Chi tiết gia đình
Là con của: LƯƠNG CÔNG TÚ
Đời thứ: 4
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
III.1- Thân thế, ngày kị, mộ phần:
第三代祖 梁德亨 là con của bà Ba với Nhị Tổ. Cụ nhà giầu, cai trị giỏi. Trước làm Lý trưởng 里長 sau làm Phó Tổng 傅總. Kị 15/Chạp.
III.2- Cụ có 2 vợ :
+ Bà cả Đặng Thị Chẻo : Người Mông Tràng Thượng (Kị 11-G) là thân mẫu của các cụ Hinh, Tuynh, Chinh, Thành.
+ Bà hai: Không tìm được ghi chép về họ tên, ngày mất và mộ phần . Sinh 01 Nam: Trinh.
Quanh chuyện về hậu duệ của cụ Tú có nhiều giai thoại, rất khó kiểm chứng, nhưng một số dấu tích và chi tiết lại phản ánh tương đối rõ:
III.3- Về thế đất :
Khi Tam Tổ sinh nam tử (Cụ Hinh) có thày địa lí đi qua coi thế đất và phán rằng: Gia trang Cụ Lý đặt trên đầu rồng, với 2 mắt rồng là ao tròn và ao trước nhà thờ Tổ, do đó cụ tuy giầu, đông con (4 nam) nhưng có nguy cơ tuyệt tự, con cháu dễ vào vòng lao lý, cần phải trấn yểm. Đầu tiên là cần trồng đủ 100 bụi duối dọc phía mi mắt rồng, khi nào cố bà sinh đủ 4 nam thầy sẽ sang giải bùa tiếp thì con cháu mới hưng vượng được. Các bụi duối đã được Cụ Lý cho trồng dọc đường qua giữa xóm .
Đúng dịp Tổ Tỉ sinh nam tử thứ tư (cụ Thành) thì có 2 thày trò người Tầu sang buộc ngựa ở gốc duối to. Lúc này Cụ Hanh đã là phó Tổng và vừa cưới bà bé. Tổ không có nhà, Bà cả không tiếp vì cho đó là khách nhờ vả việc quan, sai con dâu ra nói là cụ Tổng đi vắng. Có bà hai mời nước, lén tiếp. Người khách trước khi bỏ đi có nguyền là: con gái cụ Tổng nói năng chỏng lỏn (thực ra đó là con dâu) nên đời sau gái sẽ khổ. Thương tình bà hai, người ấy đã nói gì đó với bà cố hai rồi bỏ đi. Khi Tổ về nghe chuyện, biết thày Tầu sang giải bùa theo hẹn, cho người tìm nhưng không thấy, cụ buồn ốm rồi mất.
Mấy năm sau có người bán thuốc đột tử phía sau nhà, quan về thẩm tra và làm khó dễ mãi. Gia đình phải chịu mai táng xác đó tại vùng đất giữa 2 ao “mắt rồng”.Về sau có lập Miếu thờ mả Khách .
Người đời sau nói: vì lí do đó mà con cháu các Cụ Hinh, Tuynh, Thành, Chinh khá “vất vả”, nhiều người đông con trai nhưng lại không có cháu trai. Hoặc nếu có thì đều ham cờ bạc, dễ bị tù tội. Hậu duệ của cụ Trinh (con bà Hai) đông hơn và “khá” hơn. Đặc biệt con gái tuy đảm đang, nhưng vất vả về đường chồng con, gia cảnh và mặc dù đã lấy chồng vẫn thường phải do Lương tộc bọc đùm .
III.4- Về lời nguyền :
Chuyện rằng Tổ học giỏi nhưng thi 2 lần không đậu vì phạm huý. Lần thứ 3 khi biết vẫn trượt, Cụ bẻ bút vứt xuống sông Văn Úc mà nguyền rằng: Từ nay con cháu ai theo nghiệp khoa bảng sẽ chết 1 đời cha, 3 đời con! Sau này có người suy luận chính vì lời nguyền đó nên tuy Cụ giáo Chinh nhiều con trai nhưng lại không có cháu trai thành ra vô tự !
III.5- Các con, cháu :
Tam Tổ sinh 5 nam là: Hinh (2 nam), Tuynh (8 nam), Chinh (2 nam), Thành (3 nam), Trinh (2 nam).
III.5.1- Cụ Hinh và hậu duệ:
Cụ mất ngày 01/7.
Cụ bà Đào Thị Còi 孤, kị ngày 01/11 sinh được 2 nam là Phức (Kị 01/6, vô tự), Mạo và một người con gái là Lục làm dâu họ Phạm Cốc Tràng.
