Chi tiết gia đình

Đời thứ: 3

Người trong gia đình

Tên
LƯƠNG ĐẮC BẰNG (Nam)
Tên thường
Ngạn Ích
Tên tự
Tử Ngạn
Ngày sinh
1472?
Ngày mất
1516?
An táng
Hội Triều, Hoàng Hóa, Thanh Hóa

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

1. Người con thông tuệ sáng danh giống dòng: Lương Đắc Bằng (梁得朋, 1472 – 1516) tên khi nhỏ là Tử Ngạn (Ngạn Ích) theo học ở cha là Giải nguyên Lương Hay . Mới 8 tuổi khi đi chơi ở Lam Sơn, qua bến đò Từ Minh, gặp một vị Sư, đã cùng nhau làm thơ, khiến vị Sư kia rất khâm phục. Năm 12 tuổi, theo lời cha dặn đã thọ nghiệp Trạng nguyên Lương Thế Vinh ở Cao Hương. Khi Ngạn Ích trưởng thành cũng là thời mà vào năm Hồng Đức thứ 15 (洪德苐十五年,1484), Bộ Lễ trình và được vị vua Trung hưng 中興 là Lê Thánh Tông (黎聖宗思誠, 1460-1497) chuẩn tấu đem danh hiệu Trạng nguyên 狀元, Bảng nhãn 榜眼, Thám hoa lang 探花郎 làm thành Tiến sĩ cập đệ 進士及第, người đỗ Phụ bảng đổi gọi là đồng Tiến sĩ xuất thân 同進士出身 . Đồng thời nhà vua sai Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ 奉直大夫翰林院承旨東閣大學士 Thân Nhân Trung 申仁忠 soạn, mấy bậc kỳ tài khác viết chữ, khắc văn bia tiến sĩ đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đó là bia ghi danh những Tiến sĩ đầu tiên khoa thi Nhâm Tuất 1442 大寶三年壬戌科進士題名記. Cũng chính tại văn bia này đã có câu nổi tiếng: “…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia...” 贤材國家之元气 và có tên người họ Lương đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ là Lương Như Hộc (梁如鵠, ?-?) . Năm 1495 trong kỳ thi Hương 乡试/秋闈 Lương Ngạn Ích đỗ đầu, tức Giải nguyên 解元. Ngày 09 tháng 4 năm Cảnh Thống thứ hai (景統苐二年, Kỷ Mùi, 1499) đời vua Lê Hiến Tông (黎憲宗, 1498-1504) khi Lương Ngạn Ích thi Hội 會試 (春闈會試) kinh nghĩa, thơ phú đều đậu đầu. Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Hoa Lâm hầu Trịnh Tốn và Lại bộ Thượng thư Trần Cận làm Đề điệu ; Hình bộ Thượng thư Đinh Bô Cương làm Giám thí; Đông các học sĩ Nguyễn Bảo, Hàn làm viện thị giảng Tham chưởng hàn lâm viện sự Lê Ngạn Tuấn làm Độc quyển đã lấy ba người là Đỗ Lý Khiêm, Lương Ngạn Ích, Nguyễn Khắc Kiệm đỗ Đệ Nhất giáp tiến sĩ cập đệ 第一甲三名賜進士及第; Hoàng Trưng, Nguyễn Hằng… người đỗ Đệ Nhị giáp tiến sĩ xuất thân; Trần Bá Lương, Lê Tự …đỗ Đệ Tam giáp tiến sĩ xuất thân, tất cả 55 người. Việc truyền loa xướng danh diễn ra tại điện Kính Thiên, bảng vàng treo cửa Đông Hoa được thực hiện vào ngày 16. Kỳ thi này do có nhiều điều dị nghị về thứ bậc Tam khôi, để thử tài thật sự của các vị tân khoa, ngày 10 tháng 7 vua tuyên triệu số tiến sĩ vừa đỗ vào làm bài thi ứng chế ngay tại sân rồng 賜對于廷, do đích thân nhà vua ra đề, tức thi Đình 殿试. Khi hỏi về nhân tài, vương chính với đề 五王帐 “Ngũ Vương trướng” Lương