Sanh hạ: Bốn trai, bốn gái.
1.Phạm Văn Lạng, sinh ngày 26 tháng 7 năm Tân Mão (1891).
2.Phạm Thị Nga, sinh ngày 24 tháng 12 năm Quý Tỵ (1893).
Tốt 19.3
3.Phạm Thị Hảo, sinh ngày 13 tháng 7 năm Ât Mùi (1895).Tốt 4.6.
4.Phạm Văn Hán, sinh ngày 16 tháng 9 năm Đinh Dậu (1897)
5.Phạm Văn Xán, sinh ngày 23 tháng 8 năm Canh Tý (1900).
Tốt 12.6
6.Phạm thị Quý, sinh ngày 14.6 năm Nhâm Dần (1902). Tốt 19.7
7.Phạm Văn Chúc (tức Tám Thương), sinh ngày 6 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904).
- Chú Thương theo anh là Phạm Văn Lạng, vào làm ăn ở Sài Gòn. Làm việc tại kho đạn. Ngày 16 tháng 11 năm 1945, kho đạn nổ chú bị chết, đối chiếu với Âm lịch là ngày 15 tháng 3 Bính Tuất. Chú chưa có vợ con.
8. Phạm Thị Viễn, sinh ngày 13 tháng 7 năm Mậu Thân (1908). Tên thường dùng cô chín Nhải, có chồng người họ Trần ở Phi Phú, chưa có con. Mất năm nào không rõ.
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Van Lạng
Tên thường dùng Âm Hoan
Sinh ngày 26 tháng bảy năm Tân Mão (1891).
Mất ngày 5 tháng 7 năm ất Tỵ (1965) ở Sài Gòn.
Thí sanh. Đứng tự cho ông Bác ruột là Phạm Tuấn, làm Hồng Lô Tự Khanh, được phong Âm Sanh. Khoảng năm 1930, chú vào Sài Gòn làm ăn . Làm công nhân ở sở Ba Son (Sửa chữa tàu thuỷ thuỷ bến cảng Sài Gòn). Ở suốt trong đó cho đến ngày qua đời.
Nguyên phối: Vỏ Thị Tài. Con gái ông Lãnh binh, Vỏ Văn Tín và bà Tào Thị Xứng, ở Ân phú.
Sanh hạ: Hai gái.
1. Phạm Thị Khiêm, chồng là Thiều Chơn Nho, con ông xã Cả ở Ân Phú (Bến Đền).
2. Phạm Thị Nghị.
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Hán
Sinh ngày 16 tháng 9 năm Đinh Dậu (1897)
Mất ngày 4 tháng 9 năm Mậu Tý (1948).
Chú đã đọc viết thông thạo chữ Hán, thường làm thi thơ, viết sổ tính toán cho tộc. Khi đã có vợ con chú làm nghề buôn bán nhỏ để nuôi gia đình. Trong chiến tranh với Pháp, chú đi tản cư, sau về lâm bệnh chết vào năm 1948. Mộ táng tại phía cồn bên trên đình làng Phi Phú. Bị chiến tranh tàn phá, hiện nay không tìm ra dấu vết.
Nguyên phối: Đỗ Thị Quyến, sinh năm Giáp Thìn (1904). Mất ngày 6 tháng 6 năm Đinh Hợi (1947). Bà: con ông Đồ nho học ở gần chợ Cổ Tháp (Duy Xuyên). Chết tại Cây Trâm (Tam Anh, Tam Kỳ). Sau cải táng về chôn ở gần chùa Long Tuyền Hội An.
Sanh hạ: Hai trai, bốn gái.
1.Phạm Thị Biệt (chết lúc sơ sinh).
2.Phạm Dương, sinh ngày 18 tháng 5 năm Mậu Thìn (1928).
3.Phạm Thi Đạm, sinh ngày 1 tháng 8 năm Canh Ngọ (1930). Chồng là Nguyễn Duy Ninh thợ máy, người Bảo An.
4.Phạm Thị Mạo, sinh ngày 13 tháng 6 năm Giáp Tuất (1934). Chồng là Nguyễn Đắc Tư, người Đông Yên (Duy Trinh, Duy Xuyên), hiện ở tỉnh Đồng Nai.