III.5.1.1- Hậu duệ ở lại quê :
* Đời thứ 5: L.Đ. Mạo (Kị 01-11) có vợ là Đỗ Thị Phề (Kị 15-5), các cụ sinh 2 Nam là Công và Liêm. Cụ có công khơi mào soạn lại Gia phả họ .
* Đời thứ 6:
- L.Đ. Công (Kị 01-9), vợ là Vũ Thị Nội (kị 07-10 hay 17/10 ?) sinh 2 Nam là Hồng và Đào, 2 nữ là Giản, Dị.
- L.Đ. Liêm (kỵ 08/4 N Ất Mão), vợ là Vũ Thị Hợi (kị 27/11), sinh 6 Nam là Tiêm ; Hiệp (1 Nam); Nhiếp (1 nam) ; Riếp (1 nam); Diệm (2 nam). Tất cả đều ở quê, làm ruộng.
* Đời thứ 7:
- L.Đ. Hồng (Kị 03-02, vô tự).
- L.Đ. Đào (kị 15-Chạp) vợ là. Sinh 2 Nam là Tơ và Liễu.
- L.Đ.Tiêm: không con trai, mất 17 tháng 2 Canh Thìn (tức là 22/3/2000).
- L.Đ.Hiệp: được 1 nam là Hảo
- L.Đ.Nhiếp: Mất 23/8/2004, tức là ngày 08/7 Giáp Thân. 2 đời vợ, có 1 trai là Thêm.
- L.Đ. Riếp:
- L.Đ. Diệm: sinh 2 nam
* Đời thứ 8:
- L.Đ. Tơ ở lại quê làng Hạ, năm 1999 chuyển ra cạnh đường từ làng xuống Khuể cách làng 200m
- L.Đ.Liễu lấy vợ và sinh sống tại Cốc Tràng.
- L.Đ.Hảo
- L.Đ.Thêm:
* Đời thứ 9:
III.5.1.2- Hậu duệ lên Lào Cai (LƯƠNG ĐỨC THIẾP) :
* Đời thứ 7: L.Đ. Thiếp (là con trai thứ 3 của L.Đ.Liêm) lấy vợ cùng làng tên là Đặng Thị Khuy . ĐTK hiền lành, mắc bệnh đau đầu. Kị 07/11, Mộ “kết” không cải, đặt tại NT nhân dân thôn Nậm Dù, Km 46 Xuân Quang.
Khi ở quê, nhà cạnh ao tròn nhà thờ Tổ. Lên Lào Cai tháng 2/1964 ở Thái Vua thuộc xã Xuân Quang, sau chuyển xuống Nậm Dù (Km 49).
Trong những năm 1966-1977 theo nghề buôn bán tạp hoá, móc hàng trong mậu dịch tuồn ra bán cho bên ngoài kiếm chênh lệch nên so với số đông dân chúng vùng Phong Niên, Xuân Quang thì thuộc loại khá gỉả, giao tiếp rộng. Tuy ít học nhưng thuộc Kiều, nhiều điển tích cổ, khéo tán, lại ưa “trăng hoa” nên lắm nhân tình (người là Mậu dịch viên, người bán lẻ ngoài chợ, người làm ruộng, người làm thuê) và đông con. Những người mà có con mang họ Lương, ngoài Đ.T.Khuy còn có: Ngô Thị Chẽ (người gốc Hải Phòng, lên ở Km 42, con gái tên Sơn, sau đổi là Hồng), Trần Thị Thanh (“vợ tư”, người Thanh Hoá, được 5 con ). Ngoài ra còn có Lương Thị Hải (không con, nhà ở Km 41) và 2-3 bà nữa (cả Kinh và Dao) rải con ở Bát Xát, Trì Quang, Bảo Nhai. Về già ở với T.T.Thanh và các con bà này tại Km 49 đường Lào Cai đi Yên Bái, cuộc sống rất khó khăn.
Mất 10 giờ ngày 15/7/2003 (tức là giờ Kỉ Tỵ, ngày 16 Kỷ Sửu, tháng 6 Kỷ Mùi năm Quý Mùi) thọ 81 tuổi. Ngày 01/12/2008 (tức là ngày 05/11 Mậu Tý) thực hiện việc cải táng, cùng đợt với con gái (Năm) và 2 cháu ngoại.
* Đời thứ 8:
- Con L.Đ.Thiếp với Đặng Thị Khuy:
+ Trai cả là L.Đ.Thường (vợ tên Nga, người Bảo Nhai) ở Km 45 Xuân Quang, cả 2 vợ chồng đều giỏi chao chác nên kinh tế khá, con trai lớn của Thường là L.Đ.Hùng.
+ Trai thứ tên là Thái
+ và con gái là Thi, Đua, Hoa, Năm .