Ngạn Ích được ưu hạng, Hiến Tông Hoàng đế cho tên ông là Đắc Bằng, thuỵ Đạm Hiên tiên sinh. Nhưng theo ý hoàng hậu thì Trạng nguyên 狀元 phải là người trọng trấn, vì ông còn trẻ nên vua hạ bảng cho đỗ Đệ Nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ Nhị danh 第一甲進士及第第二名 (tức Bảng nhản 榜眼), lấy Đỗ Lý Khiêm đậu Trạng nguyên. Vua Hiến Tông có ngự chế tặng hai vị Tiến sĩ đệ nhất giáp (Đắc Bằng, Lý Khiêm) 2 bài thơ. Lương Đắc Bằng được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ 翰林學士, từng cùng các đại nho: Đông các học sĩ Nguyễn Nhân Thiếp, Lê Ngạn Tuấn, Lê Mậu Thưởng, Nguyễn Xung Xác, Hàn lâm viện thị thư Nguyễn Tôn Miệt, Đông các hiệu thư Đặng Tòng Củ, Đặng Minh Khiêm, Hàn lâm viện hiệu lý Nguyễn Viên, Vũ Châu, Hiệu thảo Nguyễn Mẫn hoạ lại bài thơ ngự chế: 觀架亭中秋玩月 Quan Giá đình trung thu ngoạn nguyệt 15 vần của Vua vào Rằm tháng Tám năm Cảnh Thống thứ 2 (Canh Thân, 1500). Được vua yêu, Đắc Bằng lĩnh chức Tả thị lang Bộ Lễ 禮部左侍郎 (như Thứ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin-Giáo dục nay), sau làm Tả thị lang Bộ Lại 吏部左侍郎 (như Thứ trưởng Bộ Nội vụ nay) và có nhiều đóng góp và công cuộc phát triển văn hóa, cất nhắc quan lại của triều đại. 2. Làm quan mấy bận long đong: Cuối thế kỷ XV triều Lê đã có dấu hiệu đi xuống. Khởi đầu là việc Lê Uy Mục (黎威穆, 1488 – 1509, húy là Lê Tuấn 黎濬) ăn chơi vô độ, ham rượu chè, gái đẹp, tàn bạo giết hại nhiều người vô tội. Vì vậy Phó sứ thần Trung Quốc là Hứa Thiên Tích mới gọi là vua quỷ 鬼王. Thêm vào đó, bọn hoạn quan thọc vào chính sự, kẻ ngoại thích (Khương Chủng, Nguyễn Bá Tuấn) mặc sức chuyên quyền, pháp lệnh phiền hà, kỷ cương rối loạn, nông tang tiêu tàn mất nghiệp, phong tục ngày một suy đồi, người trong nước điêu linh, dân không chịu đựng nổi. Trong bối cảnh đó, tháng 11 Kỷ Tỵ 1509, ông được Giản Tu công Óanh 簡修公瀠 (trá xưng là Cẩm Giang Vương) thăng là Lại Bộ Thương thư, sai viết hịch dụ đại thần và các quan tố cáo Đoan Khánh Uy Mục và kêu gọi mọi người khởi binh đánh Uy Mục. Là người thức thời, đặt chữ Trung đúng chỗ, ông đã chấp bút viết với những lời lẽ sâu sắc, chặt chẽ: "Bạo chúa Lê Tuấn, phận con thứ hèn kém, làm nhơ bẩn nghiệp lớn, lần lữa mới gần 5 năm mà tội ác đã đủ muôn khoé. Giết hại người cốt nhục, dìm hãm các thần liêu. Bọn ngoại thích được tin dùng mà phường đuôi chó ngang ngược làm bậy, người cứng cỏi bị ruồng bỏ mà kẻ đầu cá ẩn nấp nẻo xa. Quan tước đã hết rồi vẫn thưởng tràn không ngớt, dân chúng đã cùng khốn còn vơ vét chẳng thôi. Vét thuế khoá từng cân lạng, tiêu tiền của như đất bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính. Đãi bề tôi như chó ngựa, coi dân chúng tựa cỏ rác ngạo mạn quá