5.Phạm Tương, sinh ngày 11 tháng 8 năm Đinh Sửu (1937).
6.Phạm Thị Đải, sinh ngày 25 tháng 8 năm Canh Thì (1940). Chồng là Đặng Bình, người Hoà Tiến . Hiện ở tại Thị xã Hội An
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Dương
Sinh ngày 18 tháng 5 năm Mậu Thìn (1928).
Tham gia kháng chiến sau cách mạng tháng 8 năm 1945. Sau ngày giải phóng (1975) vào miền Nam sinh sống, hiện ở tại quận Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh.
Vợ: Nguyễn Thị Bảy, sinh ngày 23 tháng 3 năm Nhâm Thân (1932). Mất ngày 16 tháng 4 năm Đinh Tỵ (1977). Người ở Trung Phước ( Xã Quế Phước, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng nam).
Sanh hạ: Bốn trai, hai gái.
1.Phạm Thị Bê, sinh ngày 11 thnág 3 năm Bính Thân (1956).
2.Phạm Thị Duy Hải, sinh 8 . 6 năm Nhâm Dần (1962).
3.Phạm Xuân Sơn, sinh 11. 2 năm Quý Mão (1964).
4.Phạm Xuân Hội, sinh ngày 9. 5 năm Đinh Mùi (1967).
5.Phạm Xuân Hoà, sinh ngày 19 thnág 4 năm Kỷ Dậu (1969).
6.Một gái, sinh năm 1977 (chết sớm sau khi sinh).
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Xuân Sơn
Sinh ngày 11 tháng 2 năm 1964 ( Quý Mão).
Vợ: Chung Ngọc Nga (gốc Hoa). Sinh năm Quý Mão (1963)
Sanh hạ: Phạm Ngọ Phương Thảo, sinh năm Đinh Mão (1987)
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Xuân Hội
Sinh ngày 16 tháng 6 năm 1967
Vợ: Đặng Ngọc Phương, sinh năm 1972.
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Tương
Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1937
Trong chiến tranh vào làm ăn ở Sài Gòn. Tham gia kháng chiến, công tác tại Bưu điện thuộc Trung ương cục Miền Nam. Hiện ở tại thành phố Hồ Chí Minh (số 253, đường An Dương Vương, phường 3, quận 5)
Vợ: Trần Thị Sau, sinh ngày 5 tháng 8 năm Tân Tỵ (1941). Người ở Thanh Quít, xã Điện Thắng, Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam.
Sanh ha: Một gái:
- Phạm Thị Hiếu, sinh ngày 11 tháng 4 năm Đinh Tỵ (28.5.1977)
ĐỜI THỨ BẢY
Phạm Trọng Phủ huý Văn Hiền
Tức Văn Vi tự Bá Thi
Kỵ ngày 13 tháng 6
Mộ táng tại bổn châu Xuân Minh xứ Mộ Diệc
Nguyên phối: Trần Thi Cảnh (Kỵ ngày 8 tháng 8)
Sanh hạ: Một trai. Phạm Văn Chạy
ĐỜI THỨ TÁM
Phạm Trọng Phủ huý Văn Chạy
Mất ngày 10 tháng 5
Sanh hạ : Hai trai: Phạm văn Suý và Phạm văn Quang
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Bá Phủ huý Văn Suý
Mất ngày 27 tháng 7
Nguyên phối: Huỳnh Thị Đặc. Mất ngày 17 tháng 6.
Sanh hạ: Một trai, năm gái.
1.Phạm Văn Sơn
2.Phạm Thị Nhỏ, mẹ Trâm Lộc ở Hoá Mỹ đông châu.
3.Phạm Thị Để
4.Phạm Thị Ca
5.Phạm Thị Quý
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Trọng Phủ huý Văn Quang
Mất ngày 6 tháng 2
Nguyên phối: Tống Thị Nương. Mất ngày 17 tháng 2.
Sanh hạ: Ba trai, bốn gái.
1.Phạm Văn Thanh. Tốt ngày 23 tháng 1.
