GIA

PHẢ

TỘC

NGUYỄN_HÀ
TRỮ_PHÚ
VANG_HUẾ
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
VIẾT VỀ GIA SỬ CỦA DÒNG HỌ
PHỔ HỆ HỌ NGUYỄN
Ấp Hà Trữ, tổng Sử Lộ, huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên
-------------------------------------

BÀI TỰA GIA PHỔ
Do hiển tổ ông cử NGUYỄN NGỌC DƯƠNG ghi chú họ tên, cháu trong họ là NGUYỄN NGỌC PHÁC tìm tòi thêm đời trước.
-------------------------------------

Ôi ! Con người có tổ có tiên như nước có nguồn, điều đó suốt từ cổ chi kim không bao giờ thay đổi vậy!..
Cụ hiển tổ NGUYỄN NGỌC DƯƠNG kính vâng lời dặn, thuật lại rõ ràng đời trước để cho con cháu đời sau ghi nhớ đến nay, sớm đọc tối xem, tai nghe mắt thấy.
Xưa thân phụ tôi là Nguyễn Viết Trọng khắc khoải gò chồn, băn khoăn chim Việt, thuở đầu gieo máu thắm, ban sớm nối cành liền, bèn bảo rằng: “ Bác cố ta là Nguyễn Viết Nhơn, Nguyễn Viết Nghĩa và ông cố ta Nguyễn Viết Luân vốn thực là anh em cùng một bọc sinh ra ở xã Đan Chế, Huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa, Thừa Tuyên Nghệ An, thân thế trải chừng sáu trăm năm…”.
Chợt đâu cuộc đời là vô thường trong một sớm, đến ngày nay thì ao vàng múa giáp, hàng dậu chia bâu, cha bắc con nam, nào biết chốn dâu bèo trôi nổi! Trời cao đất rộng , ai hay nơi chốn cội nguồn tìm về! Ở chốn an vui, đau đáu ngóng trông làng xóm, tuy xa xôi mà lòng gần mười hai tôn phái nơi quê nhà, trèo non vượt bể, nhớ bà con nơi cõi bắc nghìn trùng. Trời ư ? Đất ư ? Hay do trời xui khiến nên ư ?
May mắn thay được theo triều trước, vượt sóng vào châu Ô, mở cơ đồ ở xứ Thuận Hoá, đóng đô ở huyện Tư Vinh, phủ Triệu Phong, biên giới bị tách chia, về sau có than thở cũng không kịp nữa ! Nương thân chốn đất lành, dựng nhà nơi đồng rộng, cồn hoang, tắm mưa, gội gió, mua được một gò đất cát, chỗ chim làm tổ, thú làm hang. Mới đầu làm lưu dân khách hộ, đến năm Thịnh Đức thứ 6 (1558) may nhờ bề trên cho đặt làm thôn Hà Trữ, từ đó có đất để làm ăn.
Đến năm Cảnh Trị năm thứ 7, Kỷ Dậu (1669), có sổ hộ điền địa dân đinh riêng. Nghĩ lại việc cũ, cảm về nỗi gió thổi cây rung, buồn vì không biết bao giờ mới được về quê cũ, mắt mòn, ruột đứt, lòng xót thân gầy, cha về đâu ? mẹ cậy ai ! Luống giận núi sông cách trở mà khó bề tin tức đổi trao. Bấy giờ chiêu hồn cha mẹ, đắp nấm mồ gió, dựng tấm bia ba thước ở mộ Nguyễn Viết Cảm để tả nỗi niềm đau xót.
Thôn ấy (Hà Trữ) xem như là tổ ấm để thương yêu gần gũi mãi mãi. Ngài bảo bảo với ông nội tôi rằng: “Bây giờ tổ ấm đã thành, mà đất đai chật hẹp, khó có thể chứa hết mọi người, nên chia nhau đi tìm đất mới”. Bèn sai em là ông Việt Nguyễn Viết Đỗ, ông Thu Nguyễn Viết Thọ, mua đất (làng khác) đổi làm thôn Hà Hồng. Cháu là ông Mạnh Nguyễn Viết Bổn, ông Nguyên Nguyễn Viết Bò lập làm thôn Diêm Tụ. Tưởng nhớ chốn cũ, ông Xuân Nguyễn Viết Thanh, ông Hào Nguyễn Viết Minh xin đổi thành thôn Đan Chế (nhớ lại tên cũ ở Nghệ An). Tuy cơ sở khác nhau nhưng vẫn là anh em một nhà, thuế má, binh dịch quy về một mối, giúp đỡ nhau, cúng cầu an chẳng khác. ..
Đến năm Đinh Sửu (1697) ông nội làm lễ tạ ơn báo đền công đức tổ tông, đã có bản phó ý. Qua năm Nhâm Thìn Vĩnh Thịnh thứ 8 (1797) ông Nguyễn Ngọc Dương bấy giờ được 34 tuổi, làm lại một lễ tạ thống kê các tánh danh, lưu giữ rõ ràng, lập thành biểu đồ, mục lục tông đồ. Rồi năm Định Tỵ, cháu huyền tôn ở thôn Hà Hồng Nguyễn Viết Toàn nghĩ đến ơn đức của tổ tiên, xót thương vết tích nay bị chôn vùi không biết lên được cõi phúc thiên đường hay là chìm nơi bến mê bể khổ, họp các chi bỏ tiền của tổ chức lễ đàn cầu an cho các chi phái mãi mãi nối nghiệp tổ tiên, để lại cho con cháu.
Nhờ trước ông Đô Nguyễn Viết Trọng miệng dặn lòng trao và ông cử Phan Nguyễn Ngọc Dương đã nêu mẫu mực. Nếu may mắn một mai đường thông nam bắc, gặp gỡ lại bà con xa gần nơi quê cũ,thì đã có nguồn gốc rõ ràng.
Giấy trắng mực đen, truyền cho con cháu, kính trình bày đầy đủ như trên.