cả Nguỵ Oanh. Huống chi lại xây cung thất to, làm vườn hoa rộng. Xua dân đi trồng cây, giẫm theo vết xe đổ chất gò Hoa Cương đời Tống; lấp biển xây cung điện, nối gót thói u mê xây cung A Phòng nhà Tần. Công trình thổ mộc xây lên rồi thay đổi, thay đổi rồi xây lên, dân Hải Dương, Kinh Bắc mệt mỏi, lao đao; tông thất xa hoa, kiêu căng lại ngang ngược, ngang ngược lại kiêu căng, cõi tứ tuyên phiên trấn xôn xao, rối loạn. Cư dân nhức óc, cả nước đau lòng". Giản Tu công Oánh và những người theo thân vương đã trá xưng Cẩm Giang vương, kéo lá cờ chiêu an, tiến quân đến sát Đông Kinh. Thất thế, Uy Mục chạy ra phường Nhật Chiêu (nay là Nhật Tân, Hà Nội) rồi bị bắt, trói ở cửa Lộc (Lệ) Cảnh và đã uống thuốc độc tự tử. Kinh thành yên, Lương Đắc Bằng cùng Lê Quảng Thọ và các đại thần tôn Giản Tu công tự Oánh là Hoàng đế tức vua Tương Dực. Lên ngôi, Oánh giáng nhà vua làm Mẫu Lệ Công 閔勵公, ân xá trong nước, đổi niên hiệu là Hồng Thuận (洪 順, 1509-1516). Tháng Giêng năm sau, Tương Dực luận công ban thưởng cho những người ứng nghĩa: “lấy Nghĩa quận công Nguyễn Văn Lang làm Nghĩa quốc công; gia phong Thiệu quận công Lê Quảng Độ là Thiệu quốc công, Lượng quốc công Lê Phụ làm Thượng quốc công, Uy quận công Lê Bá Lân làm Uy quốc công, Hộ bộ thượng thư Trịnh Duy Đại làm Văn quận công, Điện tiền tô kiểm điểm Thuỵ Dương hầu Trịnh Hựu làm Thọ quận công, Phò mã đô uý Lê Mậu Chiêu làm Diên quận công; con Văn Lang là Nguyễn Hoằng Dụ làm Yên Hoà hầu; Trịnh Duy Sản làm Mỹ Huệ hầu; Tổng binh thiêm sự Thanh Hoa Nguyễn Bá Tuấn (Bá Thuyên) làm Lễ bộ thượng thư, Do Lễ bá; Thừa tuyên sứ Thanh Hoa Lê Tung làm Lại bộ thượng thư, Đôn Thư bá; Tham chính Thanh Hoa Nguyễn Thì Ung làm ngự sử đài đô ngự sử Lương Văn bá; Đàm Thận Huy làm Hình bộ thượng thư; Hàn lâm viện thị độc tham chưởng Hàn lâm viện sự Lương Đắc Bằng làm Lại bộ tả thị lang”. Như vậy, thời Tương Dực, ông làm Thượng thư Bộ Lại 吏部尚書 (như Bộ trưởng Nội vụ nay), tước Đôn trung bá. Nhưng về sau Lê Tương Dực (黎襄翼, 1495 – 1516) lại đi theo vết xe đổ đời trước, cho xây Cửu Trùng Đài, đóng chiến thuyền bắt con gái khỏa thân chèo chơi ở Hồ Tây, giết chết 15 vương công, gian dâm với các cung nhân của triều trước… Vì vậy lòng người oán thán và dân chúng gọi là vua lợn 豬王. Trước tình cảnh đó Lương Đắc Bằng hết lòng can gián, Tương Dực biếm ông xuống Lại bộ Tả thị lang. Ông nhân mẹ mất xin về cư tang. 3. Dâng lên sách quý hết lòng vì vua: Đến tháng 10 năm Hồng thuận thứ 2 (Canh Ngọ, 1510), được Lê Tương Dực triệu về triều phục chức Lại bộ Thượng thư kiêm Học sĩ Đông các coi sóc tòa Kinh Diên (nơi Vua đọc sách). Thấy tình hình đất nước trong cảnh rối ren, giặc bên ngoài chưa