2.Phạm Văn Mi. Tốt 23.1
3.Phạm Văn Hữu
4.Phạm Thị Duyên. Tốt 8.2
5.Phạm Thị Nghệ
6.Phạm Thị Ngạnh
7.Phạm Thị Vô Danh
ĐỜI THỨ MƯỜI
Phạm Quý Phủ huý Văn Hữu
Trong chiến tranh tản cư lên ở thôn Phiếm Ai, xã Đại Nghĩa, huyện Đaị Lộc, tỉnh Quảng Nam. Gia tư lớp trung nông, có ruộng đất và che mía. Tên thường gọi là ông Lam.
Nguyên phối: Trịnh Thị Đăng
Sanh hạ: Tám trai, một gái
1.Phạm Thị Lam
2.Phạm Văn Long
3.Phạm Văn Đối. Tốt 16.2
4.Phạm Văn Tồn. Tốt 2.5
5.Phạm Văn Tập
6.Phạm Thị Túc. Tốt 12.3
7.Phạm Văn Ngưu. Tốt 16.4
8.Phạm Văn xa
9.Phạm Văn Mang
10.Phạm Văn Ráy
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Bá Phủ huý Văn Tập
Nguyên phối: Lê Thị Luân
Sanh hạ: Hai trai, ba gái.
1.Phạm Thị Liệu . Chồng người Giáo Ai xã.
2.Phạm Văn Lập
3.Phạm Vô danh
4.Phạm vô danh
5.Phạm Thị Lượng. Chồng người họ Hồ Phiếm Ai, Đại Nghĩa.
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Lập
Sinh năm Tân Mão (1891). Tốt 16.9 ất dậu (1945).
Nguyên phối: Nguyễn Thị Trí
Người thôn Trung An, xã Đại Hoà, huyện Đaị Lộc
Sanh hạ: Hai trai, một gái.
1.Phạm Thị Trí chết lúc 7 tuổi.
2.Phạm văn Bốn chết lúc 8 tuổi
3.Phạm Văn Năm, sinh năm Quý Dậu (1933).
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Năm
Sinh năm Quý Dậu (1933)
Nguyên phối: Nguyễn Thị Mười
Người thôn Phiếm Ai, xã Đại Nghĩa, huyện Đaị Lộc .
Sanh hạ: Bốn trai, một gái.
1.Phạm Văn Hà, sinh năm 1964
2.Phạm Văn Hải, sinh năm 1967
3.Phạm Thị Vân, sinh năm 1971
4.Phạm Văn Lời, sinh năm 1979
5.Phạm Văn Lễ, sinh năm 1982
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Hà
Sinh năm 1964
Vợ: Phan Thị Sáu
Sinh năm 1967
Quê Đại Đồng, Đại Lộc, Quảng Nam
Phạm Văn Hải
Sinh năm 1967
Vợ: Phan Thị Nhung
Sinh năm 1981
Quê Đại Phước, Đại Lộc, Quảng Nam
Sanh hạ :
1.Phạm Thị Dung sinh năm 1997
2.Phạm Thị Loan sinh năm 1999
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Văn Xa (con ông Phạm Văn Hữu)
Sinh năm ...
Nguyên phối: Nguyễn Thị Sương
Sanh hạ: Một trai, hai gái.
1.Phạm Thị Rèn
2.Phạm Thị Vỏ
3.Phạm Văn Xôi
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Xôi (con ông Phạm Văn Xa)
Sinh năm ...
Nguyên phối:Trần Thi Thanh
Người Châu Bái, Điện Tiến.
Sanh hạ: Ba gái.
1.Phạm Thị Tâm, sinh năm 1943. Có chồng Thôn An Mã, xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
PHÁI BA CHI NHỨT
PHÂN CHI BỐN
ĐỜI THỨ BẢY
Phạm Bá Phủ huý Văn Thanh
Hậu cải Hạt
(Chi này trường biên bị sùng nhấm , sau này Phạm Văn Mỹ dựa trên nghe thấy mà tu tập lại. Trong gia tộc ai biết thêm về chi phái này, nên bổ sung thêm để hoàn chỉnh phần phổ hệ . Để khỏi thất truyền...)
