Gia phả Tộc Họ Lê
Chi phái Lê Công
Việc lập gia phả chi phái họ Lê Công cho đến nay gặp nhiều khó khăn chưa chép được. Tôi xin được khởi đầu việc dựng lại Tộc phả dòng họ nhà ta. mong mọi người trong gia tộc hoan hỷ
“ Chim có tổ , Người có tông “
“ Cây có cội , nước có nguồn “
Là ý tưởng của tiền nhân ta từ xưa đến nay, nó có một ý nghĩa sâu sắc, nghiêm trang, có ảnh hưởng lớn lao trong mọi tập quán, truyền thống của Người Việt Nam.
“Uống nước nhớ nguồn “
Với những suy nghĩ như trên mà tôi cố gắng truy tìm tộc họ, gặp không ít khó khăn, nên tôi bắt chước người xưa, biết được bao nhiêu xin chép lại đây bấy nhiêu để dựng nên gia phả dòng họ nhà ta. Con cháu sau này đời đời cẩn cẩn tiếp tục ghi chép thêm cho đẩy đủ tỉ mỉ, để mọi người biết nguồn gốc cội rể tổ tiên Ông bà mình mà tìm đến với nhau trong những ngày giỗ, hiếu kỵ, cho dù ở mãi đâu cũng vậy.
Gia phổ : Gia sử là một pho sử nhà cũng như trong nước thì có sử ký.
Sử là tóm tắt ba điều lớn của nhà ta vậy, để biên chép tên họ nhà ta thế hệ và năm tháng ngày giờ của sự chết sống, phần mộ tọa lạc phương hướng của ông bà từ khi sáng dựng cho đến con cháu kế theo. Cho đến bây giờ và hàng vạn thế sau xem biết từ gốc đến ngọn, ấy là bộ gia sử để nhìn nhận về sau.
Than ôi! Bộ gia sử nhà ta đã khuyết điểm đến nay mới biên chép lại là chỉ tự các tên huy của các vị tiền nhân và ngày tháng chính ky mà thôi, chí như trước kia đã bao đời tổ tông, phái hệ không có để lại thơ hay sử gì, nên không nhất định phương hướng mồ mã của ông bà nào đến nay dầu cho con cháu, nghe lời truyền lại cũng được rõ chắc chắn chỉ biết từ đời nào thì lập gia sử từ đời ấy mà thôi.
Vậy gia phổ này nhan đề là:
Lê Tộc Lịch Thế Gia Sử
Luân Lý Phổ Hệ Hội Lục
Phần chính phả
Nguồn gốc
Khởi tổ dòng thủy tộc
Họ: Lê Công
Từ thế hệ trước các cụ tổ tiên nhà tôi, tên tuổi sinh giỗ và từ đâu thiên cư đến không thấy truyền tụng hay ghi chép lại.
Họ hàng nhà tôi lúc nào cũng một lòng thờ kính ông bà tổ tiên, nhất là ba ngày tết, các dịp lễ hội, hiếu hỷ trong gia đạo, mỗi khi hoạn nạn mọi người thường khấn nguyện tổ tiên ông bà, cầu trời phù hộ độ trì cho tai qua nạn khỏi
Sau chiến tranh, họ hàng nhà tôi cũng như các dòng họ khác trong làng nước chịu bao thăng trầm mất mát. Nay quê hương thanh bình nhiều gia đình tìm lại bà con thân thuộc, tổ chức cuộc sống cho tươm tất hơn về vật chất cũng như tinh thần.
Cùng với ý tưởng uống nước nhớ nguồn, nay tôi ghi chép lại sự tích những người mà tôi biết được trong dòng tộc họ hàng và gia đình để lập nên tập gia phả này ghi nhớ và lưu lại cho các thế hệ con cháu sau này. qua tìm hiểu tông tích với bà con họ hàng, nhất là qua các văn tự, khai sinh, giá thú hộ tịch làng nước được lưu giữ, gốc gác ông bà nhà tôi từ Làng. Xã …… Huyện ….. Tỉnh ….. thiên cư đến và nhận nơi đây làm quê hương. Cũng như Ông bà xưa biết đến đâu thì ghi đến đó, Tôi xin lấy môc từ cha mẹ đẻ tính lên để biết các cụ tổ nhà tôi bắt đầu tổ ngũ đại gần ta nhất.