yên, quyền thần đánh, chém giết nhau, chốn Kinh sư đẫm máu, cái điềm vận nước ngày một suy đã xuất hiện, ông không nhận chức mà nhân đó Lương Đắc Bằng đã dâng bài sách “Trị Bình” 14 mục lên vua Lê Tương Dực. Mở đầu Trị bình thập tứ sách 治平十四冊, Lương Đắc Bằng chỉ rõ “Thánh quân ngày xưa không cho thiên hạ thịnh trị mà quên lòng răn ngừa; hiền thần ngày xưa không thấy vui thành công mà quên lòng can gián. Vì thế thời Ngu Thuấn đã thịnh trị mà Bá Ích vẫn can vua: “Chớ ham nhàn rỗi, chớ đắm vui chơi, không trễ không lười, để công việc quốc gia bê trễ”. Đế Thuấn nghe lời mà ngăn ngừa những việc đáng răn, do đó đã trở thành bậc thánh lớn. Đời Văn Hán Đế (179-163 tCn) dân đã giàu có đông đúc rồi mà Giả Nghị vẫn dâng kế sách nói rằng đất nước đang ở trong tình trạng “để lửa gần củi” Văn Đế nghe lời can này mà lo nghĩ việc đáng lo, do đó nên bậc vua hiền”. Lương Đắc Bằng chỉ rõ tình hình đất nước từ khi vua lên ngôi: “Khí hòa thuận chưa điều tiết, việc binh đao chưa dẹp yên, triều cương chưa cất nhấc, quân chính chưa sửa sang, tai dị thường xuất hiện, đạo trời chưa được thuận, đạo đất chưa được yên, kẻ gian phi lén phát, bọn nghịch tặc manh lòng, lòng người chưa yên ổn...”. Từ tình hình thực tế của đất nước, của bản triều, Lương Đắc Bằng đã dâng lên vua 14 kế sách như sau: “1. Hết lòng răn sợ để dập tắt biến cố tai dị. 2. Dốc lòng làm điều hiếu thảo để khuyến khích lòng trung hậu. 3. Xa bỏ con hát, sắc đẹp để giữ vững căn bản lòng người. 4. Trừ bỏ gian nịnh để nguồn gốc phong hóa được trong sạch. 5. Dè sẻn trong việc ban đặt quan chức để cẩn thận việc khuyên răn. 6. Công bằng trong việc bổ dụng để trong sạch đường làm quan. 7. Tiết độ trong việc dùng tiền tài để khuyến khích thói kiệm phác. 8. Khen thưởng người tiết nghĩa để trọng đạo cương thường. 9. Cấm ăn của đút để trừ bỏ thói tham ô. 10. Sửa võ bị để nước mạnh thế chống giữ. 11. Lựa chọn người can ngăn ở Ngự sử đài để cổ vũ chí khí người mạnh dạn dám nói lời ngay thẳng. 12. Giảm nhẹ việc lực dịch để nuôi dưỡng sức dân. 13. Ban hành pháp luật đúng đắn để thống nhất tâm chí bốn phương. 14. Cẩn thận pháp độ để mở đời thịnh trị thái bình”. Ông còn viết: Các chước trên đây dâng lên mong bệ hạ soi xét. Thần lại nghe cổ ngữ có câu: “Lời nói của người cắt cỏ kiếm củi, thánh nhân cũng có thể chọn lấy”. Kinh thư có câu : “Biết không khó, làm mới khó”. Vậy xin bệ hạ chớ cho lời thần là viển vông, nên lựa chọn mà làm, răn điều nên răn, lo điều nên lo thì đạo trời được thuận, đạo đất được yên, đạo người được hoa, mới đến thái bình được”. Với tất cả tài trí, tâm huyết của mình, Lương Đắc Bằng đã khái quát được tất cả các việc cần làm để ổn định triều chính, ổn