Nguyên phối: Tên họ không rõ. Người xã Phong Hồ. Ngày 13 tháng 7 là ngày kỵ khảo và Tổ Tỷ.
Sanh hạ: Hai trai.
1.Một người theo mẹ về xã Phong Hồ .
2.Phạm Văn Cảo......
ĐỜI THỨ TÁM
Phạm Trọng Phủ huý Văn Cảo
Kỵ ngày 13 tháng 1 năm...
Nguyên phối: Đoàn Thị Bảng. Tốt ngày 13. 6 năm ...
Sanh hạ: Ba trai.
1.Phạm Văn Chúc
2.Phạm Văn Xứ
3.Phạm Văn Ngữ.
ĐỜI THỨ CHÍN
Tổ bá Phạm Văn Chúc (Thọ trên 80 tuổi).
Nguyên phối: Tên họ không rõ.
Sanh hạ: Một trai, một gái.
1.Phạm Văn Nên, đi lính không hậu
2.Phạm Thị Thẩm
ĐỜI THỨ CHÍN
Phạm Văn Ngữ.
Tốt ngày 2 tháng 9
Nguyên cai đội, nhà giàu có ruông đất trung lại bổn châu, phụ trùng tại Chiêm Sơn, Bàn Lãnh các xã thôn tên họ rõ ràng, ghi ở châu bộ.
*Nguyên phối: Nguyễn Thị Nhạn , người Kỳ Lam. Tốt 7.12
Sanh hạ: Trai gái tám người.
1.Phạm Thị Ngôn, chồng người trong làng tức mẹ lý trưởng Thành tức Bà Đa.
2.Phạm Văn Đốc, kỵ ngày 5.6
3.Phạm Văn Sanh, hiệu huý khách, kỵ ngày 13.9
4.Phạm Thị Min, chồng ở Kỳ Lam . Sinh một con tên Trinh
5.Phạm Thị Lai, kỵ ngày 25.9
6.Phạm Văn Tựu, kỵ ngày 15.7
7.Phạm Văn Loan, kỵ ngày 9.7
8.Phạm Văn Hồ, kỵ ngày 13.1
*Thứ thất thứ nhứt tánh huý thất thường.
*Chú thêm: Tại đây ghi không biết rõ họ tên bà, nhưng đến đoạn ông con của bà tức Phạm Văn Hữu, lại ghi là theo mẹ về ở La Qua tỉnh thành làm tịch sỹ.
Sanh hạ: Một trai, một gái
9.Thứ nam : Phạm Văn Hữu (Ghi chú như đoạn trên)
10.Phạm Thị........................... (không biết tên)
Tức là mẹ của lại mục Huỳnh Tường ở Thăng Bình.
*Thứ thất thứ hai: Lê Thị Tiếp. Người ở An Trường. Tốt 24.3
Sanh hạ: Một trai, một gái
1.Thứ nữ : Phạm..... (Không rõ tên).
2.Thứ nam: Phạm Văn Mỹ. Tốt 15.5
ĐỜI THỨ MƯỜI
Phạm Bá Phủ huý Văn Đốc
Tốt ngày 5 tháng 6 năm...
Nguyên phối: Tên họ không rõ.
Sanh hạ hai trai.
1.Phạm Văn Lân
2.Phạm Văn Phụng
ĐỜI THỨ MƯỜI
Phạm Trọng Phủ huý Văn Sanh
Hiệu huý Văn Khánh
Nguyên phối: Đoàn Thị Ly
Chồng chết lấy chồng người trong làng làm thứ thất ông Hàn Lâm Thị Giảng Huỳnh Công Trứ, mẹ ông Tú tài Huỳnh Bính (Tú Bính).
Sanh ha: Một trai, một gái.
1.Phạm Văn Tùng
2.Phạm Thị Cối. Chồng người Phi Phú tây tức cô Thủ Thiệt.
ĐỜI THỨ MƯỜI
(Con ông Phạm Văn Ngữ và bà thứ thất thứ nhất).
Phạm Văn Hữu
Theo mẹ ở La Qua tỉnh thành làm tịch sĩ.
Nguyên phối: (không rõ họ tên).