Ngày mồng 7 tháng 10 năm Kỷ Mão niên hiệu Bảo Đại thứ 12 (9-11-1937)
Đồng kính sửa tôn phổ
Tự tôn: NGUYỄN THÊ, NGUYỄN VĂN VẬN
Kính biên chép: NGUYỄN THÊ, NGUYỄN VĂN VẬN


----------------------------------------------------------------------------
NGUỒN GỐC NGUYỄN TỘC
(Trích Bài viết nhân lễ Khánh thành Nguyễn Tự Đường làng Nghĩa Lập vào ngày 14-9-1999 nhằm ngày 5-8 năm Kỷ mão

Ngài Thỉ Tổ tối cao đời của Nguyễn Tộc chúng tôi còn gọi là Hoàng Hoàng Thỉ - Tổ, Quê ở Tông Sơn, Thanh Hoá, nơi quê hương của chúa Nguyễn Hoàng, ngài cũng là thân thích của chúa Nguyễn Hoàng.
Trong thời kỳ đất nước Đại Việt xảy ra những cuộc chiến tranh Nam- Bắc triều, từ năm 1539 đến năm 1540 quân Nam Triều đánh về trấn lỵ Thanh Hoá, Nghệ An và năm 1546 hoàn toàn làm chủ vùng đất từ Thanh Hoá vào nam. Ngài Hoàng Hoàng Thỉ-Tổ Nguyễn Tộc cũng bắt đầu vào ở Nghệ An trong những năm đó, đầu tiên ở thôn Đan Hoạt – xã Đan Chế - Huyện Thạch Hà - phủ Hà Hoa - tỉnh Nghệ An. Đến năm 1545, sau khi Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc đầu độc giết chết, Trịnh Kiểm được vua nhà Lê đưa lên thay thế Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm tìm cách loại trừ phe cánh Nguyễn Kim nên đã giết chết người con đầu của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và định giết nốt người con thứ là Nguyễn Hoàng. Trong khi Nguyễn Hoàng lo lắng thì được trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm gợi ý: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân:” và nhờ chị ruột là vợ Trịnh Kiểm xin chồng cho em vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Năm 1558, Nguyễn Hoàng đem theo nhiều anh em, bà con người Tông Sơn - Thanh Hoá (quê của Nguyễn Hoàng) cùng quan lại cũ của cha là Nguyễn Kim, các nghĩa dũng Thanh Nghệ vào trấn thủ Thanh Hoá. Ngài Hoàng Hoàng Thỉ Tổ cũng vào thời điểm đó.
Đến đời sau, con cháu của ngài là Ngài Nguyễn Văn Cảm nằm trong bộ máy chính quyền của chúa Nguyễn có mặt tại dinh Thuận Quảng vào năm 1627 (Lúc bấy giờ thủ phủ chúa Nguyễn đang đóng ở xã Phước Yên, sau đó dời sang Kim Long chưa về Phú Xuân).
Ngài có hai anh em, anh ngài tên là Nguyễn Văn Dũng thuộc lực lượng quân đội chúa Nguyễn. Từ năm 1627 đến năm 1672 Trịnh Nguyễn đánh nhau bảy lần, trong một lần vượt sông Gianh tiến đánh chúa Trịnh chiếm vùng đất ở phía nam sông Lam (Nghệ An) ngài Nguyễn Văn Dũng đã tử trận ở đó (Nghệ An). Còn lại ngài Nguyễn Văn Cảm nằm trong đơn vị hành chính, thuộc Ty Tướng Thần giữ chức vụ Cai Bạ coi việc thu thuế và phát lương cho quân lính các dinh ở ngoài chính dinh.