định xã tắc, quan tâm đến dân tình. Tuy kế sách trên không thể thực hiện đầy đủ do hạn chế của thời cuộc, song lịch sử vẫn ghi nhận Lương Đắc Bằng là một nhà cải cách xuất sắc gần hồi thế kỷ XVI. Những đề xuất của Lương Đắc Bằng mà ngày nay suy ngẫm ta vẫn thấy nhiều điều còn mang tính thời sự nóng hổi. Vua xem khen nhưng không dùng. Đến năm Hồng Thuận thứ 3 (Tân Mùi, 1511), Hoàng đế Minh Chính Đức sai Trạm Nhược Thuỷ Hàn Lâm viện biên tu làm Chánh sứ, Hình khoa cấp sự trung Phan Hy Tăng, làm phó sứ, mang sách thư phong nhà vua tước An Nam quốc vương và ban cho một cỗ mũ bì biền, một cặp áo thường phục. Sau khi Hi Tăng đã yết kiến nhà vua rồi, ra bảo với Nhược Thủy rằng: "Quốc vương dung mạo đẹp nhưng lệch mình, tính đa dâm, trông như tướng con lợn, chả bao lâu nữa sẽ bị loạn vong" . Khi sứ thần ra về, nhà vua tiễn đưa hành lý khá hậu, nhưng họ đều không nhận. Vua Tương Dực triệu ông làm Lạn sứ, tiếp sứ bộ thiên triều. Ông phụng chỉ làm ngự chế thi để tiễn đoàn sứ bộ. Tại dịch quán ở Lạng Sơn, Trạm, Phan đưa cho ông một tập 100 bài thơ, bảo ông hoạ lại. Chỉ một đêm, sáng hôm sau ông đã họa xong. Hai sứ bộ khen là kỳ tài. Khi qua ải, sứ bộ còn tặng ông một áo bông, một mũ thanh chiên để biểu tấm lòng. Trạm, Phan về đến Trung quốc đem thơ xướng hoạ khi đi sứ Việt Nam đi in . Đến đời Hồng võ, sắc phụng kê An Nam hào kiệt 12 người, ông đứng thứ nhì. Lúc này, loạn lạc nổi khắp nơi: Trần Duy Nhạc và Ngô Văn Tổng dấy quân ở Kinh Bắc; Trần Tuân đánh phá Sơn Tây; Phùng Chương quấy miền Tam Đảo; Trần Công Ninh chiếm giữ Phúc Yên; Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Văn Triệt tung hoành ở Nghệ An; Trần Cao mạo xưng con cháu họ Trần cùng con là Thăng, tướng là Phạm Ất cùng với đồ đảng dấy quân ở Hải Dương...Vua tôi nhà Lê chẳng lo chấn chỉnh, dẹp loạn mà Tương Dực ngày càng hoang dâm, nghe lời siểm nịnh; các đại thần chia bè, đem quân đánh lẫn nhau, ai cũng vỗ ngực phò vua, giúp nước, an dân... Ông nói “ tôi thà chịu chết vì chức vụ, không chịu chết dưới loạn quân”. Ông bị bọn quyền thần dùng gạch đá đả thương nặng, nhờ có Đại thần Văn Quân, Công Trinh, Duy Nhạc và rể là Tự Khanh Ngô Văn Dũ thỉnh thầy thuốc chữa trị cả tháng mới phục hồi được. Đắc Bằng tập trung tâm trí soạn tập “Vịnh sử” kể từ thánh quân, hiền thần, trung thần cho đến hôn quân, gian thần... hơn 20 quyển; lại soạn “Cung trung bửu huấn”, “thập quy” để răn dạy, nhưng trên chẳng dụng, quan chẳng nghe. Nhận thấy dù đem hết tâm sức ra giúp nước cũng không thể vãn hồi được tình thế ông cáo quan. 4. Làm Thầy xứng với gương xưa: Khi về nhà, Lương Đắc Bằng mở trường dạy học và nghiên cứu lý số. Nguyên khi làm quan, Cụ thường