Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn
Nghiên cứu tất cả hệ thống tên họ các dân tộc trên thế giới cho thấy người Việt có lẽ là một dân tộc đầu tiên, cùng với người Trung Hoa và Ðại Hàn, có một hệ thống tên họ đơn giản và hợp lý nhất. Người Nhật mải đến năm 1872 mới được quyền có họ, trước đó chỉ có các ngài đạiđanh (samourais) là có đặc quyền đó. Theo lịch sử Trung quốc, việc đặt họ tên bắt đầu từ năm 2852 trước Công nguyên, khi vua Phục Hi ra lệnh bắt dân chúng phải có một "gia tính" hay "tộc tính" để dễ phân biệt các hệ phái gia đình và định phép tắc hôn nhân. Ðến thế kỷ thứ V trước Công nguyên ở Trung quốc đã có hai loại "gia tính" được dùng: "tính" là họ gốc, do cha truyền con nối hoặc do vua ban, và dành cho nam giới; "thị" là họ cành, tức tên đặt khi mới sanh dùng cho cả nam lẫn nữ. Giới quý tộc vừa có Tính vừa có Thị, dân giả thì chỉ có tính. Từ đó phát xuất thành ngữ "bá" hoặc "bách tính". Con trai đàn ông xưng "thị" để phân biệt sang hèn, con gái đàn bà xưng "tính" để phân biệt hôn nhân.
Những họ Việt Nam thường gặp nhất là Nguyễn, Phạm, Phan, Trần, Lê, Vũ/Võ, Trương, Huỳnh/Hoàng. Nhiều người mang cùng một họ không có nghĩa là họ có cùng một gốc gác. Thời xưa và nhất là ở nhà quê, người ta phân biệt nhau bằng cách gọi "họ Nguyễn làng Tiên Ðiền", "họ Nguyễn làng Tây Sơn", v.v. Trong nhiều làng thôn, tất cả mọi người cùng mang một họ. Có người cắt nghĩa là vì vào thời lập quốc, người Việt chỉ có một tổ tiên chung là Lạc Long Quân và Âu Cơ. Ðến thời hiện đại, những người Việt này chứng minh mỗi dòng họ một tổ tiên riêng. Theo lịch sử tên họ người Việt của Nguyễn Vi Khanh
Từ xưa không rõ từ bao giờ thuỷ tổ "họ Hoàng làng Phong Lạc" đã định cư tại xóm Phong Đình thuộc làng Phong Lạc xã Nam Giang Thọ Xuân Thanh Hoá. Theo ngôn truyền rằng làng Phong Lạc lúa khoai rất tốt và là trung tâm hành chính của khu vực dưới chế độ phong kiến, có đình, chùa lớn... đầy đủ đặc trưng của một làng quê truyền thống vùng đồng bằng Việt Nam.
Dưới thời Pháp thuộc người Pháp ngăn sông Chu dâng nước tưới tiêu cho vùng hạ lưu sông Chu, làng Phong Lạc bị tách làm đôi bởi con sông đào thành 2 làng thường gọi là Bên trước và Bên sau chứ không gọi hai tên khác nhau. Bên trước là bờ nam sông đào nông giang có Phong Đình và Phong Cốc được phân bởi con lạch ở giữa, sau này được ngăn thành ao làng. Nhà ta ngày đó ở tại xóm Phong Cốc, sau cải cách ruộng đất năm 1954 cụ đời thứ 4 (Hoàng Văn Kép) mới chuyển ra đầu làng ven đường quốc lộ tạo dựng cơ nghiệp cho con cháu sau này. Trước khi cụ mất mới khẩu truyền lạị rằng cụ thuỷ tổ họ Hoàng làng Phong Lạc tên là Hoàng Lan không rõ vị trí mộ táng. Và nói rằng họ Hoàng nhà ta có chung nguồn gốc với họ Hoàng ở tại huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh Hoá.