Sau khi Trịnh Nguyễn ngừng chiến, lấy sông Gianh làm giới tuyến, chia cắt đàng Ngoài và đàng Trong. Bấy giờ chúa Nguyễn Phúc Tần một mặt củng cố việc phòng thủ đất Thuận Quảng, chống lại các cuộc tấn công của chúa Trịnh, mặt khác tìm cách mở rộng lãnh thổ xuống phía nam để tính kế lâu dài.
Năm 1666 Ngài Nguyễn Văn Cảm lúc đó có 3 người con trai theo chủ trương của chúa Nguyễn đã đi về phía đông nam Thuận Hoá khai canh lập ấp vùng đất Hà Trữ xã Vinh Thái ngày nay (xưa còn gọi là phường Hà Trữ). Đến năm 1674 hai ông bà Ngài tuổi già nên giao lại cho 3 người con tiếp tục khai canh để trở về quê cũ ở Nghệ An. Đời sau do núi sông cách trở con cháu có đắp 2 ngôi mộ lớn ở Hà Trữ, thiết lễ trai đàn chẩn tế, chiêu hồn nhập mộ, tưởng vọng Ngài, hàng năm lo tảo mộ, bảo tồn di tích, truyền lại cho con cháu mai sau, ngàn đời ghi nhớ công ơn trời bể của Ngài.
Ba người con của Ngài Cảm ở Hà Trữ là:
1. Nguyễn Viết Nhân (Vô tự)
2. Nguyễn Viết Nghĩa
3. Nguyễn Viết Luân
Ngài Nguyễn Viết Nghĩa sinh hạ 6 người con (5 ông, 1 bà) là Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Viết Minh, Nguyễn Viết Ninh, Nguyễn Viết Thọ, Nguyễn Viết Khương và một gái là Nguyễn Thị Đồng.
Ngài thứ nhất là Nguyễn Viết Thanh (tự là Lục) về khai canh làng Đan Chế (đặt cùng tên xã ở Nghệ An để lưu niệm quê cha đất tổ ngày xưa), ngài vô tự.
Ngài thứ hai là Nguyễn Viết Minh (tự là Vị) về Đan Chế tiếp tục sự nghiệp của ngài Thanh và sinh hạ nhiều đời sau, con cháu của Ngài trở thành họ Nguyễn ở Đan Chế, đứng đầu họ bốn Nguyễn ở bốn làng Hà Trữ, Diêm Tụ, Mộc Trụ , Nghĩa Lập.
Ngài thứ ba là Nguyễn Viết Minh ở Hà Trữ sinh hạ nhiều đời sau trở thành phái nhất ở Hà Trữ ngày nay, còn phái nhì ở Hà Trữ là con cháu của ngài Nguyễn Viết Luân.
Ngài thứ tư là Nguyễn Viết Thọ
Ngài thứ năm là Nguyễn Viết Khương
Lúc bấy giờ ngài Nguyễn Viết Minh truyền rằng: “Bây giờ tổ ấm đã thành, mà đất đai chật hẹp, khó có thể chứa hết mọi người, nên chia nhau đi tìm đất mới”, rồi sai hai em là ông Thọ và ông Khương lên Hà Hồng khai canh lập ấp, sau đó làng Hà Hồng lại chia làm hai làng là Hà Nhuận và Hà Tụ ngày nay là Diêm Tụ. Thời gian sau ngài Khương quay về ở Hà Trữ, đến đời cháu của ngài trở lên Hà Hồng, vì ở Hà Trữ chỉ được sắc phong hậu khai canh, lên Hà Hồng được sắc phong khai canh. Từ đó về sau con cháu ngài Khương sinh sôi nảy nở ở Hà Hông đông hơn con cháu ngài Thọ, vì con cháu ngài Thọ phân tán đi khắp nơi: Ở Thuận Hoá (Huế), Quảng Nam, Đà Nẵng…Năm 1953 có trận lụt lớn tại Thừa Thiên Huế, núi Bảng Lãng bị vỡ, ngập nước vào thành nội, con cháu của ngài ở Huế giữ phổ họ bị nước lũ cuốn trôi mất. Nên hiện nay lư hương, mồ mả phái ngài Thọ đều đưa về một mối tại tổ đường ngài Khương để phụng thờ, tảo mộ, huý kỵ hàng năm.