Sanh hạ: Ba trai.
Trước nhập xã Việt An, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình.
1.Trưởng nam : Phạm Văn Tình, bổn phủ thông lại.
2.Trọng nam : Phạm Văn Phước. Quế Sơn huyện thông lại Phạm Thiều chi phục. (Cha của thông lại Phạm Thiều ở huyện Quế Sơn, Quảng Nam, Phạm Văn Toản).
3. Quý nam Phạm Văn Toản. Cửu Phẩm thông lại ở ty phiên tỉnh ta
* Chú thêm về nhánh ông Phạm Văn Hữu. Gia phổ ghi đến đây không ghi tiếp. Thanh Minh năm Bính Dần (1986) có các anh: Phạm Văn Ngân (Phiên), Phạm Văn Bộ và Phạm Văn Thử, ở Phú Triêm, La Qua, Bằng An về tìm gốc tích Tổ Tiên. Lo gia phổ tên ba người con ông Hữu đúng hai tên các địa danh và chức việc dều đúng. Theo mấy anh này nghe kể lại thì Quế Sơn , Thăng Bình chẳng qua chỉ để hợp pháp giấy tờ khi làm việc công, còn thực tế là ở La Qua và Phú Triêm. Hình thành tại đây một tộc Phạm Văn có nhà thờ và hai chi phái. Hằng năm giỗ Xuân và Thanh minh tảo mộ vào ngày 20 tháng 2 cho tộc, và ngày 21 tháng 2 cho hai phái. Đến nay đã truyền đến hệ thứ 16. Con cháu ở tập trung Phú Triêm . La Qua và rải ra ở Bằng An, Uất Hỹ, Hoà Phước, và các nợi khác.
ĐỜI THỨ MƯỜI
(Con ông Phạm Văn Ngữ và bà thứ thất thứ hai Lê Thị Tiếp)
Phạm Quý Phủ huý Văn Mỹ
Tốt ngày 14 tháng 5 năm...
Nguyên phối: Nguyễn Thị Chuyên, người trong làng.Tốt 3.3
Sanh hạ: Bốn trai, bốn gái.
1.Trưởng nam : Phạm Văn Bá
2.Thứ nam : Phạm Văn Đáo (Tảo mộc).
3.Trưởng nữ : Phạm Thị Cần
4.Trọng nam : Phạm Văn Cận (Tảo mộc)
5.Quý nam : Phạm Văn Đệ
6.Thư nữ : Phạm Thi Hương
7.Thứ nữ : Phạm Thị Gia, con thứ thất xuất giá Bùi Văn Điểm ở Lệ Trạch.
8. Phạm Thị Lựu, giá vu Đàm Văn Nghi Quảng Hoá tây châu
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Bá Phủ huý Văn Bá
Nguyên phối: Nguyễn Thị Suất, người ở Ân Phú.
Sanh hạ: Ba trai, hai gái.
1.Trưởng nữ : Phạm Thị Thìn
2.Trưởng nam: Phạm Văn Tỵ
3.Thứ nữ : Phạm Thị Ngọ
4.Trọng nam: Phạm Văn Kiều (tảo mộc).
5.Quý nam Phạm Văn Vỵ (Tảo mộc).
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Tỵ
Tên thường gọi Ông Đối.
Trú chợ Bến Dầu, Phú Hanh Tây, Đại Thạnh, huyện Đại Lộc.
Phạm Văn Tỵ có lẽ là tuổi Tỵ (Kỷ Tỵ 1869) cùng lớp tuổi với Phạm Văn Loan, tức Lễ Lượng tuổi Canh Ngọ (1870).
Sanh hạ: Ba trai, bốn gái.
1.Trưởng nữ : Phạm Thị Đối, chồng Lê Chí người ở Phú Hanh
2.Trưởng nam : Phạm Văn Chinh
3.Trọng nam : Phạm Văn Yên (chết sớm)
4.Quý nam : Phạm Văn Ngôn
5.Thứ nữ : Phạm Thị Thiết, chồng Nguyễn Phi ở Phú Hanh.
6.Thứ nữ : Phạm Thị Mãi, chồng Trần Văn Hược ở Phú Hanh.
