Chi tiết gia đình
Là con của: LƯƠNG CÔNG NGHỆ
Đời thứ: 3
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
第四枝宗 梁公劭
Cụ sinh năm 1769 và ở trên đất Tổ. Năm Đinh Mão Gia Long thứ 6 (1807) ứng thí nhưng không đỗ và 2 năm sau vẫn được bổ dụng, đến năm Gia Long thứ 10 thì được đặc cách. Vào năm Minh Mạng thứ 7 (Đinh Dậu, 1827) theo lệnh vua tập hợp dân chúng quanh vùng cùng quan quân đánh dẹp cuộc "Ba Vành tác loạn" . Sau đó cụ về dạy học. Đến năm Minh Mệnh thứ 14 (Quý Tị, 1833) lại được cử đi đánh dẹp tại Vĩnh Bảo và mất tại đây ngày 08/02, thọ 64 tuổi. Đến năm Giáp Ngọ 1835 hoàn táng. Mộ táng tại bản quán, tục gọi vườn thuyền. Cụ nhà giầu, con cháu đông, đổi là Lương Hoàn.
Tổ Tỷ Bùi Thị Bảng hiệu Diệu Thông vốn quê Quan Bồ. Mất ngày 04/5 năm Kỷ Hợi (1829). Cụ sinh 6 nam (Hoán, Son, Giản, Quản, Toản, Án) và 3 nữ.
Hậu duệ ngành Tư:
Cụ Đồ Thiệu ở bản quán, Cụ nhà giầu, học cao, làm thày đồ, vợ là Bùi Thị Bảng. Sáu con của cụ là:
* Lương Công Hoán (vô tự, kỵ 03/9)
* Lương Công Son từng giữ chân Phó Chánh Tổng, kị 07/10. Vợ là Nguyễn Thị Khuê sinh 2 nam là Hạn và Khản ;
* Lương Công Giản, kị 27/10, vợ là Trần Thị Liễu sinh 1 nam là Tán.
* Lương Công Quản, nổi tiếng vì thọ cao (80 tuổi) , kị 18/3. Cụ từng làm Lý trưởng, Cai Tổng. Năm Tự Đức thứ 15 (1863) tham gia dẹp loạn Tạ Văn Phụng, tức Phêrô Lê Duy Phụng (1858-1863) ... Cụ lấy 12 vợ, sinh 8 nam. Các bà vợ là Đào Thị Trân (sinh cụ Tuần Ngoạn), Trần Thị Tứ, Trần Thị Tựa, Phạm Thị Ngọc, Hoàng Thị Trích, Phạm Thị Lự , Bùi Thị Sảng (sinh 2 nam Ty, Cung), Đỗ Thị Giá (nhận Đào Đăng Lung làm con), Bùi Thị Hán (sinh Ngưng), Trần Thị Lẫm (sinh Ty ?), Đỗ Thị Hân (sinh Tân, Cầu), Phạm Thị Lư (sinh Đượm, Phụng). Ngoài ra còn 13 nữ và Lương Đức Trinh, Phạm Đình Nhiên, Đào Đăng Lung là con nuôi.
* Lương Công Toản (kị 15/giêng, vô tự) ;
* Lương Công Án, vợ là sinh trai là Biều.
Đời thứ tư là: Hạn (vợ là Nguyễn Thị Khuê), Khản (kị 15/02, vợ là Nguyễn Thị Lẫm, con là Khàn làm con nuôi họ Bùi ở Phương Lai). 2 cụ sang Tiên Lãng.
* Cụ Tán (từng làm Lý trưởng rồi Chánh Tổng, kị 01/9) lấy 2 vợ là Lại Thị Miêu, Đặng Thị Cẩm nhưng chỉ sinh 2 nữ.
