Khởi Tổ dòng Thủy Tộc
Họ: Lê Công
Từ thế hệ trước các cụ tổ tiên nhà tôi, tên tuổi sinh giỗ và từ đâu thiên cư đến không thấy truyền tụng hay ghi chép lại.
Họ hàng nhà tôi lúc nào cũng một lòng thờ kính ông bà tổ tiên, nhất là ba ngày tết, các dịp lễ hội, hiếu hỷ trong gia đạo, mỗi khi hoạn nạn mọi người thường khấn nguyện tổ tiên ông bà, cầu trời phù hộ độ trì cho tai qua nạn khỏi
Sau chiến tranh, họ hàng nhà tôi cũng như các dòng họ khác trong làng nước chịu bao thăng trầm mất mát. Nay quê hương thanh bình nhiều gia đình tìm lại bà con thân thuộc, tổ chức cuộc sống cho tươm tất hơn về vật chất cũng như tinh thần.
Cùng với ý tưởng uống nước nhớ nguồn, nay tôi ghi chép lại sự tích những người mà tôi biết được trong dòng tộc họ hàng và gia đình để lập nên tập gia phả này ghi nhớ và lưu lại cho các thế hệ con cháu sau này. qua tìm hiểu tông tích với bà con họ hàng, nhất là qua các văn tự, khai sinh, giá thú hộ tịch làng nước được lưu giữ, gốc gác ông bà nhà tôi từ Làng. Xã …… Huyện ….. Tỉnh ….. thiên cư đến và nhận nơi đây làm quê hương. Cũng như Ông bà xưa biết đến đâu thì ghi đến đó, Tôi xin lấy môc từ cha mẹ đẻ tính lên để biết các cụ tổ nhà tôi bắt đầu tổ ngũ đại gần ta nhất.
click vào đây để xem cây phả hệ
Nội dung: là chỉ ghi chép từ đệ nhất thế:
Đệ nhất thế gọi là Thủy Tổ
Đệ nhị thế gọi là Cao Tổ
Đệ tam thế gọi là Tằng Tổ
Đệ tứ thế gọi là Thế Tổ
Đệ ngủ thế gọi là Hiển Tổ
Cha: Hiển phụ trở xuống gọi là Thế Tôn
Con phụ trở xuống gọi là Điệt Tử
Cháu phụ trở xuống gọi là Điệt Tôn
Chắt phụ trở xuống gọi là Tằng Tôn
Chiếu phụ trở xuống gọi là Huyền Tôn
Vậy hiệp các chi, phái, hệ tổ tôn các đấng gọi là sử chánh, còn các bà thân thích của bà gọi là Sử phụ. Mỗi đời đều có chép rõ Tên úy, phẩm Tước, vị thứ và năm tháng ngày giờ sanh tử. Tùy theo các đời kế tiếp để làm kỉ niệm công đức của tiền tổ có chép vào sử sách, đinh ninh từ rày về sau kế tục, chí như hơn trăm năm về trước thì không có lưu truyền phổ hệ chỉ thấy nghe hiện thời nên chép vào làm pho sử còn e nhiều sai lạc.
Vậy xin cầu nguyện vong linh ông bà xét soi mà dung thứ, nhan đề của tựa này thuộc thời Bảo Đại thứ 10 năm At Hợi tháng 9 ngày mồng một . Có trưởng phòng đích tôn 7 đời Trưởng phái chi 3 dòng nhì là Tùng Cửu Phẩm Văn giai Lê Văn Mẫn lục sử cẩn tựa .
Tằng Tôn: Lê Công Chính, thứ nam Điệt tôn Lê Công Thương hiệu đính, chỉnh sửa trình bày lại cho hoàn chỉnh theo Niên Lịch như sau:
1. Hoàn chỉnh bản thảo lần thứ nhất: (Kỷ niệm ngày giổ Cao Tổ: Lê Công Chánh – Nhị thập cửu nhật, Bính Ngọ Nguyệt, Nhâm Ngọ Niên) 29/05/2002 Am Lịch – 09/07/2002 Dương lịch.
2. Hiệu đính lần thứ nhất: (Kỷ niệm ngày giổ Cao Tổ: Lê Công Chánh – Nhị thập cửu nhật, Giáp Thân Nhật, Giáp Ngọ Nguyệt, Bĩnh Tuất Niên) 29/05/2006 Am Lịch – 24/06/2006 Dương lịch.
Ông Thủy Tổ tên: Lê Công Sách
Chính quán tỉnh Khánh Hòa, Tổng Ninh - Phước xã Thanh Minh, Ngài có công khai sản Điền Thổ dựng bộ thuộc làng Lạc Lợi, mộ phần của ông tại Gò Dầu, thuộc phía nam Cầu Bè, còn phổ quý và Mộc Chủ lưu về phái thứ phụng chủ, đã bị thất hỏa tiêu tan tại gia đình thứ phái ở Thanh Minh. Cho nên nay chỉ biết từ đời ông Thủy Tổ
Đã có khai sản Điền Thổ lập bộ tại làng Lạc lợi, từ đời Gia Long niên tuân theo đó để tên Ngài là Thủy tổ, còn như bà thủy tổ thì không hiểu tên tuổi quê hương và ngày húy kỵ, Ông Bà đã để lại hai trai:
Ông thứ nhất: Lê Công Chánh
Ông thứ hai: Lê Công Hòa