Được khẩu truyền chính xác, ngài Thọ có một người cháu ra cưới vợ tại làng Mộc Trụ, đem vào ở Hà Nhuận, sinh hạ một ngài con đặt tên là Nguyễn Văn Uẩn, không may ngài sớm khuất, mộ táng tại Hà Nhuận. Bà vợ của ngài bồng ngài Uẩn ra ở với ông ngoại tại Mộc Trụ, thời gian sau bà cải giá. Ngài Uẩn được ông bà ngoại nuôi, ông bà thấy cháu thông minh, nên cho ngài cắp sách đến trường thọ giáo đồ nho, sau đó cưới vợ cho ngài và ngài đã sinh hạ được hai trai, hai gái, ngài cùng các họ khai canh, khai khẩn làng Mộc Trụ, ngài từ trần mộ táng tại Mộc Trụ Hai con tai của ngài là Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Văn Lự.
Ngài Nguyễn Văn Thanh về ở xóm về ở xóm Nghị Chương cùng với ngài Lê,ngài Võ khai canh làng Nghĩa Lập. Xóm Nghị Chương nguyên là vùng đất của phường Nhì xã Hà Trung, trước kia hoang vu, ba ngài Thanh, Võ, Lê khai canh khai khẩn, chiêu dân lập ấp, sau lấy hai chữ Nghị bớt ngôn, Chương bớt tảo, thành hai chữ Nghĩa Lập, để đặt tên làng. Ngài sinh hạ một người con trai đặt tên là Nguyễn Văn Xâm,khi ngài Xâm lớn lên, thì ngài để cho ngài Xâm ở lại Nghĩa Lập còn ngài trở lại Mộc Trụ tiếp tục cơ nghiệp của ông cha, ngài qua đời mộ táng tại Mộc Trụ.
Ngài Nguyễn văn Xâm sanh hạ ra ngài Nguyễn Văn Huấn, khi ngài Huấn lớn lên thì ngài cũng để cho ngài Huấn ở lại Nghĩa Lập còn ngài trở lên Mộc Trụ ở với cha mẹ, ngài tạ thế và mộ táng tại Mộc Trụ, huý kỵ ngày 28/3 âm lịch.
Ngài Huấn ở Nghĩa Lập sinh hạ được 12 người con,6 ông, 6 bà, ngài qua đời mộ táng tại Nghĩa Lập, huý kỵ ngày 3/8 âm lịch. Ngài đã để lại cho các con một di sản vô cùng quý báu, con cháu ngài sanh hạ các đời sau đã trở thành họ đại tôn có năm phái như sau:
- Ngài thứ nhất: Nguyễn Văn Cơ đứng đầu phái nhất
- Ngài thứ nhì: Nguyễn Văn Cậy đứng đầu phái nhì
- Ngài thứ ba: Nguyễn Văn Mụt đứng đầu phái ba
- Ngài thứ tư: Nguyễn Văn Chồi (vô tự)
- Ngài thứ năm: Nguyễn Văn Mọt đứng đầu phái tư
- Ngài thứ sáu: Nguyễn Văn Thêm đứng đầu phái năm
Nói về ngài Nguyễn Văn Lự, sau khi ngài anh của ngài là Nguyễn Văn Thanh về ở xóm Nghị Chương ngài ở với cha mẹ tại Mộc Trụ, tiếp tục cơ nghiệp của cha mẹ, ngài sinh hạ được hai con. Ngài con đầu lên Dương hoà sinh hạ nhiều con cháu trở thành phái nhất họ Nguyễn “Mộc Trụ” ở tại đó, nay là huyện Nam Hoà. Người em ở lại với cha mẹ sinh hạ nhiều con cháu và trở thành phái nhì ở Mộc Trụ.