Nội dung: là chỉ ghi chép từ đệ nhất thế:
Đệ nhất thế gọi là Thủy Tổ
Đệ nhị thế gọi là Cao Tổ
Đệ tam thế gọi là Tằng Tổ
Đệ tứ thế gọi là Thế Tổ
Đệ ngủ thế gọi là Hiển Tổ
Cha: Hiển phụ trở xuống gọi là Thế Tôn
Con phụ trở xuống gọi là Điệt Tử
Cháu phụ trở xuống gọi là Điệt Tôn
Chắt phụ trở xuống gọi là Tằng Tôn
Chiếu phụ trở xuống gọi là Huyền Tôn
Vậy hiệp các chi, phái, hệ tổ tôn các đấng gọi là sử chánh, còn các bà thân thích của bà gọi là Sử phụ. Mỗi đời đều có chép rõ Tên úy, phẩm Tước, vị thứ và năm tháng ngày giờ sanh tử. Tùy theo các đời kế tiếp để làm kỉ niệm công đức của tiền tổ có chép vào sử sách, đinh ninh từ rày về sau kế tục, chí như hơn trăm năm về trước thì không có lưu truyền phổ hệ chỉ thấy nghe hiện thời nên chép vào làm pho sử còn e nhiều sai lạc.
Vậy xin cầu nguyện vong linh ông bà xét soi mà dung thứ, nhan đề của tựa này thuộc thời Bảo Đại thứ 10 năm At Hợi tháng 9 ngày mồng một . Có trưởng phòng đích tôn 7 đời Trưởng phái chi 3 dòng nhì là Tùng Cửu Phẩm Văn giai Lê Văn Mẫn lục sử cẩn tựa .
Bộ Gia sử Đời Thứ nhất
Ông Thủy Tổ tên: Lê Công Sách
Chính quán tỉnh Khánh Hòa, Tổng Ninh - Phước xã Thanh Minh, Ngài có công khai sản Điền Thổ dựng bộ thuộc làng Lạc Lợi, mộ phần của ông tại Gò Dầu, thuộc phía nam Cầu Bè, còn phổ quý và Mộc Chủ lưu về phái thứ phụng chủ, đã bị thất hỏa tiêu tan tại gia đình thứ phái ở Thanh Minh. Cho nên nay chỉ biết từ đời ông Thủy Tổ
Đã có khai sản Điền Thổ lập bộ tại làng Lạc lợi, từ đời Gia Long niên tuân theo đó để tên Ngài là Thủy tổ, còn như bà thủy tổ thì không hiểu tên tuổi quê hương và ngày húy kỵ, Ông Bà đã để lại hai trai:
Ông thứ nhất: Lê Công Chánh
Ông thứ hai: Lê Công Hòa
Gọi là đời thứ nhì của Pho sử nhà
Bộ Gia sử Đời Thứ 2
Ông Cao Tổ thứ nhất Lê Công Chánh chánh ky ngày 29 tháng 05
Bà cao tổ: Chánh kỵ ngày
Ông Bà đã hạ sanh được bốn (04) trai , một (01) gái
Ông thứ nhất : Lê Công Khoa
Ông thứ nhì : Lê Công Cử
Ông thứ ba : Lê Công Thi
Ông thứ tư : Lê Công Thơ
Ông Cao tổ thứ nhất chính quán Thanh Minh, phần mộ ở Gò Dầu thuộc phía nam Cầu Bè làng Lạc Lợi
Ông Cao tổ thứ hai Lê Công Hòa thứ hai, phái hai Quê quán Tổng Ninh Phước, Xã Thanh Minh, Phần mộ tại Thanh Minh chánh kỵ ngày:
Bà Cao tổ thứ phái:
Chánh cúng ngày:
Ông Bà sanh hai trai:
Ông thứ nhất: Lê Công Dư
Ông thứ nhì: Lê Công Điệt
Bộ Gia sử Đời Thứ 3
Ông Tằng Tổ thứ nhất: Lê Công Khoa
Chánh cúng ngày:
Thuộc chi nhất, phái nhất. Nguyên quán xã Thanh Minh Lúc còn bé theo chị có chồng về Làng Đại An, nay là Đại điền Trung, gã về nhà Họ Lương ăn ở đến lúc thành nhân được chị cưới vợ và lập gia cư tại Đại Điền Trung, phần mộ tại Gò Tre
Bà đệ nhất chánh thất tằng tổ:
Chánh cúng ngày:
Ông bà Hạ sanh 1 trai: Lê Công Sĩ, rồi bà chánh thất bị xuất lấy chồng tại Phú Lộc. Kế tục Ông cưới bà Thứ thất:
Chánh cúng ngày:
Hạ sanh được 1 gái: Lê Thị Huyền. Mộ phần tại Gò tre, Đại Điền Trung
Ông Tằng Tổ thứ hai: Lê Công Cử
Chánh cúng ngày:
Lập gia thất và nhập tịch theo quê Bà: Làng Võ Cạnh
Chánh thất tằng tổ:
Chánh cúng ngày:
Ông biên phổ hệ riêng, phần mộ Ông tại Làng Võ Cạnh
Ông tằng tổ thứ ba: Lê Công Thi
Chánh cúng ngày: 20/09
Ngài thuộc phái nhất, chi ba nguyên quán làng Thanh Minh, sau theo quê Bà và nhập tịch về Xuân An (Xuân Phong bấy giờ). Mộ phần tại Y xã tư thổ, tọa Hướng Thìn, nay thuộc đất Lê Công Đại thổ viên, Đông giáp: Lê Văn Mẫn, Tây giáp mộ địa bản tộc, Nam giáp Lê Đại thổ viê, Bắc giáp Lê Bằng thổ viên.