- Con với Trần Thị Thanh có 5 là L.T.Hoàn, L.T.Liên, L.T.Thơm, L.Đ.Toán, L.Đ.Tỵ. Trong đó 2 con gái lớn bị lừa đem sang bán bên Trung Quốc (Triết Giang, Quảng Đông) từ 1997; năm 2006 Liên, năm 2008 Hoàn có về chơi.
- Con với người khác không liên hệ nên không chép được.
* Đời thứ 9 : L.Đ.Hùng :
III.5.2- Cụ Tuynh và hậu duệ:
Cụ mất 15/5, thọ 41 tuổi. Cụ bà là Ngô Thị Thiểm, người Kim Châm, mất 17/7 (19/7 ?),thọ 82 tuổi. Cụ đông con cháu (8 nam: Huỳnh, Dứa, Tình, Minh, Viêm, Tập, Khái, Rặc. Mỗi Nam lại có 2-3 người con Trai) nổi tiếng cả vùng một thời, các họ, chi khác đều vị nể.
Trong số hậu duệ của cụ Hinh có:
III.5.2.1- Ở lại quê :
* Đời thứ 6 :
- L.Đ. Thông (là con ông Tình), vợ là Đặng Thị Quắm . Năm 1964 đi Lào Cai ở An Phong từng làm Đội phó và là lão nông có kinh nghiệm. Năm 1968 về quê ở ngay đầu làng Hương . Có 2 trai, 3 gái:
- L.Đ. Bình (bố là Minh), sinh 2 Nam: Yên, Tĩnh , 1 gái: Bạch. Các cháu trai nhà ở cạnh Nhà thờ Tổ.
- L.Đ. Khải (con ông Khái) lấy 2 vợ sinh được một Nam là Chủng (SN 1955) nhưng đã hi sinh trong Kháng chiến CM khi chưa lấy vợ. Cụ là người thọ nhất họ (lúc mất 92 tuổi).
* Đời thứ 7:
- L.Đ. Thực (bố là Tơn (Tiên) ông là Cụ cả Huỳnh) nhà ở Hạ, giữ việc cúng Tổ Ngành Ba, mất năm 2006. Thực và Nhiếp (con trai L.Đ.Liêm) là 2 anh em đồng hao. L.Đ. Thực có con trai lớn tên là Ty, ở nhà làm ruộng.
- L.Đ. Nên (con L.Đ.Thông) đi làm xa ở Vinh. 3 gái (Reo,Tị, Nạnh). L.T.Reo khi gia đình còn ở Lào Cai đi TNXP sau chuyển về Nông trường Phú Xuân, lấy chồng và lập nghiệp ở Giao Ngay (Gia Phú, Bảo Thắng, Lào Cai).
III.5.2.2- Lên Lào Cai (LƯƠNG ĐỨC TÂM) :
L.Đ. Tâm (Đời thứ 7, bố là Chiểu, mẹ là Vũ Thị Tám, ông là Dứa).
Vợ cả ở quê, sinh 2 Nam : Đức, Lễ kinh tế khá ở lại đất cũ. Bà này và 02 gái đã chuyển vào Đắc Lắc sinh sống.
Sau khi lấy vợ hai tên là Có, năm 1974, lên Lào Cai, ở Làng Mạ, xã Trì Quang, Bảo Thắng. Sinh tiếp 11 con. Có 2 trai lớn thì 1 bị đánh, 1 bị bệnh chết (Phú), còn lại 3 Trai: là L.Đ.Hậu (vợ, con ngay tại Làng Mạ), L.Đ.Vương và L.Đ.Chức cùng 06 Gái (Phương, Xa, Vân, Yêu, Thương, Tới): đều không học hành gì .
Do thiếu tính toán, ít vốn lại đẻ nhiều nên cuộc sống chật vật. Năm 2006 bố con L.Đ.Tâm đánh nhau với Đặng Văn Tăng (con Lương Thị Huấn và Đặng Văn Thoả), Chức bị xử tù 2 năm 6 tháng.
III.5.2.3- Hậu duệ các Cụ Viêm, Tập, Rặc :
Ít liên quan về cuộc sống với Chi út Ngành Ba và không có tư liệu nên không rõ để chép ra đây.
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
- Vợ: Đặng Thị Chẻo (Nữ)
- Bà Hai: Chưa rõ tên (Nữ)
Các anh em, dâu rể
- LƯƠNG ĐỨC XƯNG (Nam)
- LƯƠNG ĐỨC LÂN (Nam)
- LƯƠNG ĐỨC MÃ (Nam)
- LƯƠNG ĐỨC LY (Nam)
- LƯƠNG ĐỨC PHƯỢNG (Nam)