được vua cử đi sứ Trung Hoa và làm tròn sứ mệnh ngoại giao và trong một dịp đi sứ, cụ có mang về bộ Thái Ất Thần Kinh để tham khảo. Cụ rất thanh liêm và trọng đạo đức, dù làm quan mà gia cảnh rất nghèo, con phải đi gặt thuê để sống. Vừa dạy học, Cụ vừa tiếp tục nghiên cứu cuốn sách trên cho nên tinh nghề lý số, việc gì cũng tính biết được trước. Nghe tiếng và mến mộ Cụ nên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) tìm vào Thanh Hóa theo học. Nhận thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm tính tình khoáng đạt và thích lý số, nên Cụ truyền dạy và trao cho toàn bộ Thái Ất Thần Kinh. Sau này cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên 狀元, làm quan đến chức Lại bộ Thượng Thư 吏部尚書, tước Trình Quốc Công, người đời thường gọi là Trạng Trình, cụ có truyền lại cuốn “sấm Trạng Trình” 狀程讖 tiên đoán việc đời sau. Đến ngày 6 tháng 4 năm Hồng thuận thứ 7 (1516), Trịnh Duy Sản 原郡公鄭惟產 vì khuyên vua, trái ý bị phạt tượng, nên đã cùng Lê Quảng Độ đang đêm đem 3000 lính Kim ngô qua cửa Bắc thần, giết vua ở cửa Nam Huân trước điện Bảo Khánh, giáng làm Linh Ẩn Vương 靈隱王. Khi đó triều đình chạy tán loạn, không ai dám đến. Chỉ một mình ông đến khóc và làm lễ chôn cất . Cũng năm đó Trần Cảo 陳高 dấy quân ở chùa Quỳnh Lâm, chiếm cứ các huyện Thủy Đường và Đông Triều thuộc Hải Dương, tự xưng là vua “Đế Thích giáng sinh” rồi kéo về vây hãm kinh thành. Lương Đắc bằng thống lĩnh các dinh đem quân đánh Trần Cảo thu phục kinh thành, cùng các quần thần lập Lê Y 黎椅, 黎譓 lên làm vua. Dưới thời Lê Chiêu Tông (黎昭宗, 1506 – 1526) ông làm Ngự Dinh Tổng ký lục, nội Tri Kinh Diên, ngoại tham triều chính, thiên hạ có cơ phục hưng. Trong khi đó một lực lượng mới tập trung quanh Mạc Đăng Dung trỗi dậy và quyền bính dần sang tay họ Mạc. Vào tháng 12 năm 1526, Chiêu Tông bị Mạc Đăng Dung (莫登庸莫太祖, 1483 ? – 1541) giết tại phường Đông Hà và đưa Lê Xuân 椿 lên làm vua, tức Lê Cung Hoàng (黎恭皇, 1507 – 1527). Song đó chỉ là con bài nên sau khi Chiêu Tông bị giết, Đăng Dung giả cách lui về quê ở Cổ Trai (Hải Phòng) nhưng thực tế vẫn nắm triều đình. Triều Lê Sơ (黎初,1428-1527) đến hồi mạt. Đúng dịp đó, ngày 5 tháng 7 (năm ?) vào thời Lê Cung Hoàng (1522-1527) ông bị bệnh nặng mất, thọ 59 tuổi . Biết tin dữ đó, thiên hạ đều tiếc, Đô Ngự sử Đỗ Cang khóc rằng: “Triết nhân sao nỡ chết, nước mắt còn huyết vây”…”Người trung nghĩa như Lương Đắc Bằng đã qua đời thì vận mệnh nước nhà sắp mất đến nơi rồi”. Nhận được tin, học trò về chịu tang thầy rất đông, riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã về Hội Triều chịu tang thầy ba năm. Lúc ấy kinh sư bị loạn không có ván gỗ, vua mới cho gỗ cấm trong cung làm quan tài, đưa về quê nhà ở Hội Triều mai táng . Nhà Lê Trung hưng (1533-1789) luận ông trung nghĩa hơn người, đức vọng cái thế, tặng ông: Thái bảo đôn trung Văn phái hầu, thuỵ Đạm Hiên tiên sinh. Năm Quý Dậu dời chôn ở Tây trì Khái xứ, Tý Sơn Ngọ Hướng. 