Sau khi hoà bình lập lại, con cháu mới có điều kiện đi tìm nguồn gốc tổ tông. Khi tìm được vừa mừng vừa tủi.
Tủi là ra Nghệ An quê cũ của ngài Hoàng Hoàng Thỉ Tổ, thì hỡi ôi ! dòng họ của ngài ở ngoài đó không còn bao nhiêu, thậm chí mồ mả hai ông bà ngài ở ngoài đó cũng không còn. Nguyên do là một phần bởi chiến tranh xảy ra liên miên, phần do nạn đói hoành hành kéo dài ở miền Bắc nói chung, Thanh Nghệ nói riêng đã gây nên chết chóc tang thương, phần do chính sách di dân mở rộng bờ cõi về phương nam của nhà Nguyễn nên dòng họ Nguyễn Tộc ở Thanh Nghệ ít còn ai. Có một số đi vào Quảng Nam chưa liên lạc được.
Mừng là dòng máu của ngài trải qua ba trăm năm khai phá vùng đất Hà Trữ, Đan Chế, Mộc Trụ, Nghĩa Lập nhưng do chiến tranh nên đã ách tắc từ lâu, không liên lạc với nhau được, mãi đến nay hệ thống tuần hoàn mới khai thông được, máu lại chảy về tim, nối lại dòng máu của ngài ở vùng đất đông nam Thuận Hoá sẽ trở thành Đại tôn gồm có con cháu ở năm làng, càng thêm rạng rỡ nòi giống Nguyễn tộc, xứng đáng Hoàng Triều sắc phong “Dực bảo Trung hưng Linh phò Tôn thần”.
Bước đầu tiên đi tìm nguồn gốc tổ tông, thời gian ngắn ngủi, bút tích hiếm hoi. Song hết sức cố gắng với tầm hiểu biết thiển cận, xin mạo muội viết lên nguồn gốc cao đời Nguyễn tộc, chắc chắn không sao tránh khỏi sai sót, mong các bậc cao minh cho ý kiến bổ sung để làm sáng tỏ nguồn gốc Nguyễn tộc.
Nguồn gốc Nguyễn Tộc chúng ta
Từ Thanh, Nghệ Tĩnh vượt non đi vào
Đầu tiên Thỉ Tổ một ngài
Qua nhiều thế hệ mỗi đời một sây
Ngài một, sinh con cháu bầy
Đông con nhiều cháu dựng xây nhiều làng
Nhiều làng cũng là một họ
Mười lăm đời, cùng một tổ sinh ra
Bây giờ con cháu đi xa
Khắp miền đất nước, đi ra nước ngoài
Nhớ ơn tiên tổ cao dày
Nặng công sinh dưỡng có ngày hôm nay
Ăn trái nhớ đấng trồng cây
Uống nước nên nhớ nguồn nầy phát sinh
Làm cho tôn tộc quang vinh
Tự đường tái thiết, mộ phần đắp xây
Bàn thờ hương khói đủ đầy
Tảo mộ huý kỵ vui vầy chăm lo
Phước đức ngài để dành cho
Ơn sâu nghĩa nặng chăm lo đáp đền
Đời sau con cháu chớ quên
Đắp xây Nguyễn Tộc vững bền muôn năm


Gia Phả NGUYỄN_HÀ TRỮ_PHÚ VANG_HUẾ
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc NGUYỄN_HÀ TRỮ_PHÚ VANG_HUẾ.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc NGUYỄN_HÀ TRỮ_PHÚ VANG_HUẾ
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.