Bà Tằng tổ chánh thất: Nguyễn Thị Thích
Chánh cúng ngày: 08/09
Mộ phần tại thổ viên Lê Bằng, tọa hướng Thì, Nam Giáp đường Hương ích.
Ông Bà hạ sanh ba trai:
Đệ nhất hàng: Lê Công Kiên - Gọi là Ông Hai
Đệ nhị hàng: Lê Công Trừ - Gọi là Ông Ba
Đệ tam hàng: Lê Công Mãn - Gọi là Ông Tư
Sử phụ
Ông ngoại Tổ: Nguyễn Quang Tháp
Chánh kỵ ngày 15 tháng 11
Bà ngoại tổ: Bùi Thị Tề
Chánh kỵ ngày 10 tháng 05
Tổ trước kia là Ông Bà Nguyễn Quang Voi
Sanh hạ 1 trai, 1 gái:
Trai: Nguyễn Quang Lưu
Gái: Nguyễn Thị Biện
Ông Bà Nguyễn Quang Voi, táng song hồn trong mã vôi lớn của bổn tộc, hiện mộ địa của bổn tộc ngày nay.
Con trai ông là Nguyễn Quang Lưu thì mộ phần nằm trong của Ông Lê Chung phái nam giáp suối, cũng mã vôi.
Ông bà hạ sanh được 3 trai, 1 gái
Ông thứ nhất: Nguyễn Quang Hoa
Ông thứ ha: Nguyễn Quang Cảnh
Ông thứ ba: Nguyễn Quang Tháp
1 Gái: Nguyễn Thị Bình
Ông thứ nhất: Nguyễn Quang Hoa mộ phần mã đất ở phía đông của Mã vôi Ông Bà Nguyễn Quang Voi, tai canh hướng giáp. Không có con
Ông thứ hai: Nguyễn Quang Cảnh, mã vôi tạ canh hướng giáp, thuộc phần đất Lê Đại mã vôi Ông tạc hình yên ngựa, phía đông giáp vườn Lê Văn Mẫn. Không có con.
Ông thứ ba: Nguyễn Quang Tháp thì mộ phần không biết chổ nào, nhưng Ông bà hạ sanh được 2 gái:
Chị: Nguyễn Thị Thân
Em: Nguyễn Thị Thích
Bà Nguyễn Thị Thân được Ông bác thứ hai: Nguyễn Quang Cảnh nuôi nên được thừa hưởng phần đất của Ông là 2 mẫu thổ châu.
Bà Nguyễn Thị Thích thì được Ông bác thứ nhất là: Nguyễn Quang Hoa nhận làm con nuôi nên cũng được thừa hưởng phần đất của Ông là 2 mẫu thổ châu cộng 4 mẫu ở chung một chổ. Đông cận đất của Đặng Xuân, Tây cận đất của Trần Mỳ và Mộ địa của làng, Nam cận đất củaNguyễn Thị Tri, Bắc cận công điền.
Đến khi hai bà lớn khôn gầy dựng gia thất, thì Bà chị Nguyễn Thị Thân về nhà Họ Nguyễn …..
Còn Bà Em Nguyễn Thị Thích thì về nhà Ông đệ tam Tằng tổ: Lê Công Thi
Hai Họ Lê và Nguyễn gia cư cũng kế cận, về sau con cháu của cả hai họ cùng hưởng phước ẩm của hai Bà ấy, nào là lập gia cư, nào là lập mộ địa chôn cất trên 4 mẫu đất ấy.