5. Làm người tiếng đẹp để cho muôn đời: Về tiểu sử Lương Đắc Bằng, nghiên cứu kỹ thấy có sự không nhất quán về năm sinh, năm mất cũng như công trạng của ông. Cụ thể: Theo “Giới thiệu sơ lược về họ Lường Phủ làng Hội Triều” thì Lương Đắc Bằng sinh năm 1472, năm 12 tuổi thì cha mất và theo lời cha dặn, ông ra Cao Phương học trạng nguyên Lương Thế Vinh. Năm 24 tuổi đậu Giải Nguyên. Năm 28 tuổi đậu Bảng nhãn khoa Kỷ Mùi (1499) đời Lê Cảnh Thống. Dịp này vua ban tên mới là Lương Đắc Bằng. Ông mất ngày 5 tháng 7 năm Bính Tý (1516) tại quê nhà Còn “Họ Lương Hội triều Bổn đường gia phổ” lại chép về Lương Đắc Bằng hơi khác: Năm 22 tuổi đậu Giải nguyên, Năm Kỷ Mùi (1499) niên hiệu Cảnh thống vua Lê Hiến Tông, thi Hội đậu Tiến sĩ...., nhưng khi vào chầu tạ ơn vua, theo ý hoàng hậu trì Trạng nguyên phải là người trọng trấn, vì ông mới 22 tuổi nên vua mới khiến hạ bảng cho đậu Bảng nhãn, lấy ông Đỗ lý Khiêm ở xã Ngoại lãng huyện Thơ trì đậu Trạng nguyên... Đến năm Bính Tý (1516) Trần Cảo giết Trịnh Duy Sản đem quân hãm kinh thành. Ông thống lãnh các dinh đem quân đánh Trần Cảo thu phục kinh thành, cùng các quần thần lập vua Chiêu tông. Trong những năm Quang Thiện (1516- 1522) Ông khiến các tướng truy bắt đảng giặc, Trần tướng, Hà Phi Cao bắt được Lê Quảng Độ tướng của Trần Cảo, đóng cũi giải về kinh sư. Lúc này ông làm Ngự Dinh Tổng ký lục, nội Tri kinh diên, ngoại tham triều chính, thiên hạ có cơ phục hưng, nhưng ngày 5 tháng 7 ông bị bệnh nặng mất 59 tuổi, thiên hạ đều tiếc. Theo suy đoán của tôi: Như ta đã biết danh hiệu Giải nguyên là giành cho người đỗ đầu kỳ thi Hương. Mà, học theo quy chế thi cử của nhà Minh, nhà Lê quy định kỳ thi sơ khởi này thường tổ chức vào mùa Thu các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, ai đỗ gọi là Cử nhân. Người đó tới mùa Xuân năm sau (Sửu, Mùi, Thìn, Tuất) mới được dự thi kỳ thi Hội ở bộ Lễ giành danh hiệu Hội nguyên. Ai đỗ kỳ này vào tiếp thi Đình ở sân rồng giành danh hiệu Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Mặt khác, từ năm Thuận Thiên thứ 6 (順天第六年,1433), Lê Thái Tổ (黎太祖, 1428-1433) quy định 6 năm một khoa, năm trước thi Hương, năm sau thi Hội. Tới tháng 2 năm Quý Mùi 1463 bắt đầu định ba năm thi đại tị một lần vào những năm Sửu, Mùi, Thìn và Tuất. Như vậy, Lương Đắc Bằng thi Hội khoa Kỷ Mùi 1499 thì ông phải dự kỳ thi Hương trước đó 1 năm hoặc trước đó 4 năm chứ không có chuyện 