7.Thứ nữ : Phạm Thị Thuận, chồng là Lê Tấn Mai người Phú Hanh.
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Chinh
Nguyên phối: Phan Thị Đệ.
Sanh hạ: Ba trai, năm gái.
1. Phạm Thị Đệ
2. Phạm Văn Chiến
3. Phạm Văn Hải (Chiến nhỏ) liệt sỹ.
4. Phạm Thị Vỏ sanh năm Canh Ngọ (1930) chồng Phan Văn Kỉnh . Người xã Duy Vinh, Duy Xuyên.
5. Phạm Thị Trạch, sinh năm Quý Dậu (1933) chồng Nguyễn Văn Phước, ở Phú Hanh, Đại Thạnh, Đaị Lộc.
6. Phạm Văn Ân.
7. Phạm Thị Ai
8. Phạm Thị Ngại, chồng Trần Văn Điền, người Phú Hanh.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Văn Chiến
Nguyên phối: Phạm Thị Một, người Phú Thuận, Đại Thắng.
Sanh hạ: Một trai, một gái.
1.Phạm Quang Thư
2.Phạm......(không rõ )
ĐỜI THỨ MƯỜI LĂM
Phạm Quang Thư
Sinh năm Bính Tuất (1946)
Hiện ở KF (hoặc KT) 15 ấp 4, xã Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên phối: Vỏ Thị Hợp, sinh năm 1957
Quán Thạch Bộ , xã Đại Hoà, huyện Đaị Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Sanh hạ: Ba trai, hai gái.
1.Phạm Quang Thi, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1975.
2.Phạm Thị Anh Ngọc, sinh ngày 30 tháng 2 năm 1976
3.Phạm Quang Tú, sinh ngày ... tháng... năm 1976
4.Phạm Thị Ngọc Thuỷ, sinh ngày... tháng...năm 1978
5.Phạm Quang Thiệu, sinh ngày... tháng ... năm 1982
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Ngôn
(Con thứ ông Phạm Văn Tỵ tức Đối ở chợ Bến Dầu)
Nguyên phố: Lê Thị Chỉnh, người Phú Hanh
Sanh hạ: Năm trai, hai gái.
1.Phạm Văn Ngũ, chết sớm.
2.Phạm văn lộc (Liệt sỹ).
3.Phạm Văn Vải (chết sớm)
4.Phạm Văn tải (chết sớm)
5.Phạm Thị Báy, chồng tên Tưởng Văn Ba, người ở Bến Dầu, Phú Hanh, Đại Thạnh, Đaị Lộc, Quảng Nam.
6.Phạm Thị Chín (chết sớm).
7.Phạm Văn mười (chết sớm).
ĐỜI THỨ MƯỜI MỘT
Phạm Quý Phủ huý Văn Đệ
Tên thường gọi ông Trùm Tân.
(Con ông Phạm Văn Mỹ và bà Nguyễn Thị Chuyên)
Nguyên phối: Bùi Thị Dung , người Lệ Trạch
Sanh hạ: Hai trai, năm gái.
1.Trưởng nữ : Phạm Thị Tân.
2.Trọng nữ : Phạm Thị Phương
3.Trưởng nam : Phạm Văn tấn.
4.Trọng nư : Phạm Thị Hội.
5.Thứ nam : Phạm Văn Phát.
6.Thứ nữ : Phạm Thị Hoè
7.Thứ nữ : Phạm Thị Tâm.
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Tấn tức Trùm Đề.
Nguyên phối: Nguyễn Thị Cầu, người Bảo An.
Sanh hạ: Năm trai, bốn gái.
1.Trưởng nam : Phạm Văn Đề (chết sớm)
2.Trọng nam : Phạm Văn Chất
3.Phạm Thị Lớn, chồng người họ Phạm Tấn Xuân Đài.
4.Phạm Thị Nhỏ, chồng người họ Huỳnh Bảo An.
5.Phạm Thị... (chết sớm)
6.Phạm Tư (tức Phán).
7.Phạm Thị Lư (chết sớm)
8.Phạm Chín (tức Phước).
9.Phạm Mười (chết sớm).