Đệ tứ hàng tằng tổ: Lê Công Thơ
Tổ thuộc phái nhất, chi bốn. Chánh quán Xã Thanh Minh làng Lạc Lợi, phần mộ cũng ở Gò Dầu phía Nam cầu Bè, chánh cúng ngày 28/01.
Chánh thất tằng tổ: Lê Thị Phú
Chánh cúng ngày 03/07, Bà là ngưới ấp Đông.
Ông bà hạ sanh được hai trai:
Ông thứ nhất: Lê Công Hay
Ông thứ hai: Lê Công Chữ
Đệ nhất tằng tổ: Lê Công Dư
Chánh cúng ngày:
Tổ thuộc đời thứ ba, phái thứ hai chi nhất. Là con cả của Ông đệ nhị hàng cao tổ: Lê Công Hòa, Ông cư trú tại Xã Thanh Minh.
Bà chánh thất tằng tổ:
Chánh cúng ngày:
Ông Bà hạ sanh 1 trai, 4 Gái:
Ông thứ nhất: Lê Công Khanh còn gọi là Ông Năm
Bà thứ nhất: Lê Thị Sâm còn gọi là Bà hai
Bà thứ hai: Lê Thị Hồ còn gọi là Bà ba
Bà thứ ba: Lê Thị Hớn còn gọi là Bà sáu
Bà thứ tư: Lê Thị Hài còn gọi là Bà tám
Đệ nhị tằng tổ: Lê Công Điệt
Chánh cúng ngày:
Tổ thuộc đời thứ ba, phái thứ hai chi hai. Vì ông là con thứ hai của Ông đệ nhị hàng cao tổ: Lê Công Hòa, Trú quán ở Xã Thanh Minh, phần mộ cũng chôn ở Xã ấy.
Bà chánh thất tằng tổ:
Chánh cúng ngày:
Ông Bà hạ sanh 3 trai:
Ông thứ nhất: Lê Công Nhu
Ông thứ hai: Lê Công Dõng
Ông thứ ba: Lê Công Oai
Bộ Gia sử Đời Thứ 4
Đệ nhất hàng thế tổ: Lê Công Sĩ
Chánh cúng ngày: 26/10
Tổ đời thứ tư, phái lớn chi nhất, giòng trưởng. Chánh quán tại Đại Điền Trung, con lớn của Ông Tằng tổ: Lê Công Khoa, mộ phần tại Gò tre bổn xã.
Bà chánh thất thế tổ: (không rõ họ) Thị Quế
Chánh cúng ngày 16/01
Ông Bà hạ sanh 4 trai, 2 gái:
Ông thứ nhất: Lê Công Ký Con gọi là Ông hai
Ông thứ hai: Lê Công Hạp Con gọi là Ông ba
Ông thứ ba: Lê Công Bằng Con gọi là Ông năm
Ông thứ tư: Lê Công Lịch Con gọi là Ông sáu
Bà thứ nhất: Lê Thị Tức còn gọi là Bà tư
Bà thứ hai: Lê Thị Bèn còn gọi là Bà bảy
Đệ nhất hàng thế tổ: Lê Công Kiên
Chánh cúng ngày 10 tháng 02
Tổ đời thứ tư thuộc phái nhất chi ba dòng nhất
Trú quán tại Làng Xuân Phong, tùng quân theo Đại Tướng Nguyễn Tri Phương trấn Đồn Gia Định, được thưởng thọ chánh thất phẩm: Đội trưởng
Bà chánh thất thế tổ: Nguyễn Thị Dung
Chánh cúng ngày 07/12
Ông Bà chung mộ ở nền thổ mộ bổn tộc, Tây giáp đất Lê Công Trứ
Ông Bà hạ sanh được 1 trai, 5 Gái:
Ông thứ nhất: Lê Công Kỷ Con gọi là Ông ba (Vô tự)
Bà thứ nhất: Lê Thị Bích còn gọi là Bà hai Chánh cúng 18/12
Bà thứ hai: Lê Thị Lang còn gọi là Bà tư Chánh cúng 30/09
Bà thứ ba: Lê Thị Mau còn gọi là Bà tám Chánh cúng 18/12
Bà thứ tư: Lê Thị Hớn còn gọi là Bà bảy Chánh cúng
Bà thứ năm: Lê Thị Đền còn gọi là Bà chín Chánh cúng
Đệ nhị hàng thế tổ: Lê Công Trừ
Chánh cúng ngày 16 tháng 01
Tổ đời thứ tư thuộc phái nhất chi ba dòng hai, con thứ của Tằng tổ Lê Công Thi
Bình thân Ngài được Quan Thánh đế quân độ mạng, hãy còn lưu truyền lại đời sau, mộ phần chôn bên Bắc mộ tổ cũng tọa cung khôn hướng cấn.