22 tuổi cùng đỗ cả 2 kỳ được! Do đó có thể Lương Đắc Bằng sinh năm 1472, năm 24 tuổi đỗ Giải nguyên, năm 28 tuổi đỗ Bảng nhãn. Đồng thời: Cụ không thể thọ 59 tuổi được. Bởi nếu vậy thì năm mất của cụ là 1472+59=1531, khi đó đã hết thời Lê Sơ (1428-1527) sang nhà Mạc (莫朝,1527-1592) rồi. Kết hợp lại có thể nhận xét Cụ thọ hơn 50 tuổi nên mất Bính Tý 1516 hay Bính Tuất 1526 hoặc khoảng giữa 2 mốc đó! Trước khi mất, Lương Ðắc Bằng dặn lại Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau phải trông nom con mình là Lương Hữu Khánh (梁有慶,1517 – 1590). Cụ Trạng đã làm theo lời dặn của thầy mà dạy Lương Hữu Khánh thành tài và về sau còn cưu mang hậu duệ của thầy học là cụ Lương Đắc Cam. Chính cụ Cam là Thủy tổ dòng họ Lương ở Tiên Lãng và An Lão thuộc Hải Phòng nay. Tuy không thọ nhiều, thời gian ông làm quan trải bốn triều vua thời Lê Sơ (Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục, Tương Dực) đã từng nhiều phen giúp mấy Vua giành, giữ ngai vàng; được trao nhiều chức vụ quan trọng, được thăng đến Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ, tước Văn phái Hầu. Quan trường của ông không mấy hanh thông. Nhưng ông nổi tiếng bới từng can gián Vua, dâng kế sách cải cách, sống cuộc sống thanh liêm, có uy tín lớn trong lớp nho sĩ danh thần. Đặc biệt ông đã đào tạo nhiều học trò trở thành người tài ; tính kế lâu dài cho con sau là Danh thần Hữu Khánh, để đích tôn Khiêm Hanh cũng không hổ danh . Như thế ông đã để lại cho hậu thế nhiều bài học quý, xứng danh đại diện cho một dòng họ Khoa bảng . Quê ông, làng Hội Triều có 14 dòng họ cộng cư chung sống. Làng chia làm 7 xóm: xóm Nghè, xóm Trường, xóm Trung Lương, xóm Quán, xóm Đá, xóm Đình và xóm Sau và họ Lương là dòng họ đến đầu tiên. Tiếp theo là họ Trương, họ Lường, họ Hoàng Đình. Trong đó họ Lương là họ có nhiều vị đỗ đạt nhất và cũng là họ danh giá nhất làng. Họ Lương Hội Triều nổi tiếng với Lương Đắc Bằng, Lương Hữu Khánh, Lương Khiêm Hanh, Lương Đạt đều là Tiến sĩ. Đồng thời dòng họ này còn nổi danh với 2 cha con là thầy dậy của 2 Trạng nguyên tài giỏi của nước Nam. Đó là người cha - Giải nguyên Lương Hay là thầy học của Trạng lường Lương Thế Vinh và người con - Bảng nhãn Lương Thế Vinh là thầy học của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đến lượt mình các ông Trạng này, theo di huấn và để trả ơn, họ lại rèn cặp con thầy nên người: Lương Thế Vinh dạy con Lương Hay là Lương Đắc Bằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy con Lương Đắc Bằng là Lương Hữu Khánh. Quả là thầy giỏi rèn nên trò tài và đạo thầy trò xưa quả sâu sắc! Lương Đắc Bằng được một số chi họ suy tôn là Thượng Thủy Tổ dòng họ.

Con cái