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Văn Chất, tên con là Thuyên.
Nghề thợ may, sau vào Sài Gòn ở chợ cũ Sài Gòn. Có vợ thứ hai. Sinh sống trong đó và chết tại Sài Gòn.
*Vợ lớn: Lê Thị Liên, con ông Trùm Quyên ở chợ Xuân Đài.
Sanh hạ: Ba trai, hai gái.
1.Phạm Thị Thuyên, chồng là con ông Trần Thê, ở Xuân Đài.
2.Phạm Nghiệm (Anh) chết sớm
3.Phạm Nghiệm (em) tức Thiện sau cải Phạm Hoàng Lê
4.Phạm Thị... chết sớm.
5.Phạm Thị Dậu.
*Vợ thứ hai: Trần Thị Gương, quê quán ở mỏ cày Bến Tre
Sanh hạ: Hai trai, ba gái.
6.Phạm Thị Huệ, chồng ở Sài Gòn
7.Phạm Thị Liễu sau cải Hường, chồng ở Sài Gòn.
8.Phạm Thị Phương (chết)
9.Phạm Thị Bảy (chết).
10.Phạm Tần
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Nghiệm (tức Thiên)
Sau cải Phạm Hoàng Lê
Trong chiến tranh ra ở Đà Nẵng. Hiện ở đường Lê Độ. Vợ người Bảo An.
Sanh hạ: Hai trai, hai gái.
1.Phạm Kha, sinh nam 1967.
2. Phạm Thị Hoàng Mai, sinh năm 1969 chồng là Trương Văn Đàm ở Đường Lê Duẫn, thành phố Đà Nẵng.
3. Phạm Hoàng Trúc, sinh năm 1971.
4. Phạm Thị Phượng Loan, sinh năm 1975.
ĐỜI THỨ MƯỜI BỐN
Phạm Tần
( Con cùng cha khác mẹ với Phạm Hoàng Lê)
Sinh năm 1942
Nay phó giám đốc xây dựng thành phố Hồ Chí Minh, ở số nhà 187 đường Nguyễn Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sanh hạ: Hai trai, một gái.
1.Phạm Hồng Sơn.
2.Phạm Thị Mỹ Linh.
3.Phạm Thị Mỹ Linh
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Phán tức Tư
(Con ông Trùm Đề).
Vợ: Nguyễn Thị Lý, ở ngã tư Hà Lam, Thăng Bình.
Anh tư tuổi sinh vào khoảng năm 1915, nghề thợ may. Sanh một gái là Phạm Thị Lý. Anh Tư chết sớm trong chiến tranh chống Pháp. Con gái ở với mẹ . Nay không rõ còn mất.
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Phước
( Em ruột Phạm Tư)
Tham gia kháng chiến ở Liên khu V, sau công tác ở Tây Nguyên. Về hưu ở theo quê vợ, tại thôn Tài Lương, xã Hoài Thắng, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Vợ: Nguyễn Thị Kiên.
Sinh hạ: Một trai, một gái.
1.Phạm Đức ( chết).
2.Phạm Thị Liên, chồng họ Đào Thôn Ngọc Sơn, Hoài Thắng.
ĐỜI THỨ MƯỜI HAI
Phạm Văn Phát
(Tức Trùm Trung)
Con trai thứ ông Phạm Văn Đệ (Trùm Tân)
Vợ: Hồ Thị Ân, người Đông Bàn.
Sanh hạ: Hai trai, năm gái.
1.Phạm Thị Tờn, chồng là Trương Danh ở Phi Phú.
2. Phạm Thị Tiết, chồng là Đoàn Hạnh ở cùng làng.
3.Phạm Thị... (chết)
4.Phạm Thị ...(chết)
5.Phạm Sắc.
ĐỜI THỨ MƯỜI BA
Phạm Sắc
Năm 1947 chiến tranh chống Pháp tản cư vào ở Bình Định. Có vợ ở thôn Trung Chánh, xã Cát Minh, huyện Phù Cát.
Sanh một con là Phạm Ưng hiện ở số nhà 58 đường Trần Quang Khải, Thị xã Plei ku - Gia Lai.
|