Bà chánh thất thế tổ: Nguyễn Thị Hạt
Chánh cúng ngày 19/11
Phần mộ Bà chôn bên nam mộ của tổ tọa, tức hướng Thìn.
Ông Bà hạ sanh được 3 trai, 4 Gái :
Ông thứ nhất: Lê Công Tài Con gọi là Ông tư
Ông thứ hai: Lê Công Lực Con gọi là Ông sáu
Ông thứ ba: Lê Công Thái Con gọi là Ông bảy
Bà thứ nhất: Lê Thị Sành còn gọi là Bà hai Chánh cúng 18/08
Bà thứ hai: Lê Thị Đào còn gọi là Bà ba
Bà thứ ba: Lê Thị Tòng còn gọi là Bà tám
Bà thứ tư: Lê Thị Quy còn gọi là Bà năm Chánh cúng 11/08
Bà có chồng về Làng Đắc Lộc là chánh tổng Nguyễn Nghĩa, không có con sau trở về Họ
Đệ tam hàng thế tổ: Lê Công Mãn
Tổ đời thứ tư, phái nhất, chi ba, dòng 3.
Lúc nhỏ khó nuôi, chánh cúng ngày 1/05.
Hình dạng giống con gái, xỏ lổ tai, đeo bông, không có râu, có sức khỏe, chuyên về nghề nông, có mua được 4 mẫu ruộng tư, phần mộ Ông chôn theo mộ của Bà thế tổ, về phía Tây, tọa Ngọ hướng Càn
Chánh thất thế tổ: Nguyễn Thị Tuyết
Chánh cúng ngày 18 / 08
Bà là con gái của Bà Nguyễn Thị Lặng, người làng Xuân Phong, phần mộ bà chôn kề phần mộ Ông ở phía đông, tọa can, hướng Tốn ở trong thổ viên của Lê Bằng.
Ông Bà hạ sanh được 1 trai, 2 Gái:
Ông thứ nhất: Lê Công Hoán Con gọi là Ông chín
Bà thứ nhất: Lê Thị Màn còn gọi là Bà ba
Bà thứ hai: Lê Thị Hoa còn gọi là Bà bảy
Bà thứ thất thế tổ: (Không rõ Họ) Thị Tề
Bà Nguyên quán Ở Phú Vinh, chánh cúng ngày 09/08, bà có đời chồng trước sanh đặng 1 gái là Bùi Thị Tiệng gã về nhà bổn tôn: Lê Công Thái
Bà về nhà thế tổ, sanh hạ 1 trai, 3 gái:
Ông thứ nhất: Lê Công Bằng kế thứ nên con gọi là Ông mười
Bà thứ nhất: Lê Thị Chúng còn gọi là Bà ba
chánh cúng: 24/01 Lấy chồng Làng Phú Vinh là Ông Bùi Chiếu
Bà thứ hai: Lê Thị Bạn còn gọi là Bà tư Thứ mười hai
Bà thứ ba: Lê Thị Hữu còn gọi là Bà năm Thứ mười ba
Đệ nhất hàng thế tổ: Lê Công Hay
Chánh cúng ngày 15 tháng 05
Tổ đời thứ tư thuộc phái nhất chi bốn dòng nhất, nhập tịch về Làng Đắc Lộc, phần mộ an tọa tại xã
Là con của tằng tổ Lê Công Thơ.
Bà chánh thất thế tổ: Lê Thị Quyên
Chánh cúng ngày 11/11
Bà là người Làng Đắc Lộc, phần mộ an tọa tại xã
Ông Bà hạ sanh được 2 trai, 5 Gái:
Ông thứ nhất: Lê Công Khỏe Con gọi là Ông bảy chánh cúng: 16/10
Ông thứ hai: Lê Công Mân Con gọi là Ông chín chánh cúng: 05/12
Bà thứ nhất: Lê Thị Thảo còn gọi là Bà hai Chánh cúng 11/11
Bà thứ hai: Lê Thị Ngọt còn gọi là Bà tư Chánh cúng 08/12
Bà thứ ba: Lê Thị Ngào còn gọi là Bà năm Chánh cúng 26/04
Bà thứ tư: Lê Thị Liền còn gọi là Bà tám Chánh cúng 30/07
Bà thứ năm: Lê Thị Út còn gọi là Bà mười Chánh cúng 03/03
Đệ nhị hàng thế tổ: Lê Công Chữ
Chánh cúng ngày 20 tháng 03
Click vào đây xem tiếp