* Cụ Ngoạn lấy 7 vợ (Yết, Trích, Bồi, Thuẫn, Liên, Cạn, Bút) sinh 5 nam (Phác, Chất, Son, Đương, Tấn), 8 nữ và nhận nhiều con nuôi; Cụ từng đi thi nhưng không đỗ cao, được bổ là Cai tổng, làm đốc công xây phủ thành Kiến Thụy (Quý Dậu, 1873), năm Giáp Thân 1884 gia phong Chánh Tuần huyện và cho xây dựng Từ đường vào năm sau...Khi phụ thân mất (18/3 Bính Tuất 1886) được mấy tháng, Từ đường bị kẻ gian đốt. Đến năm Ất Mùi 1895 cụ hợp cùng các Chi cho tái tạo Từ đường. Cụ mất 24/12 năm Ất Tị, 1905 thọ 65 tuổi. Năm Giáp Ngọ 1894, khi thân mẫu (Đào Thị Trân) mất (09/9, thọ 83 tuổi) cụ có đôi câu đối : «Hiếu tâm quy dưỡng thập niên dư, Tiên kỷ đăng cao trùng cửu nhật ». Hai con của cụ là Phác và Chất (con vợ kế tên Trích) đều từng làm Chánh tổng (từ Bính Thân 1896 và từ 1899)
* Cụ Ty vợ là Phạm Thị Ca sinh 2 nam là Hàng, Thuỵ và 2 nữ. Cụ mất 13/02 thọ 77 tuổi
* Cụ Cung vợ là Phạm Thị Nhu, sinh 4 nam là Điếm, Túc, Củng, Bống và 1 nữ. Cụ từng ứng thí không đỗ được bổ làm Lý trưởng, kị 04/11.
*Cụ Tiểu, còn gọi là Lương Đức Tân. Vợ là Nguyễn Thị Tiểu, Đào Thị Nham và Nguyễn Thị Lẫm, sinh 4 nam là Anh, Cận, Nhị, Liên và 1 nữ, cụ từng làm Chánh tổng, mất 07/6 thọ 58 tuổi.
*Cụ Phụng, từng làm Phó tổng cựu; sinh 3 nam là Xuyến, Triện, Xuyên và 1 nữ. Cụ mất 29/6 Ất Dậu (1885). thọ 63 tuổi.
Đời thứ 5 :
*Cụ Phác có vợ là Bùi Thị Kha, Nguyễn Thị Thương ; sinh 5 nam là Uẩn, Luơng, Ruân, Thiềng, Toại và 4 nữ. Cụ từng theo học Thám hoa Vũ Phạm Hàm nhưng đi thi không đỗ, sau làm Chánh tổng. Cụ mất 01/4 Nhâm Tuất 1922, thọ 55 tuổi. Chính cụ đã cải sang Lương Hoàn (?) và cho tu sửa Bản chi từ đường vào năm Giáp Dần 1914...
...
Nhìn chung dòng này, hậu duệ đổi thành Lương Hoàn, cá biệt có Lương Công Tiễn (con cụ Quản) còn có tên là Lương Đức Tân. So trong 4 ngành thì dòng này có nhiều người học cao, khấm khá cả về quan trường lẫn kinh tế. Nổi tiếng có Cụ Tổng Quản, Cụ Tuần Ngoạn, Cụ Tổng Phác, Cụ Chánh Mai, Cụ Cựu Huân ...Gia phả còn giữ được và chép cả năm mất hay những lần tu sửa Từ đường, các bài Thơ, một số Câu đối cung tiến hay phúng viếng . Trước giỗ Tổ riêng, từ 1998 Hợp tế, theo giỗ cả tổ chung .
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
- Vợ: Bùi Thị Bảng (Nữ)
Các anh em, dâu rể
- LƯƠNG CÔNG LẪM (Nam)
- LƯƠNG CÔNG TUẤN (Nam)
- LƯƠNG CÔNG CHIÊU (Nam)
- LƯƠNG CÔNG TÚ (Nam)
- LƯƠNG CÔNG LINH (Nam)
Con cái
Không rõ